KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Để giữ gìn sự trang nghiêm, thuần túy tạo nguồn tư liệu; nơi đây chỉ đăng Kinh Văn mà không thảo luận.

Điều hành viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7811
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 05/01/18 04:10

Nầy Hư Không Tạng! Nếu Bồ Tát thành tựu bốn pháp thì hành nhẩn Ba la mật bình Đẳng với hư không:
Nếu Bồ Tát bị người mắng chửi chẳng báo lại vì biết rõ vô ngã, bị người đánh chẳng báo lại vì biết rõ không nhơn,bị ngươì giận ghét chẳng báo lại vì lìa thấy có, bị người oán thù chẳng báo lại vì bỏ lìa hai kiến chấp. Đây gọi là Bồ Tát thành tựu bốn pháp hành Nhẫn Ba la mật bình đẳng với hư không.
Nầy Hư Không Tạng ! Nếu Bồ Tát thành tự tám pháp thì cò thể tịnh Nhẫn Ba la mật:
Bồ Tát khéo tịnh nội thuần chí mà tu Nhẫn Ba la mật. Bồ Tát khéo tịnh ngoại chẳng hy vọng mà tu Nhẫn Ba la mật . Bồ Tát nơi thượng trung hạ cứu cánh vô ngại tu Nhẫn Ba la mật . Bồ Tát tùy thuận pháp tánh không bị nhiễm trước mà tu Nhẫn Ba la mật . Bồ Tát lìa tất cả kiến chấp đồng hư không mà tu Nhẫn Ba la mật . Bồ Tát dứt tất cả giác quán đồng vô tướng mà tu Nhẫn Ba la mật . Bồ Tát bỏ tất cả nguyện đồng vô nguyện mà tu Nhẫn Ba la mật . Bồ Tát trừ tất cả các hành đồng vô hành mà tu Nhẫn Ba la mật . Đây gọi là Đại Bồ Tát thành tựu tám pháp có thể tịnh Nhẫn Ba la mật vậy.
Nầy Hư Không Tạng ! Như hư không không có ghét không có thương, Bồ Tát tu Nhẫn Ba la mật không có ghét thương cũng như vậy . Như hư không không có biến đổi, Bồ Tát tâm cứu cánh không biến đổi tu Nhẫn Ba la mật cũng như vậy . Như hư không không có kém tổn, Bồ Tát tu Nhẫn Ba la mật tâm cứu cánh không có kém tổn cũng như vậy . Như hư không không có sanh không có khởi, Bồ Tát tu Nhẫn Ba la mật tâm không có sanh khởi cũng như vậy . Như hư không không có hí luận, Bồ Tát tu Nhẫn Ba la mật tâm không có hí luận cũng như vậy . Như hư không không có ân báo, Bồ Tát tu Nhẫn Ba la mật với tất cả chúng sanh chẳng mong quả báo cũng như vậy . Như hư không vô lậu vô hệ phược, Bồ Tát tu Nhẫn Ba la mật lìa tất cả lậu chẳng hệ phược tam giới cũng như vậy.
Nầy Hư Không Tạng ! Bồ Tát lúc hành Nhẫn Ba la mật chẳng có quan niệm họ đến mắng tôi tôi có thể nhịn chịu, cũng chẳng thấy người mắng kẻ bị mắng và cách mắng, chẳng quan niệm ấy, chẳng hí luận rằng họ rỗng không tôi cũng rỗng không, cũng chẳng suy nghĩ rằng âm thanh như vang do gì mà phát ra, cũng chẳng quan niệm rằng tôi phải còn họ thì quấy, cũng chẳng quan niệm rằng họ vô thường tôi cũng vô thường, cũng chẳng nghĩ rằng họ ngu tôi trí, cũng chẳng tưởng rằng chúng ta nên hành nhẫn nhục.
Nầy Hư Không Tạng ! Như có người vì cầu nhánh cây sa la nên cầm búa bén vào rừng sa la đến một cây sa la lớn chặt lấy một nhánh, các nhánh sa la khác chẳng nghĩ rằng họ chặt nhánh ấy mà chẳng chặt tôi, nhánh bị chặt cũng chẳng nghĩ rằng tôi đã bị chặt các nhánh khác không bị chặt, tất cả nhánh bị chặt cùng chẳng bị chặt đếu chẳng có quan niệm ghét thương . Lúc hành Nhẫn Ba la mật, Đại Bồ Tát quán biết tất cả pháp tánh như cỏ cây tường vách ngói đá, mà thị thân thể bị chặt chém đứt rời để giáo hóa chúng sanh, không có giận ghét, không có thương yêu, hoàn toàn không có nhớ nghĩ phân biệt . Đây là Bồ Tát hành Nhẫn Ba la mật bình đẳng với hư không.
Nầy Hư Không Tạng ! Nếu Bồ Tát thành tựu bốn pháp thì hành Tinh tiến Ba la mật bình đẳng với hư không :
Bồ Tát siêng cầu tất cả pháp lành mà biết tất cả pháp tự tánh chẳng thành tựu, Bồ Tát Đem tất cả món vật cần dùng tối thắng cung cấp cúng dường chư Phật Thế Tôn nhưng chẳng thấy có Như Lai và các món cúng dường, Bồ Tát khéo có thể thọ trì diệu pháp được nói của tất cả chư Phật cũng chẳng thấy có văn tự để thọ trì, Bồ Tát có thể thành tựu vô lượng chúng sanh thấy chúng sanh tánh tức là Niết bàn rốt ráo không có sanh không có khởi . Đây là bốn pháp Bồ Tát thành tựu hành Tiến Ba la mật bình đẳng với hư không.
Nầy Hư Không Tạng ! Nếu Bồ Tát thành tựu tám pháp thì có thể tịnh Tinh Tiến Ba la mật:
Bồ Tát vì tịnh thân mà phát cần tinh tiến biết thân như bóng trong gương chẳng tham trước nơi thân . Bồ Tát vì tịnh khẩu nên phát cần tinh tiến biết tiếng từ miệng thốt ra như vang chẳng tham trước nơi khẩu. Bồ Tát vì tịnh ý nên phát hành tinh tiến biết ý như ảo huyễn không có phân biệt chẳng tham trước nơi ý . Bồ Tát vì đầy Đủ các Ba la mật nên phát cần tinh tiến biết các pháp không có tự tánh bị nhiếp thuộc nhân duyên chẳng nên hí luận. Bồ Tát vì được trợ Bồ Đề phần pháp nên phát cần tinh tiến để giác liễu tất cả pháp chơn thiệt tánh không bị chướng ngại vướng mắc . Bồ Tát vì tịnh Phật quốc độ nên phát cần tinh tiến để biết tất cả quốc độ như hư không vì vậy mà chẳng ỷ thị chỗ được tịnh . Bồ Tát vì được tất cả Đà la ni nên phát cần tinh tiến biết tất cả pháp không có niệm chẳng phải không có niệm do đây mà không có quan niệm hai tướng . Bồ Tát vì thành tựu tất cả Phật pháp nên phát cần tinh tiến để biết tất cả pháp nhập nhứt tướng bình ffẳng nhưng chẳng hoại hư pháp tánh . Đây là tám pháp Bồ Tát thành tựu thì có thể tịnh Tinh tiến Ba la mật.
Nầy Hư Không Tạng ! Như hư không không có mỏi mệt, Bồ Tát trong vô lượng kiếp phát cần tinh tiến không có mỏi mệt cũng như vậy .Như hư không đều có thể dung thọ tất cả sắc tượng mà hư không không có che chướng .Bồ Tát vì dung thọ tất cả chúng sanh mà phát cần tinh tiến bình đẳng vô ngại cũng như vậy, Như hư không có thể sanh tất cả cỏ cây lùm rừng mà hư không không có trụ xứ. Bồ tát vì tăng ích thiện căn tất cả chúng sanh mà phát cần tinh tiến không chỗ dựa dính, không có trụ xứ cũng như vậy. Như hư không đến tất cả chỗ mà không có đi đến. Bồ Tát vì đến tất cả chỗ nên phát cần tinh tiến mà không có đến không có không đến cũng như vậy. Như hư không chẳng phải sắc hình mà trong hư không thấy các sắc hình .Bồ Tát vì nhứt thừa nên phát cần tinh tiến mà vì thành tựu thuần chí nên thị hiện các thừa sai biệt cũng như vậy. Như hư không bổn tánh thanh tịnh không bị khách trần làm ô nhiễm. Bồ Tát phát cần tinh tiến bổn tánh thanh tịnh vì chúng sanh mà hiện thọ thân sanh tử nhưng chẳng bị trần lụy làm ô nhiểm cũng như vậy.Như hư không tánh là thường không có vô thường. Bồ tát cứu cánh vì chẳng dứt mất Tam bửu nên phát cần tinh tiến cũng như vậy .Như hư không vô thỉ vô chung chẳng thủ chẳng xả .Bồ Tát phát cần tinh tiến vô thỉ vô chung bất thủ bất xả củng như vậy.
Nầy Hư Không Tạng ! Tinh tiến có hai thứ Đó là ban Đầu phát tinh tiến và rốt sau thành tinh tiến .Bồ Tát do ban Đầu phát cần tinh tiến tu tập thành tất cả pháp lành, do rốt sau thành tinh tiến phân biệt tất cả pháp chẳng có tự tánh, chỉ có căn lành đã được tu tập thấy là bình đẳng,sở kiến bình đẳng cũng chẳng phải bình đẳng.
Nầy hư Không Tạng ! Như người thợ điêu khắc tượng người gỗ có đủ thân tướng,sự nghiệp được làm đều có thể hoàn thành, nhưng nơi có làm cùng chẳng có làm đều chẳng có quan niệm sai biệt. Bồ Tátvì thành tựu trang nghiêm bổn nguyện mà phát cần tinh tiến tu tất cả nghiệp,nơi làm cùng chẳng làm không quan niện sai biệt,bỏ lìa hai bên củng như vậy .Đây là Bồ Tát hành Tiến Ba La mật bình đẳng như hư không.
(2163) T8 P55
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7811
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 06/01/18 04:44

Nầy Hư Không Tạng! Thế nào là Bồ Tát hành Thiền Ba La mật bình đẳngnhư hư không? Bồ tát nếu thành tựu bốn pháp thì hành Thiền Ba La mật bình đẳng với hư không. Bồ Tát chuyên nhiếp nội tâm mà chẳng thấy có nội tâm, Bồ Tát ngăn tâm duyên các cảnh giới ngoài mà chẳng thấy có tâm ngoài hành xứ, Bồ Tát do tâm mình bình đẳng nên biết tất cả chúng sanh tâm đều bình đẳng cũng chẳng y dựa hai pháp là tâm và bình đẳng, Bồ Tát tư duy pháp giới định tánh không có nhiếp thâu không có loạn tán biết tất cả pháp tánh không có hí luận.Thành tựu bốn pháp như vậy, Bồ Tát hành Thiền Ba La mật bình đẳng với hư không.
Nâ`y Hư Không Tạng! nếu Bồ Tát thành tựu tám pháp thì có thể tịnh Thiền Ba La mật:
Bồ Tát chẳng y dựa các ấm để tu thiền, chẳng y dựa các giới để tu thiền,chẳng y dựa các nhập để tu thiền, chẳng y dựa tam giới để tu thiền,chẳng y dựa hiện thế để tu thiền, chẳng y dựa hậu thế để tu thiền,chẳng y dựa đạo để tu thiền, chẳng y dựa quả để tu thiền. Đây là Bồ Tát thành tựu tám pháp hay tịnh Thiền Ba La mật.
Nầy Hư Không Tạng ! Như hư không không có dựa dính. Bồ Tát tu thiền không có y chỉ củng như vậy. Như Hư Không không có ái luyến . Bồ Tát tu thiền không có nhiễm trước cũng như vậy . Như hư không không có dính mắc các kiến chấp . Bồ Tát tu thiền bỏ lìa các kiến chấp củng như vậy . Như hư không không có kiêu mạn . Bồ Tát tu thiền bỏ lìa kiêu mạn cũng như vậy . Như hư không cứu cánh vô diệt . Bồ Tát tu thiền khéo nhập vào pháp tánh cứu cánh bất thối cũng như vậy . Như hư không chẳng thể phá hoại . Bồ Tát tu thiền chẳng hoại bổn tế cũng như vậy . Như hư không không có biến đổi . Bồ Tát tu thiền chẳng biến đổi như như cũng như vậy . Như hư không chẳng phải tâm rời lìa tâm . Bồ Tát tu thiền rời lìa tâm ý thức cũng như vậy.
Nầy Hư Không Tạng ! Bồ Tát dùng tâm bình đẳng tu thiền chẳng phải tâm chẳng bình đẳng .
Thế nào là tâm bình đẳng ? Nếu tâm chẳng cao chẳng hạ, không có cầu không chẳng cầu, không có tác không chẳng tác, không có phân biệt không chẳng phân biệt, không có hành không chẳng hành, không có thủ, không có xả, không tối, không sáng, vô tri vô niệm, không chẳng tri, không chẳng niệm, chẳng một chẳng khác, chẳng phải hai chẳng phải chẳng hai, không có động không chẳng động , không có khứ không chẳng khứ, không có tu không chẳng tu, tâm chẳng duyên nơi tất cả cảnh giới, đây gọi là tâm bình đẳng .
Vì Bồ Tát tâm bình đẳng nên chẳng duyên lấy sắc, bỏ lìa nhãn và sắc hai pháp mà tu tập thiền . Vì tâm bình đẳng nên chẳng duyên lấy thanh hương vị xúc và pháp bỏ lìa hai pháp ý và pháp mà tu tập thiền .
Nầy Hư Không Tạng ! Như hư không lúc đại hỏa tai khởi lên chẳng đốt cháy được, lúc đại thủy tai khởi lên chẳng đẩy trôi được, Bồ Tát chẳng bị lửa lớn phiền não đốt cháy, chẳng bị các thiền tam muội cuốn trôi đi thọ sanh, tự mình không có định và loạn mà hay khiến chúng sanh loạn tâm được định, sở hành của mình đã thanh tịnh mà chẳng bỏ tinh tiến, bình đẳng với hư không mà thị hiện sai biệt nhưng chẳng thấy tướng bình đẳng và bất bình đẳng, khéo hay khắp quán trí huệ chơn tánh tâm Bồ Tát chẳng bị ái kiến phiền não che chướng, ở trong các pháp hành, thật hành không bị dính mắc bình đẳng với hư không. Đây là Bồ Tát hành Thiền Ba la mật bình đẳng với hư không vậy.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát hành Bát Nhã Ba la mật bình đẳng với hư không ? Bồ Tát thành tựu bốn pháp thì hành Bát Nhã Ba la mật bình đẳng với hư không.
Do vì ngã tịnh nên Bồ Tát biết chúng sanh cũng tịnh, vì trí tịnh nên biết thức cũng tịnh, vì nghĩa tịnh nên biết văn tự cũng tịnh, vì pháp giới tịnh nên biết tất cả pháp cũng tịnh . Đây là bốn pháp mà Bồ Tát thành tựu thì hành Bát Nhã Ba la mật bình đẳng như hư không.
Nầy Hư Không Tạng! Nếu Bồ Tát thành tựu tám pháp thì có thể tịnh Bát Nhã Ba la mật:
Bồ Tát tinh cần muốn đoạn dứt tất cả pháp bất thiện mà chẳng dính mắc đoạn kiến, Bồ Tát tinh cần muốn sanh tất cả pháp lành mà chẳng dính mắc thường kiến, Bồ Tát biết tất cả pháp hữu vi đều từ duyên sanh mà chẳng động nơi vô sanh pháp nhẫn, Bồ Tát phân biệt nói tất cả tự cú mà thường bình đẳng không có ngôn thuyết, Bồ Tát khéo biện tất cả pháp hữu vi vô thường khổ vô ngã mà nơi pháp giới tịch tĩnh chẳng động, hay khéo phân biệt các nghiệp sở tác mà biết tất cả pháp vô nghiệp vô báo, khéo hay phân biệt pháp cấu pháp tịnh mà biết tất cả pháp tánh thường tịnh, khéo hay suy lường tam thế các pháp mà biết các pháp không có quá khứ vị lai hiện tại . Đây là Bồ Tát thành tựu tám pháp hay tịnh Bát Nhã Ba la mật.
Nầy Hư Không Tạng ! Như hư không chẳng phải hành chẳng phải không hành, Bồ Tát hành Bát Nhã Ba La mật lìa tất cả hành cũng như vậy.Như hư không không gì phá hoại được cũng như vậy .Như hư không tánh thường tịch tĩnh cũng như vậy. Như hư không không tánh thường vô ngã, Bồ Tát hành Bát Nhã biết rõ vô ngã cũng như vậy .Như hư không tánh chẳng phải chúng sanh,Bồ Tát hành Bát Nhã rời lìa kiến chấp chúng sanh cũng như vậy. Như hư không tánh không có thọ mạng, Bồ Tát hành Bát Nhã lìa thọ mạng kiến cũng như vậy .Như hư không tánh không có nhơn. Bồ Tát hành Bát Nhã lìa nhơn kiến cũng như vậy .Như hư không chẳng phải vật chẳng phải chẳng vật, chẳng đặt tên hiệu được,Bồ Tát hành Bát Nhã rời lìa vật chẳng phải vật cũng như vậy.
Nầy Hư Không Tạng! Bát Nhã là cú nghĩa tịch tĩnh vì không có tri giác vậy. Bát Nhã là cú nghĩa vô tác vì tự tướng thanh tịnh vậy .Bát Nhã là cú nghĩa vô biến vì không có hành tướng vậy. Bát Nhã là cú nghĩa chơn thiệt vì chẳng phát động vậy. Bát Nhã là cú nghĩa chẳng khi dối vì không có sai khác vậy . Bát Nhã là cú nghĩa liễu đạt vì nhập vào nhứt tướng vậy. Bát Nhã là cú nghĩa thông minh vì dứt tập khí vậy .Bát Nhã là cú nghĩa đầy đủ vì không có muốn cầu vậy .Bát Nhã là cú nghĩa thông đạt vì hay chánh kiến vậy .Bát Nhã là cú Đệ nhứt vì vô sở đắc vậy. Bát Nhã là cú nghĩa bình đẳng vì không có cao không có hạ vậy .Bát Nhã là cú nghĩa kiên cố vì không gì phá hoại được vậy .Bát Nhã là cú nghĩa bất động vì không có sở y vậy .Bát Nhã là cú nghĩa kim cương vì không gì xô dẹp được vậy .Bát Nhã là cú nghĩa đã độ vì việc làm đã xong vậy .Bát Nhã là cú nghĩa chơn tịnh vì bổn tánh tịnh vậy. Bát Nhã là cú nghĩa không tối vì chẳng cậy sáng vậy .Bát Nhã là cú nghĩa vô nhị vì chẳng tích tụ vậy .Bát Nhã là cú nghĩa tận vì cứu cánh tận tướng vậy .Bát Nhã là cú nghĩa vô tận vì tướng vô vi vậy .Bát Nhã là cú nghĩa vô vi vì rời lìa sanh diệt vậy . Bát Nhã là cú nghĩa hư không vì không có chướng ngại vậy . Bát Nhã là cú nghĩa vô sở hữu vì chơn thiệt thanh tịnh vậy . Bát Nhã là cú nghĩa vô xứ vì không có hành tích vậy Bát Nhã là cú nghĩa không có ổ hang vì không chỗ dựa ỷ vậy. Bát Nhã là cú nghĩa trí vì không có thức phân biệt vậy . Bát Nhã là cú nghĩa không hàng phục vì không có bầy bọn vậy . Bát Nhã là cú nghĩa vô thể vì không có thọ thân hình vậy . Bát Nhã là cú nghĩa tri kiến vì biết khổ chẳng sanh vậy. Bát Nhã là cú nghĩa đoạn dứt vì biết tập chẳng hòa hiệp vậy . Bát Nhã là cú nghĩa diệt vì cứu cánh vô sanh vậy . Bát Nhã là cú nghĩa đạo vì không có hai giác quán vậy . Bát Nhã là cú nghĩa giác vì giác bình đẳng vậy . Bát Nhã là cú nghĩa pháp vì cứu cánh bất kiến vậy .
Nầy Hư Không Tạng ! Bát Nhã nầy chẳng từ người mà được vì là tri kiến tự chứng như tánh mà hiện hành vậy . Biết văn cú nghĩa như vang, ở nơi ngữ ngôn âm thanh tùy đáng nên mà đáp ứng biện thuyết chẳng dứt nhưng chẳng nắm dính văn tự ngôn thuyết . Đại Bồ Tát có thể ở trong tất cả ngôn thuyết khéo có thể báo đáp, biết các âm thanh ngôn thuyết như vang vì hiểu là bất khả đắc vậy nên chẳng chấp trước cũng chẳng hí luận . Đây là Bồ Tát hành Bát Nhã Ba la mật bình đẳng với hư không ''
(2166) T8 P55
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7811
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 07/01/18 04:28

Muốn sáng tỏ lại nghĩa nầy, Đúc Thế Tôn nói kệ rằng :
Lìa chấp trước mà làm bố thí
Khắp đến vừa theo tánh chúng sanh
Thí xong rồi tâm không chướng ngại
Cũng chẳng có sanh lòng phân biệt
Vì ngã tịnh nên thí thanh tịnh
Vì thí tịnh nên nguyện thanh tịnh
Vì nguyện tịnh nên Bồ đề tịnh
Vì đạo tịnh nên tất cả tịnh
Không ngã tưởng không ngã sở tưởng
Rời lìa ái lìa các kiến chấp
Bỏ lìa tất cả tướng bỉ ngã
Tâm bố thí dường như hư không
Bỏ lìa tất cả tưởng mà thí
Không có tâm mong cầu báo đáp
Bỏ lìa tâm tật đố kiết sử
Tâm bố thí như hư không kia
Hư không chẳng phải sắc không dựa
Không thọ không tưởng không phân biệt
Cũng không hành cũng không có thức
Lúc bố thí tâm như hư không
Như hư không lợi ích tất cả
Từ thỉ đến chung không cùng tận
Hiểu rõ pháp thí vô cùng tận
Lợi ích cho tất cả chúng sanh
Như hoá nhơn thí cho hoá nhơn
Chẳng trông mong sở thí được báo
Người có trí huệ thí cũng vậy
Trọn hẳn chẳng trông mong báo đáp
Dùng huệ dứt trừ các kiết sử
Phương tiện lực chẳng bỏ chúng sanh
Chẳng thấy có kiết sử chúng sanh
Bố thí như vậy đồng hư không
Biết rõ thân như tượng trong gương
Biết thanh âm như vang ứng tiếng
Biết rõ tâm như ảo như hóa
Pháp tánh vô ngại như hư không
Chẳng bỏ vô thượng đại Bồ Đề
Chảng cầu Thanh Văn Duyên Giác thừa
Thường kính trọng hộ trì tịnh giới
Của tất cả chư Phật quá khứ
Vì chẳng quên bỏ bổn thệ nguyện
Nên có thể ở trong các loài
Khéo có thể thành tựu bổn nguyện
Nhiếp ý cần hộ trì tịnh giới
Như hư không không có hi vọng
Không nhiệt não không có cao hạ
Không trược nhơ cũng không biến đổi
Người trí trì giới cũng như vậy
Như hư không dung thọ tất cả
Như trăng trong nước chẳng trì giới
Người hộ trì giới phải như vậy
Tịnh giới như hư không thủy nguyệt
Mắng chửi đánh đập cùng thù giận
Vì sức nhẫn nhục nên chẳng sân
Không thấy có mình không có người
Do bỏ lìa tưởng có kia đây
Nội tâm thuần chí thiện thanh tịnh
Cảnh hành ngoài đều cũng thanh tịnh
Do vì thuần chí nên không sân
Tùy thuận pháp như hay nhẫn nhục
Rời lìa các kiến như hư không
Bỏ giác quán cũng lìa niệm tưởng
Không có nguyện không có hi vọng
Bỏ các hành pháp và sở thủ
Không có ái luyến như hư không
Chẳng cợt đùa chẳng hoài oán hận
Không có hí luận không cầu báo
Vô lậu nhẫn nhục là như vậy
Không người nhẫn không người mắng đánh
Tiếng người mắng chửi dường như vang
Là không thiệt cũng là vô thường
Không có những hí luận như vậy
Không nghĩ người ngu ta là trí
Không có sanh mà thị hiện sanh
Cũng vẫn không có phân biệt ấy
Đây là tu thành vô sanh nhẫn
Như nhánh sa la bị người chặt
Nhánh khác chẳng nghĩ không bị chặt
Thân bị chém đứt không phân biệt
Nhẫn nhục nầy tịnh như hư không
Siêng tu không sở y sở trụ
Cúng dường Phật không quan niệm Phật
Thọ trì chánh pháp chẳng trước văn
Độ chúng sanh không thấy chúng sanh
Thân nghiệp tịnh cũng tịnh pháp thân
Khẩu nghiệp tịnh không có ngôn thuyết
Tâm nghiệp tịnh không có ý hành
Đầy đủ tất cả Ba la mật
Đầy đủ pháp trợ Bồ Đề phần
Quốc độ thanh tịnh như hư không
Thành tựu biện tài Đà la ni
Cầu Được các Phật pháp như vậy
Như hư không chẳng mệt chẳng mỏi
Hay sanh trưởng cỏ cây lùm rừng
Đến khắp mọi nơi không hình sắc
Tinh tiến không mỏi như hư không
Hằng thường thanh tịnh như hư không
Không có thỉ cũng không có chung
Người tu tinh tiến cũng như vậy
Không có thỉ không có chung thành
Như người máy do gỗ tạo thành
Tất cả việc làm không phân biệt
Người tu hành không có hai tưởng
Tinh tiến như vậy như hư không
Biết xa ma tha trụ nội tâm
Nhiếp thâu tâm duyên cảnh giới ngoài
Tâm của mình và tâm của người
Đây là y chỉ vô tâm thiền
Các pháp tánh thường không, lặng vắng
Dùng vô lậu trí biết rõ được
Chẳng dựa ngũ ấm lục nhập giới
Cũng chẳng y chỉ trong ba cõi
Chẳng y chỉ quá vị hiện tại
Chẳng y chỉ đạo hành quả chứng
Như hư không kia thường vô y
Người tu thiền nầy cũng vô y
Hư không chẳng có ái kiến mạn
Người tu thiền cũng không phiền não
Hư không chẳng thối chẳng hư biến
Người tu thiền cũng giống như vậy
Thường bình đẳng không tịch, giải thoát
Người trí thường chẳng quan niệm giới
Không kiết sử cũng không có thiền
Vì vậy mà thiền như hư không
Vì ngã tịnh nên chúng sanh tịnh
Vì trí tịnh nên thức cũng tịnh
Vì nghĩa tịnh nên văn tự tịnh
Vì pháp tịnh nên giới cũng tịnh
Dứt pháp bất thiện và tập khí
Bực Đại Sĩ tích tập thiện căn
Nên biết hữu vi là duyên sanh
Nhưng chẳng trước vô sanh vô diệt
Khéo có thể phân biệt văn tự
Nói các pháp vô thường và khổ
Nhưng vẫn thị hiện thọ nghiệp báo
Nói có pháp cấu và pháp tịnh
Biết rõ pháp tánh cũng thanh tịnh
Mà suy lường quá vị hiện tại
Hư không không hành không chẳng hành
Huệ không có hành cũng như vậy
Như hư không chẳng gì phá được
Không có ngã nhơn không thọ mạng
Chẳng phải vật chẳng phải không vật
Bỏ dứt các chấp kiến nhị biên
Biết cú là giả nên chẳng nhiễm
Là bất biến cú chơn thiệt cú
Là mãn túc cú thông Đạt cú
Liễu đạt nhứt nghĩa và huệ cú
Bình đẳng bất động lao cố cú
Kim cương dĩ độ chơn tịnh cú
Thông minh cú tận vô tận cú
Là vô vi cú hư không cú
Không xứ không ổ không thức biệt
Không hàng phục vô thể là trí cú
Không tập không diệt không đạo cú
Là pháp là giác trí huệ cú
Như vang kia ứng theo thanh âm
Bồ Tát vô tận biện cũng vậy
Thuyết pháp vô y vô sở đắc
Bát Nhã nầy tịnh như hư không.
(2170) T8 P55
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7811
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 08/01/18 06:24

Lại nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát hành công đức bình Đẳng với hư không?
Bồ Tát vì nghe Phật vô lượng pháp rộng lớn như hư không nên phát tâm Nhứt thiết trí, nghĩ rằng Bồ Đề vô lượng, Phật vô lượng, tự tại giác vô lượng, trong vô lượng như vậy sanh ra vô lượng lạc dục tinh tiến bất phóng dật hạnh, vì Phật Đạo mà phải hành vô lượng pháp sở hành của Bồ Tát . Tại sao ? Vì như chư Phật có vô lượng công đức trang nghiêm nơi thân, ta cũng vì trang nghiêm nơi thân mà phải thành tựu vô lượng thiện căn . Như chư Phật có vô lượng công đức trang nghiêm khẩu, trang nghiêm ý, trang nghiêm đạo tràng, trang nghiêm Phật độ, ta cũng vì trang nghiêm khẩu, trang nghiêm ý, trang nghiêm đạo tràng, trang nghiêm quốc độ nên phải thành tựu vô lượng thiện căn . Ta phải giáo hóa vô lượng chúng sanh để thành tựu thiện căn . Vì thành tựu thiện căn nên ta ở trong vô lượng sanh tử chẳng hề mỏi nhàm . Chư Phật Thế Tôn có vô lượng quốc độ vô lượng trí huệ vô lượng thần thông, các chúng sanh ấy có vô lượng hạnh vô lượng tâm vô lượng các căn sai biệt ở trong sanh tử thọ vô lượng khối khổ não, phát khởi các phiền não, ta vì nhập vô lượng Phật pháp, vì bỏ sở hành các căn khối sanh tử khổ não của vô lượng chúng sanh nên thành tựu vô lượng thiện căn . Bồ Tát dùng tâm chánh chơn quán sát những công đức được làm tương ưng với các Ba la mật, tương ưng với Tứ nhiếp pháp, tương ưng với Tứ vô lượng tâm, tương ưng với pháp trợ Bồ Đề, thành tựu chúng sanh thọ trì chánh pháp cúng dường chư Phật Thế Tôn và tịnh pháp sở hành tương ưng của Bồ Tát, vô lượng công đức được làm như vậy bình đẳng với hư không, vì chúng sanh tánh vô lượng, vì Phật trí huệ vô lượng, vì pháp giới vô lượng, nên chỗ tu hành cũng vô lượng như hư không . Chúng sanh tánh, Phật trí huệ trong pháp giới không chỗ nào chẳng đến nên tất cả chúng sanh đều được nhờ lợi ích . Cũng vậy, công đúc của Bồ Tát làm đến tất cả chỗ lợi ích cho chúng sanh, vì không dựa dính vậy, vì sức nguyện phương tiện vậy . Đây là Bồ Tát hành công đức bình đẳng với hư không như vậy.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát hành trí bình đẳng với hư không ?
Bồ Tát theo thiện tri thức được nghe chánh pháp rồi, khéo thuận tư duy, các hạnh được làm trọn không phóng dật tu ít cảnh giới tưởng rồi thọ vô lượng tưởng, thọ vô lượng tưởng rồi được trí sáng như vậy, được trí sáng ấy rồi được chư ấm phương tiện trí, được chư giới phương tiện trí, được chư Đế phương tiện trí, được chư duyên phương tiện trí, biết chúng sanh cấu cũng biết cấu tánh,biết chúng sanh tịnh cũng biết tịnh tánh. Đó là chúng sanh có nhiểm tâm thì như thiệt biết là có nhiễm tâm, chúng sanh không nhiễm tâm thì như thiệt biết là không có nhiễm tâm. Chúng sanh có sân tâm hay không sân tâm thì như thiệt biết là có sân tâm hay là không sân tâm,chúng sanh có si tâm hay là không si tâm thì như thiệt biết là có si tâm hay là không si tâm, chúng sanh có phiền não tâm hay không phiền não tâm thì như thiệt biết là có phiền não tâm hay là không phiền não tâm .Bồ Tát không thấy người có cấu tâm là hèn kém và người không cấu tâm là thắng hơn, tại sao, vì Bồ Tát nhập vào pháp môn trí bất nhị tánh thanh tịnh . Như pháp tánh bất nhị thanh tịnh thì ngã tánh cũng vậy, như ngã tánh thì vô ngã tánh cũng vậy,như vô ngã tánh thì tất cã các pháp cũng vậy,vì tánh thường thanh tịnh vậy .Nếu nhập vào tất cã pháp tánh thanh tịnh thì chẳng thấy có cấu có tịnh, cũng chẳng thấy các pháp văn tự tướng mạo vì chẳng thọ chẳng trước vậy cũng chẳng thấy các pháp chướng ngại cái triền cũng chẳng chướng ngại cái triền.
Bồ Tát tư duy vô lượng cảnh giới rời lìa tâm thức hai pháp thì gọi là trí chẳng kêu là thức .
Như hư không không có tâm ý thức, cũng vậy Bồ Tát rời lìa tâm ý thức biết các pháp tánh bình đẳng với hư không trí hành vô ngại vì quá các chướng ngại vậy . Đây gọi là Bồ Tát hành trí bình đẳng với hư không .
Nầy Hư Không Tạng ! thế nào là Bồ Tát thành tựu niệm phật chẳng rời lìa như như được Đức Như Lai hứa khả?
Bồ Tát hoặc ở a lan nhã, hoặc ở dưới cây,hoặc ở rừng hoang vắng, hoặc ở chỗ lộ thiên, vì đã được định lực nên hay nhiếp tâm chẳng trụ trước các cảnh duyên, do tâm chẳng tán loạn nên khéo nhiếp sở niệm,dùng hành tướng quán Phật ba mươi hai tướng, tám mươi tùy hảo trang nghiêm nơi thân,quán lấy mỗi mỗi tướng hảo để thành tựu thân của mình . Tâm hướng về bực nhất thiết trí, nơi thân Như Lai ghi nhớ vòng lưới quang minh được phóng ra .Bồ Tát do được giải hi vọng nên quán thân Như Lai đầy một do tuần, hoặc hai ba bốn năm do tuần, hoặc mười đến trăm do tuần,hoặc quá trăm do tuần . Bồ Tát do được giải hi vọng nên quán Phật ngồi Đạo tràng,hoặc thấy chuyển pháp luân,hoặc thấy hiện các thứ oai nghi thuyết pháp giáo hóa điều phục chúng sanh, hoặc thấy Đức Như Lai nơi một thế giới làm phật sự, hoặc hai ba bốn đến mười thế giới làm phật sự, hoặc trăm ngàn đến nơi giải hi vọng nên quán tự thấy tùy ý : hoặc thấy mình nghe pháp cúng dường chư PhậtThế Tôn,nơi các oai nghi khác đều tự thấy tùy ý tự tại .
Bồ Tat quán sắc thân Như Lai như vậy rồi ghi nhớ Phật công Đức: hoặc quán tịnh giới, quán chánh định,quán chánh huệ, quán chánh giải thoát và giải thoát tri kiến, hoặc quán lực vô sở úy bất cộng pháp, hoặc quán bổn hành của Bồ Tát hoặc quán thành tựu Phật địa,
Bồ Tát khắp ghi nhớ Như Lai thành tựu công đức rồi ghi nhớ Như Lai nghiệp có tướng mạo gì, tạo nghiệp thế nào, là thân tạo hay khẩu tạo, ý tạo, là oai nghi tạo ư, là thấy được hay chẳng thấy được ư, là nói được hay chẳng nói được ư,tạo tại nước nào,bao nhiêu loại thân hình tạo ư .Bồ Tát ghi nhớ Như Lai thành tựu thắng nghiệp chẳng thể nghĩ bàn các thiện căn rồi quán tưởng Như Lai pháp: Chư Phật Thế Tôn do pháp thân nên gọi là Như Lai chớ chẳng do sắc thân. Bồ Tát chẳng thấy sắc là Như Lai,chẳng thấy tướng là Như Lai, chẳng thấy chủng tánh là Như Lai, chẳng thấy ấm giới nhập là Như Lai, chẳng thấy oai nghi là Như Lai,chẳng thấy đời quá khứ vị lai hiện tại là Như Lai, chẳng thấy nhơn cũng chẳng thấy duyên là Như Lai, chẳng thấy sở dĩ là Như Lai, chẳng thấy hòa hiệp là Như Lai, chẳng thấy hữu là Như Lai, chẳng thấy vô là Như Lai, chẳng thấy thành tựu là Như Lai, chẳng thấy bại hoại là Như Lai, chẳng thấy kia là có Như Lai chẳng thấy đây là có Như Lai chẳng thấy Như Lai ở chỗ nào,, chẳng thấy Như Lai chẳng cậy dựa Như Lai, chẳng phân biệt Như Lai, chẳng có được Như Lai.
Như hư không không có tên ấm giới nhập nhưng chẳng phải chẳng lợi ích chúng sanh, chư Phật Thế Tôn không có tên ấm giới nhập mà thường lợi ích các chúng sanh .Đây là Bồ Tát chẳng rời lìa như như niệm Phật được Như Lai hứa khả .
(2173) T8 P55
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7811
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 09/01/18 07:17

Nầy Hư Không Tạng! Thế nào là Bồ Tát chẳng rời như như niệm pháp được Như Lai hứa khả?
Các pháp được Bồ Tát niệm là Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực,Thất giác phần, Bát thánh đạo phần,Tam giải thóat môn, Tứ thánh đế thậm thâm,Thập nhị nhơn duyên thậm thâm,Lục Ba La mật, pháp tạng mà Bồ Tát phải học, bất thối chuyển luân và tịnh ba cảnh . Đây là pháp mà Bồ Tát phải niệm .
Phải niệm thế nào?
Bồ Tát niệm xả,niệm muốn rời lìa, niệm diệt mất niệm không lai không khứ,niệm không ổ hang, niệm không có tự tánh, niệm xuất thế gian, niệm hiểu suốt, niệm tận, niệm vô sanh, niệm vô thủ, niệm vô lậu, niệm vô vi, niệm niết bàn không có tự tánh .
Bồ Tát nghĩ rằng ở trong các pháp còn có pháp tưởng, tại sao, vì có tưởng thì còn có động niệm,vì có động niệm thì còn điên đảo,vì còn điên đảo thì không có niệm pháp .Nếu rời lìa niệm pháp và phi pháp hai tưởng ấy thì biết các pháp là vô sanh. vì đã đoạn dứt pháp tưởng nên được vô sanh nhẫn được vô sở đắc, vì là vô sở hữu vậy .Đây là Bồ Tát chẳng rời như như niệm pháp được Như Lai hứa khả .
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát chẳng rời lìa như như niệm Tăng được Như Lai hứa khả ?
Tăng là bốn đôi tám bọn trong Tăng,hoặc là A La Hán hướng A La Hán qủa, hoặc là A Na Hàm hướng A Na Hàm qủa, hoặc Tư Đà Hàm hướng Tư Đà Hàm qủa, hoặc Tu Đà Hoàn hướng Tu Đa Hoàn qủa, đây là Thanh Văn Tăng .
Lại còn có Tăng là Bồ Tát được bất thối chuyển, được quyết định nhẫn thượng thánh chánh vị, đã rời lìa các tướng ỷ thị chấp trước và hí luận, kế thứ được Như Lai công đức vô gián .Bồ Tát ấy nghĩ rằng chúng Đại Bồ Tát như vậy đáng cúng dường tán thán chắp tay hầu hạ hữu nhiễu lễ kính, đây là phước điền lành tốt, là đệ nhứt Tăng nhập vào số Thánh chúng, nhửng sự việc mà Tăng phải làm đều đã hoàn thành xong . Bồ Tát ấy niệm Tăng thường thân cận Bồ Tát Tăng mà chẳng thân cận Thanh Văn Tăng . Bồ Tát ấy dầu niệm Tăng mà chẳng lấy Tăng số, chẳng lấy có số biết Tăng đây là vô vi niệm, vô hành niệm, vô biến dị niệm, vô sanh niệm vô diệt niệm .Khởi niệm như vậy chẳng sanh tâm hành cảnh giới . Đây là Bồ Tát chẳng lìa như như niệm Tăng được Nhu Lai hứa khả vậy .
Nầy Hư Không Tạng ! thế nào là Bồ tát chẳng rời lìa như như niệm xả được Như Lai hứa khả?
Xà ấy là xả của cải xả thiện pháp, xả thân, xả mạng, xả tất cả tà pháp tà đạo . Còn có xả chẳng lấy tất cả pháp, tại sao ? Vì nếu có thủ thì không có xả . Nếu chẳng thủ lấy thì gọi là cứu cánh xả . Trong cứu cánh xả thì không có cầu, không cầu thì không mong báo đáp . Không mong báo thì gọi là chơn thiệt xả .
Nếu Bồ Tát hành kiên cố xả như vậy, tùy nơi xả mà phát nguyện . Nếu lúc xả và lúc phát nguyện chẳng thấy Bồ Đề và Phật pháp mà chuyên niệm xả, nhớ chư Bồ Tát quá khứ lúc hành Đạo Bồ Tát hành xả thế nào, nay ta hành xả thế nào, có phải là chẳng bằng mà bị người trí chê chăng . Và Bồ Tát có thể xả tất cả . Xả rồi suy gẫm rằng : Trong sự xả ấy, ai là người xả, xả những vật gì, ai ghi nhớ xả ấy . Suy gẫm như vậy rồi thì đều trọn vô sở đắc, chẳng thấy có người xả, vật xả và kẻ ghi nhớ . đây là Bồ Tát chẳng lìa như như niệm xả Được Phật hứa khả .
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát chẳng rời lìa như như niệm giới Được Như Lai hứa khả ?
Bồ Tát trì giới Đến chỗ giải thoát oai nghi hạnh thành tựu, nhẫn đến giới vi tế sợ như kim cương, thường tu tịnh mạng khéo hộ trì giới . Bồ Tát tự niệm giới nhiếp thân khẩu là vô tác tướng mà cẩn thận phụng hành tu thắng chánh mạng, nơi Nhứt thiết trí tâm trọn chẳng phế bỏ, thuần chí bất động cũng trọn chẳng bỏ Đại từ Đại bi nhiếp thủ giáo hối chúng sanh phá giới . Thường tự nghĩ thà bỏ thân mạng chớ chẳng cầu các thừa khác . Đây gọi là giới . Bồ Tát thường niệm thắng giới, giới không có vết không có khuyết, giới chẳng hoang uế, giới chẳng mong cầu, giới chẳng ô nhiễm, giới không đục nhơ, giới mà người trí khen trọng, Bồ Tát niệm những giới như vậy, chẳng cậy trì giới, chẳng chê phá giới, chẳng khoe mình tốt, chẳng khi người lỗi, Bồ Tát trọn chẳng xả giới, chẳng y dựa giới cũng chẳng trụ nơi giới . Dầu bỏ tất cả các sự ỷ cậy trụ trước mà thật hành công hạnh lành tốt nơi sắc tướng . Đây là Bồ Tát chẳng lìa như như niệm giới Được Như Lai hứa khả .
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào la Bồ Tát chẳng rời lìa như như niệm thiên được Như Lai hứa khả ?
Niệm thiên là hoặc niệm Dục giới thiên hoặc niệm Sắc giới thiên, hoặc niệm Vô sắc giới thiên.
Niệm Dục giới thiên vì là quả báo của trì giới, nơi ấy hưởng thọ sắc, thanh, hương, vị, xúc, thích ý, do thiên ngũ dục mà dạo chơi vui vẻ, thiên y phục, thiên ẩm thực đều tùy ý đầy đủ, một bề hưởng thọ sự vui thương yêu mừng rỡ thỏa ý . Với sự việc trên, Bồ Tát nghĩ rằng tất cả những sự hưng thạnh ấy rồi sẽ đều suy tàn diệt mất, hàng chư Thiên ấy cũng sẽ vô thường biến đổi do vì họ phóng dật nên chẳng tu tạo thiện căn, thiện nghiệp đã có từ trước nay đều lần lần sẽ hết . Dầu hiện nay họ được sanh ở cõi trời nhưng chưa thoát khỏi phần địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh . Suy nghĩ như vậy rồi, Bồ Tát chẳng hy vọng sanh về cõi Trời Dục giới, duy trừ cung Trời Đâu Suất . Trong cung Trời Đâu Suất có bực nhứt sanh bổ xứ Bồ Tát nơi tất cả công hạnh Bồ Tát đã đến cứu cánh, tất cả các Địa tất cả thần thông tất cả các Định tất cả Đà la ni tất cả biện tài tất cả sự việc Bồ Tát tất cả phương tiện đều đã cứu cánh . Chỉ do ghi nhớ các công đức như vậy nên với cung Trời Đâu Suất lòng Bồ Tát ấy sanh hân ngưỡng, nếu muốn sanh về cõi trời thì nên sanh trong cõi Trời Đâu Suất tự nghĩ rằng lúc nào tôi sẽ được thân trời như vậy .
Bồ Tát lại niệm chư thiên cõi Sắc, Đây là quả báo của các thiền các vô lượng tâm . Sanh về cõi Sắc rồi thì vượt quá khổ họa dục nhiễm của cõi Dục, nhứt tâm ở trong thiền dùng hỉ làm thực, một bề biết là thọ báo vui Đệ nhứt . Bồ Tát ấy suy nghĩ rằng chư Thiên cõi Sắc hưởng thọ chút ít thiền vị dùng làm hoan hỉ, vô thường mà quan niệm thường, nơi khổ quan niệm vui, nơi vô ngã quan niệm ngã, nơi không phải Niết bàn mà quan niệm là Niết bàn . Chư Thiên cõi Sắc cũng có vô thường biến đổi , chưa thoát khỏi phần địa ngục ngạ quỷ súc sanh . Suy nghĩ như vậy rồi, Bồ Tát ấy chẳng nguyện sanh về cõi Sắc, duy trừ Tịnh Cư Thiên chính nơi trời ấy nhập Niết bàn chẳng trở lại sanh trong cõi Dục nữa . Bồ Tát nghĩ rằng Đây là chư Thiên thanh tịnh đã thoát khỏi lưu chuyển sanh tử trong năm loài, do đây mà Bồ Tát ấy sanh lòng kính trọng Trời Tịnh Cư nhưng chẳng nguyện cầu sanh về cõi trời ấy.
Bồ Tát lại niệm chư Thiên cõi Vô Sắc thọ quả báo của Vô Sắc Định đã quá Dục giới và Sắc giới, Trời Vô Sắc nầy tâm ở nơi tịch định . Bồ Tát ấy nghĩ rằng hàng chư Thiên cõi Vô Sắc nầy dầu thấy Phật nghe Pháp và cúng dường Tăng mà chư Thiên Vô Sắc chẳng biết cầu pháp ra khỏi cõi Vô Sắc, dầu trụ được lâu nhưng khi thời gian mãn rồi cũng vẫn biến đổi hoại diệt chưa thoát khỏi phần địa ngục ngạ quỷ súc sanh, do đây mà Bồ Tát ấy chẳng nguyện sanh về Trời Vô Sắc mà chỉ quan niệm ta sẽ làm bực trời trong các trời là bực Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Bồ Tát ấy dầu niệm chư Thiên mà chẳng y dựa các cõi Trời Dục, Sắc, Vô Sắc, đối với chúng sanh trong ba cõi ấy phát khởi tâm Đại bi cứu độ họ ra khỏi sanh tử lưu chuyển trong năm loài . - Đây là Bồ Tát chẳng rời như như niệm thiên Được Như Lai hứa khả vậy.
(2175) T8 P55
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7811
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 10/01/18 06:26

Lại nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát hành các pháp bình đẳng như Niết bàn ?
Bồ Tát biết nhập các pháp bình đẳng như Niết bàn, thấy tất cả chúng sanh tánh đồng Niết Bàn, biết ngưòi đã nhập Niết bàn không có ấm giới nhập . Bồ Tát như vậy thấy chúng sanh tánh đồng Niết bàn quá các ấm giới nhập, thấy như bóng trong gương, như cảnh trơng mộng không có sanh tử mà hiện sanh tử . Phàm phu chúng sanh nhơn nơi kiết sử phiền não gây tạo các nghiệp, tạo phiền não nghiệp rồi thọ vô lượng khổ báo . Bồ Tát do sức Bát Nhã Ba la mật nên khéo quán kiết sử đoạn dứt nó khiến nó chẳng sanh, cũng chẳng còn nhơn vì kiết sử mà tạo nghiệp để thọ khổ báo đến được nơi Niết bàn bình đẳng gọi đó là vô vi siêu quá tất cả toán số trí đạo . Vì chẳng bỏ bổn nguyện nên du hí đại từ, đã đến huệ phương phương tiện cứu cánh, đã nhập Phật thần thông lực, đã có thể khéo biết phân biệt các tưởng, tự mình được độ hóa độ kẻ chưa được độ, tự mình đã giải thoát rồi giải thoát cho người chưa được giải thoát, tự mình đã được an làm an cho người chưa được an, tự mình được Niết bàn làm cho người chưa được Niết bàn khiến họ được Niết bàn. Với Niết bàn và sanh tử không quan niệm có hai, đây là Bồ Tát hành các pháp bình đẳng như Niết bàn vậy.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát khéo phân biệt hành tướng ?
Bồ Tát chuyên cần tinh tiến cầu pháp thắng thiện, nơi pháp môn thậm thâm tâm nhập suy lường thanh tịnh thông thạo rộng lớn huệ sáng được môn Đại trí minh . Dùng sức Đại trí minh môn ấy biết rõ tâm hành cảnh giới của tất cả chúng sanh, tổng nói mỗi chúng sanh có tám vạn bốn ngàn tâm hành, tất cả đều có thể rõ biết . Đó là tâm hành tham dục có hai vạn một ngàn, tâm hành sân hận có hai vạn một ngàn, tâm hành ngu si có hai vạn một ngàn, tâm hành đẳng phần có hai vạn một ngàn, cộng là tám vạn bốn ngàn tâm hành, mỗi chúng sanh đều có những tâm hành ấy, nếu phân biệt nói rộng thì có đến vô lượng tâm hành . Trong mỗi hành tướng môn ấy biết có tám vạn bốn ngàn căn môn . Trong mỗi căn môn ấy biết có tám vạn bốn ngàn những tri giải sai biệt . Bồ Tát biết hết các hành tướng các căn môn các tri giải tướng sai biệt, biết các tướng nên được tu tập .
Thế nào là biết tướng sai biệt ?
Bồ Tát biết các hành các căn các giải ấy hoặc là tướng tham dục, là tướng sân hận, là tướng ngu si, là tướng đẳng phần, là tướng tăng, là tướng giảm, là tướng trụ, là tướng đạt . Đây gọi là biết tướng sai biệt.
Thế nào là biết tướng nên được tu tập ?
Bồ Tát biết các hành các căn các giải ấy là tướng vô thường, là tướng khổ, là tướng vô ngã là tướng không, là tướng tịch diệt, là tướng ly, là tướng như thiệt, là tướng Niết bàn, là tướng tướng tự không, là tướng tướng tự ly . Nếu có thể biết các hành các căn các giải như vậy . Như -Đức Như Lai thành tựu chư hành vô chướng ngại trí biết rõ tất cả chúng sanh các hành các căn các giải tướng sai biệt, Bồ Tát cũng kế thứ trí Như Lai biết rõ mà chẳng bỏ nên Bồ Tát sở hành giáo hóa chúng sanh không có mỏi mệt . Đây gọi là Bồ Tát khéo phân biệt hành tướng vậy.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát thọ trì tạng pháp bửu của chư Phật Như Lai ?
Như Lai pháp bửu tạng là vô tận cũng là vô lượng đến tất cả chỗ làm vui đẹp tất cả chúng sanh .
Như chúng sanh các hành các căn các giải số đến vô lượng a tăng kỳ bất khả tư nghị bất khả xưng bất khả lượng, chư Phật Như Lai pháp bửu tạng vô lượng a tăng kỳ bất khả tư nghị bất khả xưng bất khả lượng cũng như vậy.
Văn tự pháp bửu tạng của Phật, giả sử tất cả chúng sanh đồng như A Nan trong một kiếp đến trăm kiếp cũng chẳng thể thọ trì đọc tụng thông thuộc các nghĩa được . Tai sao, vì Phật pháp bửu tạng chỉ có một nghĩa, Đó là nghĩa ly dục, nghĩa tịch diệt, nghĩa Niết bàn.
Nếu Bồ Tát nghe Như Lai Pháp bửu tạng rồi tùy khả năng được thọ rồi thọ trì đọc tụng thông thạo, khéo thuận tốt chánh quán rồi như sở thọ mà hành . Bồ Tát nhập vào pháp tạng môn kiên trì suy gẫm chẳng y dựa tất cả tướng hành thì được đà la ni môn tam muội môn . Khi được đà la ni môn tam muội môn rồi thì có thể thọ trì văn tự và nghĩa pháp bửu tạng của một Như Lai, hoặc của hai Như Lai, hoặc của ba bốn đến mười Như Lai, hoặc của trăm, của ngàn vạn cho đến vô lượng vô biên a tăng kỳ bất khả tư nghị bất khả xưng bất khả lượng chư Như Lai . Nơi pháp bửu tạng của tất cả chư Phật, Bồ Tát ấy tâm chẳng tán loạn thọ trì đọc tụng thông thạo văn tự và nghĩa rộng vì mọi người mà giải nói . Bồ Tát ấy y nghĩa chẳng y văn, tịnh ý thành tựu pháp được nghe mà diễn nói nhẫn đến chẳng sai sót một câu văn nghĩa, có thể tịnh môn biện tài khéo hay thuyết pháp vui đẹp lòng đại chúng, được chư Phật khen ngợi cũng hay hàng phục các ma ngoại đạo và cung kính cúng dường Tam Bửu, nhẫn đến chẳng thấy có một pháp khác với pháp tánh, chẳng hư hoại bổn tế, chẳng động như như pháp tánh được giác ngộ của Như Lai, vì biết tất cả pháp tánh như là sở giác của Như Lai, nhẫn đến chẳng thấy có một pháp nào là chẳng nhập vào Phật pháp . Taị sao, vì Như Lai biết tất cả pháp tánh như ảo huyễn vì không có thành tựu vậy, biết tất cả pháp tánh như dã mã vì vô sở thủ vậy, biết tất cả pháp tánh như tượng trong gương vì chẳng đến kia vậy, biết tất cả pháp tánh như mộng vì chẳng chơn thiệt vậy, biết tất cả pháp tánh như vang vì theo duyên mà khởi vậy, biết tất cả pháp tánh là rỗng không vì hư giả không thiệt vậy, biết tất cả pháp tánh vô tướng vì vô phân biệt vậy, biết tất cả pháp tánh vô nguyện vì không có phát động vậy.
-Đức Như Lai như thiệt biết tất cả pháp tánh là tướng như vậy . Bồ Tát biết tất cả pháp tánh không có tánh có thể thọ trì pháp bửu tạng của Phật nhẫn đến tất cả chẳng phải niệm nhớ chẳng phải chẳng niệm nhớ . Đây là Bồ Tát thọ trì chư Phật pháp bửu tạng .
(2178) T8 P55
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7811
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 11/01/18 06:17

Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát biết các chúng sanh từ vô thỉ Đến nay thường thanh tịnh mà giáo hóa chúng sanh ?
Bồ Tát vì giáo hóa tất cả chúng sanh nên lúc tu đại từ đại bi suy nghĩ rằng : những gì là chúng sanh ? Các chúng sanh ấy chỉ là danh tự giả là điên đảo hư giả mà gọi là chúng sanh thôi . Tất cả chúng sanh bổn tế thanh tịnh cứu cánh vô sanh vô khởi, chỉ nhơn hư vọng ngu si mà tạo gây các thứ nghiệp, gây tạo nghiệp rồi thọ vô lượng ưu bi khổ não . Như có người trong giấc mộng cướp trộm tài vật của người bị nhà vua bắt trị phạt khốn khổ . Chiêm bao thấy mình làm kẻ giặc cướp hư vọng nhớ tưởng chịu các khổ não tự nghĩ rằng lúc nào tôi sẽ thoát được khổ não nầy . Người ấy ở trong giấc mộng thiệt ra không có sự việc gì không có hay giác tri . Tất cả phàm phu và tất cả pháp đều cũng như mộng không có giác tri, vì bị điên đảo che chướng mà phải thọ lấy vô lượng vọng tưởng ưu bi khổ não cũng như vậy . Bồ Tát suy nghĩ rằng : Các chúng sanh ấy tôi phải khiến họ như thiệt giác tri các pháp cho họ thoát khỏi vọng tưởng khổ não, ở trong tất cả chúng sanh cũng chẳng thấy chúng sanh tánh nhưng vẫn chẳng bỏ đại bi thường giáo hóa chúng sanh . Đây là Bồ Tát phân biệt chúng sanh từ trước đến nay thường thanh tịnh mà giáo hóa họ.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát khéo tùy thuận phát khởi công hạnh thành tựu Phật pháp ?
Bồ Tát nghe Phật pháp tối thắng thậm thâm vi diệu ở trong thế gian rồi phát khởi đại nguyện tinh tiến rằng : Tôi phải thành tựu Phật pháp tối thắng thậm thâm vi diệu ở trong thế gian . Khéo tư duy phân biệt như vầy : Là những pháp gì tương ưng với những pháp gì ? Là những pháp gì biết những pháp gì ? Bồ Tát lại suy nghĩ rằng : Không có pháp gì tương ưng với pháp cũng không có pháp gì chẳng tương ưng với pháp, không có pháp biết pháp cũng không có pháp chẳng biết pháp, vì các pháp tánh ấy là độn tánh là vô tánh . Các pháp ấy đều từ nhơn duyên sanh không có định chủ mà có thể tùy ý trang nghiêm có các thứ tướng quả báo .
Vì các pháp vô tánh nên bố thí là trang nghiêm tướng đại phú . Bố thí được đại phú vì quả chẳng lìa nhơn vậy . Bố thí chẳng biết đại phú và đại phú cũng chẳng biết được bố thí . Trì giới là trang nghiêm tướng sanh Thiên, trì giới được sanh Thiên vì quả chẳng lìa nhơn vậy. Đa văn là trang nghiêm tướng trí huệ, đa văn được trí huệ vì quả chẳng lìa nhơn vậy . Tư duy là trang nghiêm tướng đoạn dứt kiết sử, tư duy thì được đoạn dứt kiết sử vì quả chẳng lìa nhơn vậy . Tư duy chẳng biết được đoạn kiết và đoạn kiết cũng chẳng biết được tư duy.
Bồ Tát nhớ niệm các pháp vô sanh có thể trang nghiêm tướng như vậy nên bố thí rồi hồi hướng Nhứt thiết trí thành tựu hạnh Đàn Ba la mật, Bồ Tát Đàn Ba la mật ấy có thể đầy đủ được Phật pháp.
Bồ Tát trì giới hồi hướng Nhứt thiết trí thành tựu hạnh Thi la Ba la mật . Bồ Tát Thi la Ba la mật có thể đầy đủ được Phật pháp . Bồ Tát tu nhẩn nhục hồi hướng nhứt thiết trí thành tựu hạnh Sằn Đề Ba La mật . Bồ Tát Sằn Đề Ba La mật ấy có thể đầy đủ được Phật pháp .
Bồ Tát tu tinh tiến hồi hướng Nhứt thiết trí`thành tựu hạnhTỳ lê gia Ba la mật.Bồ Tát Tỳ lê gia Ba la mật ấy có thể đầy đủ được Phật pháp.
Bồ Tát nhập thiền định hồi hướng Nhứt thiết trí thành tựu hạnh Thiền Ba la mật.Bồ Tát Thiền Ba la mật ấy có thể đầy đủ được Phật pháp .
Bồ Tát thanh tịnh Bát Nhã hồi hướng Nhứt thiết trí thành tựu hạnh Bát Nhã Ba la mật . Bồ Tát Bát Nhã Ba la mật ấy có thể đầy đủ Được Phật pháp.
Lúc Bồ Tát khéo tùy thuận phát khởi công hạnh như vậy chẳng thấy có một pháp nào không có nhơn không có duyên mà sanh, Bồ Tát củng chẳng trụ trưóc nơi nhơn duyên, tự khéo tùy thuận nhập vào tất cả pháp tánh.
Như ngã vô sanh vô khởi,tất cả pháp vô sanh vô khởi củng như vậy.
Như ngã rỗng không,tất cả pháp rỗng không cũng như vậy.
Như ngã ly,tất cả các pháp ly cũng như vậy.
Bồ Tát biết tất cả các pháp nhập vào bình đẳng như tánh,chẳng phải tạo tác chẳng phải chẳng tạo tác . Đây là Bồ Tát khéo thuận phát hạnh thành tựu Phật pháp vậy .
Nầy Hư Không Tạng ! thế nào là Bồ Tát bất thối thần thông nơi các Phật pháp đều được tự tại ?
Bồ Tát giới thân chơn tịnh tâm định chẳng động được đại trí quang minh, đã thành tựu tư lương phước đức và trí huệ, đã được cứu cánh các Ba la mật, đã thành tựu tứ nhiếp pháp, đã tu bốn phạm hạnh, đã tu dục tiến niệm định bốn như ý túc . Vì khéo tu tứ thần túc nên được ngũ thần thông . Vì Bồ Tát bổn nghiệp thanh tịnh, vì siêng tinh tiến chẳng bỏ phế, vì thường chẳng tán loạn hành, vì khéo phục các kiết sử, vì lìa tâm niệm Thanh Văn Bích Chi Phật, vì thọ trì phương tiện, vì duyên Đến các pháp bực trên, vì vô ngã vô y hành, do đây mà Bồ Tát chẳng thối thần thông, nên Bồ Tát rốt ráo biết các pháp bất thối, biết các pháp cùng pháp tánh bình đẳng không biến đổi sai khác, như hư không không có biến đổi . Đây là Bồ Tát bất thối các thần thông ở nơi các Phật pháp đều được tự tại vậy .
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát nhập pháp môn thậm thâm mà tất cả hàng Thanh văn và hàng Bích Chi Phật chẳng nhập được ?
Bồ Tát nhập pháp thậm thâm nhơn duyên, biết pháp nghịch và thuận nhơn duyên, khéo biết xuất, biết ly, biết sanh, biết diệt, biết tập, biết tận . Khéo biết chúng sanh do nhơn duyên gì mà thọ cấu, mà ly cấu, mà xả cấu được tịnh, nhẫn đến chẳng thấy có một pháp nào có cấu có tịnh .Biết tất cả pháp tánh tướng thanh tịnh, cũng chẳng được tướng pháp thanh tịnh, vì ngã thậm thâm vậy .
Bồ Tát biết tất cả pháp thậm thâm, vì ngã ly vậy .
Bồ Tát biết tất cả pháp ly vì ngã không có hai vậy .
Bồ Tát biết tất cả pháp không có hai vì nhãn và sắc cả hai đều ly vậy . Nhẫn đến ý pháp cũng ly thì nhập Đệ nhứt nghĩa, do thế Đế nên giả danh là các pháp, cũng chẳng chấp trước chơn Đế và thế Đế . Đây là Bồ Tát nhập pháp môn thậm thâm mà hàng Thanh Văn và Bích Chi Phật chẳng nhập được.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát nơi thập nhị nhơn duyên khéo được thắng trí phương tiện rời lìa các kiến chấp nhị biên ?
Bồ Tát biết tất cả duyên sanh pháp nhiếp thuộc về cái khác : Thuộc nhơn, thuộc duyên, thuộc hòa hiệp và thuộc sở do . Các pháp ấy đều từ cảnh giới duyên sanh đều riêng có sở nhơn đều riêng có sở y, các pháp mỗi mỗi đều tự minh không có tâm không có tướng sai khác .
Như bên ngoài các cỏ cây lùm rừng đều không có các căn không có ghi nhớ không có hay biết, vì y dựa các đại chủng bèn được tăng trưởng, mỗi mỗi đều không có tướng sai khác . Các pháp bên trong cũng như vậy, y dựa gây tạo các nghiệp tăng trưởng tất cả các pháp, không có các tướng ngã nhơn chúng sanhthọ mạng, cũng không có tác giả thọ giả . Các pháp lúc sanh không có gì là năng sanh, lúc diệt không có gì là năng diệt .
Bồ Tát suy nghĩ rằng : các pháp duyên sanh ấy đều riêng không có tự tánh . Vì nó không có tự tánh nên cái khác chẳng sanh nó được, sở nhơn cũng không có tự tánh và sở duyên cũng không có tự tánh . Không có tự tánh thì không có tha tánh . Nếu pháp không có tự tánh tha tánh thì không có sở sanh không có năng sanh, chưa sanh thì chẳng sanh được, đã sanh cũng chẳng sanh . Nếu chưa sanh chẳng phải chưa sanh chẳng sanh ấy thì cứu cánh không có sở sanh không có năng sanh . Vì thế nên tất cả các pháp đều vô sanh vô khởi, chỉ do văn tự mà có giả gọi là từ nhơn duyên sanh mà thiệt thì vô sanh, cũng không đoạn không thường . Tai sao ? Vì nếu các pháp mà có tánh sanh thì sẽ có diệt thành đoạn kiến, còn nếu không diệt thì thành thường kiến . Vì rời lìa đoạn kiến và thường kiến nên biết tất cả các pháp đều không, vô sanh . Đây là Bồ Tát ở nơi thập nhị nhơn duyên khéo được thắng trí phương tiện rời lìa kiến chấp nhị biên vậy .
(2181) T8 P55
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7811
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 12/01/18 01:44

Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát được ấn Như Lai ấn cho trí phương tiện như như vô phân biệt ?
Nơi pháp thậm thâm, Bồ Tát được năng lực hiện tiền tri kiến rời tất cả dựa dính quá các hí luận được vô chung vô thỉ Vô sanh Pháp nhẫn. Đức Như Lai biết rõ căn Bồ Tát được thành tựu rồi liền lấy ấn Như Lai ấn cho, Đó là thọ ký quyết định Chánh Đẳng Giác. Ấn Như Lai ấy không có sai, không có lầm, không có chướng ngại, không có tranh, không có giành chẳng bị trở ngại, không ai bác được không ai phế được. Bồ Tát được Như Lai ấn rồi thì nguyện hạnh thành tựu được nước trí rưới vào đầu.
Bồ Tát được các ấn như vậy ấn cho : Đó là ấn cứu cánh vô sanh vô khởi, ấn không, ấn vô tướng, ấn vô nguyện, ấn ly nhiễm, ấn tịch diệt, ấn Niết bàn. Bồ Tát trí hành được thành tựu chẳng hư hoại tánh như, chẳng biến đổi pháp giới, chẳng lìa bổn tế, ở trong các pháp chẳng thấy thượng trung hạ đen trắng v.v… sai khác. Bồ Tát cũng thấy tất cả chúng sanh được ấn ấy ấn cho, Bồ Tát không có nhớ nghĩ phân biệt chẳng bỏ bổn đại thệ nguyện. Đây là Bồ Tát được ấn Như Lai ấn cho được trí phương tiện như như vô phân biệt vậy.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát nhập môn pháp giới tánh thấy tất cả pháp tánh bình Đẳng ?
Bồ Tát thấy các pháp giới không chỗ nào chẳng đến không lai không khứ, vô sanh vô diệt, vô tướng vô khởi, vô hí vô hành. Bồ Tát suy nghĩ rằng : các pháp ấy đều đồng pháp giới như pháp giới, là rời lìa dục giới vì lìa trần cấu vậy, là vô sanh giới vì vô tác vậy, là vô diệt giới vì không diệt tận vậy, là vô lai giới vì chẳng nhập vào căn môn vậy, là vô khứ giới vì không có chỗ đến vậy, là bất khả an giới vì không có hình chất vậy, là không có ổ hang giới vì không có y chỉ vậy, là chơn thiệt giới vì ba cảnh phần dứt hết vậy. Trong pháp giới ấy không có nhãn giới, không có sắc giới, không có nhãn thức giới, cho đến không có ý giới, không có pháp giới, không có ý thức giới. Như pháp giới tất cả pháp cũng như vậy. Vì thế nên gọi là tất cả pháp nhập vào pháp giới.
Bồ Tát ấy biết tất cả pháp nhập vào pháp giới, biết địa giới cùng pháp giới không có hai không có khác, biết thủy giới hỏa giới phong giới cùng pháp giới không hai không khác.
Bồ Tát biết dục giới cùng pháp giới bình đẳng không hai không khác, biết sắc giới, vô sắc giới, hữu vi giới, vô vi giới cùng pháp giới bình đẳng không hai không khác. Bồ Tát biết không có tâm cảnh giới và giác như vậy. Đây là Bồ Tát nhập vào môn pháp giới tánh thấy tất cả pháp tánh bình đẳng vậy.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát thuần chí dụ như kim cương tâm trụ bất động nơi Đại thừa nầy ?
Bồ Tát dùng trực tâm hành thành tựu tịnh thuần chí, dùng tinh tiến bất thối cứu cánh bất giảm, dùng Đại từ vô ngại, dùng Đại bi không mỏi, dùng phương tiện khắp đến được thành tựu quán huệ chơn thiệt vô ngại, các pháp như vậy đều được thành tựu. Bồ Tát thấy tất cả chúng sanh có cấu trược phàm ngu thô cứng cự nghịch chẳng thuận, do đây mà Bồ Tát giáo hóa tất cả chúng sanh chẳng bỏ rời tinh tiến. Bồ Tát thấy sinh tử có vô lượng vô biên lỗi họa ưu bi khổ não, vì vậy nên Bồ Tát chẳng thối bỏ trang nghiêm vị lai tế. Bồ Tát cũng hiểu vô lượng vô biên a tăng kỳ các Phật pháp. Bồ Tát vì thành tựu các Phật pháp khó tu tập khó thọ trì khó đầy đủ nên trồng các thiện căn để có thể nhập vào vô lượng pháp bửu tạng của Như Lai.
Vì chúng sanh tánh vô lượng, vì pháp tánh vô lượng, vì hư không tánh vô lượng, vì thọ trì pháp bửu tạng của tất cả Như Lai, nên Bồ Tát chẳng bỏ tinh tiến nghe tất cả pháp không vô tướng vô nguyện, vô tác, vô sanh, vô khởi, hiểu rõ phân biệt quán hạnh thân chứng thành tựu Phật pháp chưa được đủ, trọn chẳng có giữa đường, mà chứng nhập thiệt tế. Bồ Tát khéo nhập các thiền định giải thoát tam muội, cũng chẳng nhàm lìa dục giới mà thị hiện thọ sanh trong cõi dục. Bồ Tát đã lìa các ấm giới nhập không hình không sắc không hành mà tùy thuận chúng sanh tánh rồi tùy ý thị hiện các loại thân hình để thuyết pháp cho họ, chuyển pháp luân thị hiện Đại Niết bàn, cũng chẳng bỏ hạnh Bồ Tát nhập vào pháp môn bất tư nghị như vậy. Bồ Tát biết tất cả pháp không có tánh tướng, chẳng động chẳng hư hoại chẳng tan, ở nơi Đại thừa này chẳng thối chuyển. Như kim cương bửu châu có thể soi xét tất cả châu báu khác, mà tất cả báu khác chẳng thể soi xét châu này được. Cũng vậy, có thể dùng Thanh Văn thừa, Bích Chi Phật thừa độ vô lượng vô biên chúng sanh khiến chứng nhập Niết bàn mà tự mình chẳng diệt độ cũng chẳng thối cứu cánh Đại thừa. Đây là Bồ Tát thuần chí kiên cố như kim cương tâm vững trụ chẳng dao động nơi Đại thừa nầy vậy.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát tự tịnh giới của mình như chư Phật giới ?
Bồ Tát biết tất cả pháp không có giới không có tác giới, đến tất cả nơi chỗ không có đến không có chẳng đến. Nếu Bồ Tát thấy pháp phát khởi lục tình đều biết là Phật pháp, cũng chẳng thấy phàm phu pháp và Phật pháp có khác. Bồ Tát nghĩ rằng tất cả pháp nầy đều là Phật pháp vì Phật pháp đến tất cả chỗ vậy. Tất cả pháp và Phật pháp chỉ có danh tự giả, cũng chẳng phải pháp chẳng phải phi pháp. Vì vậy nên chúng ta chẳng nên thủ trước. Do vì tự giới tịnh nên biết tất cả Phật giới tịnh, pháp ấy cùng đồng là bình đẳng. Nhãn giới là Phật giới cho đến ý giới là Phật giới. Ta chẳng nên phân biệt trong ấy có tôn có ti. Bồ Tát đến Nhứt thiết pháp bình đẳng giới như vậy. Đây là Bồ Tát tự tịnh giới của mình như chư Phật giới.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát được Đà la ni trong không thất niệm ?
Bồ Tát đã được thành tựu Đà la ni hạnh, thế nào là Đà la ni hạnh ? Đà la ni hạnh có ba mươi hai thứ :
Bồ Tát tu nơi pháp đã được, vì Đà la ni nên tu pháp nguyện, tu pháp tôn trọng, tu pháp hồi hướng, tu pháp kính ngưỡng, tu pháp ưa thích, tu cầu pháp không nhàm, tu pháp thân cận cúng dường bực đa văn trí huệ, tu pháp đối với Hòa Thượng A Xà Lê không lòng kiêu mạn thường tôn trọng cung cấp hầu hạ, tu đúng theo pháp được dạy bảo không hề chống trái, tu đối với người thuyết pháp tưởng như Phật không tìm chỗ dở, tu thọ trì chánh pháp khai thị giải thuyết, tu không hề lẫn tiếc pháp đã được, tu không hy vọng mà làm pháp thí, tu cầu gốc rễ trí huệ, tu khéo thuận tư duy đúng pháp được nghe, tu kiên cố thọ trì pháp được nghe, tu với phạm hạnh không thôi nghỉ, tu thích xa lìa thật hành hạnh a lan nhã, tu tâm thường tịch tĩnh, tu siêng chánh niệm, tu thuận theo lục hòa kính, tu với các bực tôn trưởng không khinh mạn, tu tâm vô ngại ở trong tất cả chúng sanh, tu pháp duyên sanh được tùy thuận nhẫn, tu tam giải thoát môn chánh quán lòng không kinh sợ, tu tứ thánh chủng hạnh mà chẳng kinh nghi, tu siêng thọ trì chánh pháp của chư Phật, tu vì chúng sanh mà hành đại từ, tu thọ trì chánh pháp chẳng tiếc thân mạng, tu đại trí hạnh chẳng sanh kiêu mạn, tu thường giáo hóa chúng sanh mà không nhàm mỏi. Đây là ba mươi hai pháp tu Đà la ni hạnh của Bồ Tát vậy. Bồ Tát tu rồi được môn Đà la ni như vậy. Vì được môn Đà la ni ấy nên có thể tổng trì pháp được nói của tất cả chư Phật chẳng quên chẳng mất.
(2183) T8 P55
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7811
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 13/01/18 07:01

Đà la ni ấy là với pháp được nghe chẳng quên chẳng mất, dùng niệm mà nhớ, dùng ý phân biệt, dùng tinh tiến hay giác ngộ, nơi các văn tự được không bờ mé, nơi các ngữ ngôn tùy theo các loài đều khéo hiểu rõ, ngôn từ biện thuyết không có trệ ngại. Với kinh bất liễu nghĩa khéo hay tiến vào, nơi kinh liễu nghĩa tiến vào cứu cánh, nơi thế tục Đế có trí phân biệt, nơi Đệ nhất nghĩa Đế biết là không có ngôn thuyết, nơi các Đế có trí phân biệt, nơi Tứ niệm xứ có trí chẳng quên, nơi Tứ chánh cần có trí vô hoại, nơi Tứ thần túc có trí du hí, nơi các căn môn có trí sai biệt, ở trong các lục được trí vô thắng, nơi Thất giác phần có trí giác tất cả pháp như tánh, nơi Bát thánh Đạo có trí không thối mất, ở trong pháp thiền định được tâm thiện trụ, ở trong pháp chánh định huệ được trí biến chí, nơi minh giải thoát được trí tùy thuận, ở trong các biện tài được trí thâm nhập, nơi các thần thông được trí sanh khởi, nơi các Ba la mật được trí phân biệt, nơi tứ nhiếp pháp được pháp phương tiện, với chỗ tán thán pháp có trí dạy nghĩ rằng chẳng bằng, nơi nghĩa các kinh được trí vô phân biệt, nơi các văn tự được trí vô tận, nơi tất cả chúng sanh được trí xứng đủ, tùy pháp học hiểu được trí thuyết pháp, nơi tất cả văn tự được trí biện sở nhơn, nơi tất cả cấu tịnh được trí như thiệt thấu biết, nơi tất cả pháp được trí sáng không chướng che. đây là Đà la ni ấy vậy.
Bồ Tát được Đà la ni bình đẳng tâm thì bỏ lìa ghét thương, kham nhận pháp vũ, dứt tất cả kiết sử nhiệt não, thuận các pháp trợ Đạo, đây là Đà la ni ấy vậy.
Bồ Tát do an trụ Đà la ni ấy nên thường tu hành không lỗi. Đây là Bồ Tát được Đà la ni trong chẳng thất niệm vậy.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát được biện tài vô ngại Như Lai gia trì ?
Bồ Tát khéo tịnh thuần chí khéo thủ hộ giới tụ trừ hết gốc kiêu mạn, lìa quan niệm mình người, chư Phật Thế Tôn biết Bồ Tát như vậy là đại pháp khí nên khiến thọ trì chánh pháp, do nơi Phật thần lực cùng sức tự thiện căn nên được biện tài lanh lẹ, được biện tài mau chóng, được biện tài vô ngại, được biện tài không ngừng trệ, được biện tài khéo nói, được biện tài thậm thâm, được biện tài các thanh âm đầy đủ, được biện tài thiện trang nghiêm, được biện tài không giảm khuyết, được biện tài vô úy, được biện tài kệ hay tán thán, được biện tài nói khế kinh tốt, được biện tài khéo nói thí dụ bổn duyên, được biện tài không ai hơn không ai phá được, được biện tài phân biệt câu vô tận, được biện tài viên mãn đầy đủ, được biện tài oai đức không ai trái nghịch, được biện tài thuyết pháp không luống uổng, được biện tài dứt nghi cho đại chúng, được biện tài đáp lời lẹ, được biện tài phân biệt văn tự không sai lầm, được biện tài vui đẹp đại chúng, được biện tài phương tiện vấn đáp, được biện tài dùng chánh pháp hàng phục tất cả ngoại đạo, Bồ Tát ấy đã thành tựu hai mươi bốn biện tài như vậy.
Bồ Tát tu hành hai mươi bốn nghiệp nhơn thì được thành tựu hai mươi bốn biện tài ấy.
Những gì là hai mươi bốn nhơn ?
Vì chẳng trái nghịch lời dạy của Sư trưởng nên có thể được biện tài lanh lẹ. Vì chẳng dua vạy nên có thể được biện tài mau chóng. Vì bỏ lìa phiền não nên được biện tài vô ngại. Vì không chấp ngã nên được biện tài không trệ. Vì lìa lưỡng thiệt nên được biện tài nói khéo. Vì nhập nhơn duyên pháp vô tế nên được biện tài thậm thâm. Vì làm các việc bố thí nên được biện tài đầy đủ âm thanh. Vì nghiêm sức tháp miếu Như Lai nên được biện tài thiện trang nghiêm. Vì chẳng bỏ tâm Bồ Đề nên được biện tài không giảm khuyết. Vì khéo hộ trì giới tụ nên được biện tài vô úy. Vì cúng thí những tràng phan lọng đẹp linh báu nên được biện tài kệ hay tán thán. Vì cung kính cúng dường cấp thị chư tôn trưởng nên được biện tài nói tốt tu đa la. Vì từ xưa vun trồng tu tập vô lượng thiện căn nên được biện tài khéo nói thí dụ bổn duyên. Vì chẳng khinh tiện chúng sanh ác đạo nên được biện tài không ai hơn không ai phá được. Vì cúng thí vô lượng bửu tạng nên được biện tài phân biệt câu vô tận. Vì nói năng chơn thiệt không thô cộc nên được biện tài tròn đủ. Vì lúc thuyết pháp không tranh cạnh nên được biện tài oai đức không ai trái nghịch. Vì đức thuần tịnh thuận pháp luật hành nên được biện tài thuyết pháp không luống uổng. Vì chẳng lẫn tiếc nơi pháp chẳng cậy ỷ nơi đức của mình nên được biện tài hay dứt nghi cho đại chúng. Vì lúc cầu pháp chẳng lấy oai bức người, thường có lòng cung kính nên được biện tài ứng đối lẹ. Vì thường xét lỗi mình chẳng chê chỗ khuyết kém của người nên được biện tài phân biệt văn tự không sai lầm. Vì bình đẳng nhuần ích cho chúng sanh chẳng mong báo đáp nên được biện tài vui đẹp đại chúng. Vì thọ trì Đại thừa chẳng cầu tiểu thừa nên được biện tài phương tiện vấn đáp. Vì chẳng chấp ngã kiến nhập vào tánh bình đẳng nên được biện tài dùng chánh pháp hàng phục tất cả ngoại đạo. Đây là hai mươi bốn nhơn thành tựu các biện tài, khéo có thể tùy theo chỗ đáng được nhận hiểu của các chúng sanh kia mà thuyết pháp không có sai lầm, những pháp được học cũng chẳng thối thất. Đây là Bồ Tát được biện tài vô ngại Như Lai gia trì vậy.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát được tự tại thị hiện thọ thân sanh tử ?
Bồ Tát thành tựu mười hai pháp thì được tự tại thị hiện thọ thân sanh tử.
Vì thân cận bực chơn thiện tri thức vậy. Vì tiêu trừ ngã kiến vậy. Vì trọn nên giới thân vậy. Vì khéo biết nhập định xuất định vậy. Vì gồm tu trí huệ phương tiện vậy. Vì khéo biết thâm nhập các thần thông du hí vậy. Vì như thiệt quán biết các pháp vô sanh vô khởi vậy. Vì tịnh giống bổn nguyện vậy. Vì thường chẳng bỏ Đại từ Đại bi vậy. Vì biết tất cả pháp như huyễn hóa vậy. Vì biết các pháp như mộng tưởng vậy. Vì được tất cả gia oai thần vậy.
Đây là Bồ Tát thành tựu mười hai pháp không có sanh mà thị hiện thọ sanh, không có khởi mà thị hiện phát khởi, thị hiện tất cả thân sanh tử. Nơi pháp hội của tất cả chư Phật thị hiện thân mình. Ở các Phật quốc độ đều thị hiện thọ sanh mà thường chẳng động nơi chơn pháp thân. Đây là Bồ Tát được tự tại thị hiện thọ sanh tử vậy.
(2186) T8 P55
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7811
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 14/01/18 06:52

Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát phá các oán địch trừ lìa bốn ma ?
Bồ Tát chuyên cần tu tập quán năm ấm như ảo huyễn thì được lìa ma ngũ ấm. Vì quán các pháp tánh thanh tịnh nên lìa ma phiền não. Vì quán tất cả pháp theo duyên sanh tánh nó chẳng thành tựu nên lìa ma chết. Vì quán tất cả pháp được duyên tạo thành là tướng vô thường bại hoại nên lìa thiên ma.
Vì Bồ Tát quán các pháp như vậy nên được lìa bốn ma tiến đến Bồ Đề trọn chẳng giải đãi. Bao nhiêu ma nghiệp chướng ngại Bồ Đề, Bồ Tát đều xa lìa cả. Sao gọi là ma nghiệp ?
Có tâm niệm hướng đến Nhị thừa là ma nghiệp. Chẳng thủ hộ Bồ Đề tâm là ma nghiệp. Với các chúng sanh có quan niệm sai khác là ma nghiệp. Nơi bố thí mong báo là ma nghiệp. Vì thọ sanh mà trì giới là ma nghiệp. Có sắc tưởng mà tu hành nhẫn nhục là ma nghiệp. Vì thế sự mà siêng tinh tiến là ma nghiệp. Nơi thiền định có ý tưởng thích ưa là ma nghiệp. Nơi huệ sanh hí luận là ma nghiệp. Nhàm mỏi sanh tử là ma nghiệp. Tu các thiện căn mà chẳng hồi hướng Vô thượng Bồ Đề là ma nghiệp. Chán ghét phiền não là ma nghiệp. Phạm tội phú tàng là ma nghiệp. Ganh ghét chư Bồ Tát là ma nghiệp. Phỉ báng chánh pháp là ma nghiệp. Chẳng thọ học chánh pháp là ma nghiệp. Chẳng biết báo ơn là ma nghiệp. Chẳng tiến cầu Ba la mật là ma nghiệp. Chẳng kính thuận chánh pháp là ma nghiệp. Lẫn tiếc nơi pháp là ma nghiệp. Vì lợi dưỡng mà thuyết pháp là ma nghiệp. Chẳng biết phương tiện mà hóa độ chúng sanh là ma nghiệp. Bỏ tứ nhiếp pháp là ma nghiệp. Khinh hủy cấm giới là ma nghiệp. Ganh ghét người trì giới là ma nghiệp. Học hạnh Nhị thừa là ma nghiệp. Hi vọng chánh vị là ma nghiệp. Bỏ lìa đại từ mà quán vô sanh là ma nghiệp. Muốn chứng pháp vô vi là ma nghiệp. Nhàm lìa công đức hữu vi là ma nghiệp. Chẳng thương chúng sanh là ma nghiệp. Chẳng khiêm hạ bực tôn truởng là ma nghiệp. Tập làm lưỡng thiệt là ma nghiệp. Dua nịnh nhiều gian là ma nghiệp. Hiển bày tịnh hạnh của mình là ma nghiệp. Làm ác chẳng thẹn là ma nghiệp. Chẳng lưu bố chánh pháp là ma nghiệp. Lấy ít công đức làm đủ là ma nghiệp. Tóm lại, nếu thân cận làm tất cả pháp bất thiện mà xa lìa tất cả thiện pháp đều là ma nghiệp cả. Đây là ma nghiệp. Người làm các nghiệp ấy thì chướng đạo Bồ Đề. Chư Bồ Tát ấy đã vượt quá đã bỏ lìa nên có thể chánh thọ hành.
Thế nào là chánh thọ hành ?
Bồ Tát thành tựu bốn pháp thì có thể chánh thọ hành.
Một là nơi các pháp Ba la mật không giải đãi thối thất hành. Hai là chẳng bỏ dục tiến và bất phóng dật. Ba là chánh trụ trong pháp phương tiện đại từ. Bốn là nhập pháp môn thậm thâm không có ái không có ổ hang.
Vì Bồ Tát thành tựu bốn pháp chánh thọ hành nên có thể phá các oán địch. Đây là Bồ Tát hay phá oán địch trừ lìa bốn ma vậy.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát trang nghiêm tư lương công đức lợi ích các chúng sanh ?
Bồ Tát thiện căn hồi hướng hướng đến Vô thượng Bồ Đề. Nếu có thiện căn được vun trồng như bố thí ái ngữ lợi hành đồng sự đều đem thí cho tất cả chúng sanh. Do thanh tịnh giới tụ nên được sức tự tại. Dùng sức tự tại ấy, Bồ Tát tùy theo chỗ đáng ưa thích của các chúng sanh mà hóa độ họ. Do vun trồng công đức không chán nhàm nên được tay báu vô tận. Dùng bửu thủ vô tận ấy, Bồ Tát có thể bố thí chúng sanh vô lượng giàu vui. Do cầu vô biên trí huệ tư lương nên được biện tài Đà la ni vô ngại. Dùng vô ngại Đà la ni biện tài ấy, Bồ Tát có thể tổng trì chỗ nói của tất cả chư Phật, Bồ Tát có thể nói diệu pháp làm vui đẹp đại chúng. Do vì khéo nói điều thân tâm nên chẳng thối thần thông. Dùng sức các thần thông bất thối ấy, Bồ Tát có thể qua đến vô lượng cõi Phật dùng vô số phương tiện độ nhiều chúng sanh. Do siêng cầu pháp không mỏi mệt nên được mỗi lỗ lông phát xuất vô lượng pháp môn. Dùng sức phát xuất vô lượng pháp môn, Bồ Tát có thể thường dùng pháp thí lợi ích chúng sanh. Do gồm tu huệ phương tiện Ba la mật nên được trí phân thân. Dùng sức trí phân thân ấy Bồ Tát có thể ở trong các loài nơi nơi hiện thân hóa độ quần sanh. Do thường dùng vô tướng cung kính cấp thị chư Phật nên được kiến văn không nhàm chán. Dùng sức kiến văn không chán ấy, có chúng sanh nào được thấy nghe Bồ Tát ấy, thì các chúng sanh ấy nhẫn đến do nơi Bồ Tát trang nghiêm công đức tư lương lợi ích chúng sanh.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát ở nơi thời gian không có Phật xuất thế mà có thể làm Phật sự hóa độ chúng sanh ?
Bồ Tát đã thành tựu Bồ Tát thập lực, đã ở trong bốn vô sở úy của Bồ Tát được tự tại, đã ở trong Bồ Tát mười tám pháp bất cộng chẳng từ người khác để thọ, đã tu Như Lai lực vô sở úy pháp bất cộng, đã được du hí thủ lăng nghiêm tam muội, đã ở nơi bốn biện tài được trí lực tự tại, đã ở trong Phật pháp được quán đảnh chánh vị, ở nơi tất cả Bồ Tát hạnh được thần lực kế thứ Phật.
Nếu Bồ Tát thành tựu các pháp như vậy, chúng sanh nơi các Phật độ nào đáng thấy thân Phật mà được hóa độ, những Phật độ ấy nhằm thời kỳ không có Phật xuất thế, thì Bồ Tát ấy liền ở quốc độ ấy thị hiện thời gian nhập thai, sơ sanh, xuất gia, thị hiện thời gian ngồi đạo tràng chuyển pháp luân, thị hiện xả thọ mạng đến thời gian nhập Niết bàn, cũng có thể thị hiện Đại bát Niết bàn, cũng thị hiện pháp trụ thời tiết lâu mau, cũng còn chẳng bỏ Bồ Tát hành pháp, cũng chẳng dùng chỗ được hóa độ lấy đó làm đầy đủ. Đây là Bồ Tát lúc thế gian không có Phật có thể làm Phật sự giáo hóa chúng sanh.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát nhập hải ấn tam muội có thể biết tâm hành của tất cả chúng sanh ?
Bồ Tát đa văn như biển thành tựu huệ tụ, thường siêng cầu pháp. Vì nghe pháp mà Bồ Tát có thể xả thí hết trân bửu kho tàng. Vì nghe pháp mà Bồ Tát có thể xả thí hết tôi tớ kẻ sai sử vợ con quyến thuộc. Vì nghe pháp mà Bồ Tát xả thí những món trang sức trên thân và nhà cửa. Vì nghe pháp mà Bồ Tát có thể hạ mình hầu hạ chịu sự sai khiến. Vì nghe pháp mà Bồ Tát bỏ ngôi cao sang cả nước cho đến xả thân mạng mình. Bồ Tát dùng vô số phương tiện siêng cầu pháp môn như vậy mà chẳng cậy sở hành. Vì nghe pháp mà Bồ Tát đi đến một do tuần hoặc trăm do tuần. Vì nghe một bài kệ bốn câu để thọ trì đọc tụng rộng vì người giải nói mà chẳng bỏ tinh tiến ấy.
Bồ Tát nầy tự thành tựu Đa văn, với tất cả chúng sanh phát tâm Đại bi tâm không ái nhiễm tâm chẳng mong báo đáp mà vì họ thuyết pháp, nhẫn đến không khinh rẻ một chúng sanh, thuyết pháp một ngày đến bảy ngày không quan niệm ăn uống cho đến mạng chung cũng không bỏ thuyết pháp. Đem thiện căn thuyết pháp hồi hướng hải ấn tam muội. Tùy pháp được nghe thọ trì đọc tụng thông thạo khéo biết nghĩa thú chẳng y dựa văn tự chơn thiệt kiên trì trọn đời chẳng bỏ. Bồ Tát phát đại nguyện tinh tấn, dùng sức đại nguyện tinh tiến ấy chẳng bao lâu bèn được hải ấn tam muội. Được tam muội nầy rồi thì được tự nhiên vô lượng a tăng kỳ trăm ngàn vạn pháp môn, được vô lượng a tăng kỳ trăm ngàn vạn ức tu đa la chẳng nghe nơi người mà tự nhiên có thể diễn nói. Pháp của tất cả chư Phật nói đều có thể thọ trì, có thể rõ biết tâm hành của tất cả chúng sanh.
Dụ như Diêm Phù Đề tất cả chúng sanh thân và những hình sắc cảnh ngoài đều có ấn tượng trong đại hải, vì vậy mà gọi Đại hải là ấn. Cũng vậy, Bồ Tát được hải ấn tam muội rồi có thể phân biệt thấy tâm hành tất cả chúng sanh, nơi tất cả pháp môn đều được huệ sáng tỏ. Đây là Bồ Tát được hải ấn tam muội thấy tâm hành cảnh giới của tất cả chúng sanh vậy.
Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát biết các trần giới vô ngại ?
Do nhãn không nên Bồ Tát biết sắc cũng không, do sắc ly nên biết nhãn cũng ly, do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, và ý không nên Bồ Tát biết thanh, hương, vị, xúc và pháp cũng không, do thanh, hương, vị, xúc và pháp ly nên biết nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý cũng ly.
Bồ Tát như thiệt biết không tánh ly tánh, nơi nội pháp và ngoại pháp không có chướng ngại.
Bồ Tát vì biết các kiết bổn tánh tịnh thì không phát khởi các sử. Nơi tất cả các pháp không có tham trước. Bồ Tát chẳng thấy các pháp có chỗ trước, cách trước và ai trước. Đây là Bồ Tát biết rõ trần giới vô ngại vậy.
(2189) T8 P55
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7811
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 15/01/18 08:30

Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát oai nghi hạnh thành tựu lìa các tối tăm được ánh sáng thù thắng, ở trong các pháp được tự nhiên trí, mau được thành tựu Nhứt thiết trí hành ?
Bồ Tát phát khởi chỗ làm tu tập chánh hạnh các nghiệp đều được Như Lai hứa khả, người trí khen ngợi, đó là các nghiệp nơi thân, khẩu và ý. Do hành các chánh hạnh nghiệp ấy nên vui đẹp chư Phật và chư Hiền Thánh các bực thiện tri thức. Những nghiệp hạnh được làm không ai có thể chê trách, là tối thắng vô thượng vô đẳng. Không ai có thể phá tổn nghiệp hạnh của Bồ Tát ấy. Nơi các nghiệp hạnh đã làm Bồ Tát ấy trọn không thối hối. Các nghiệp được làm chẳng xen tạp ngu si, các nghiệp được làm đều có thể xem thấy biết rõ, các nghiệp được làm trọn chẳng động chuyển, các nghiệp được làm đều cứu cánh lành tốt. Bồ Tát ấy biết các nghiệp được làm chẳng phải do kiêu mạn, là trí huệ làm chẳng phải do ngu si.
Bồ Tát ấy làm các thiện nghiệp như vậy thì tất cả tam muội môn tất cả Đà la ni môn đều hiện ra chẳng từ người khác nghe.
Bồ Tát ấy hoặc thấy chư Phật hoặc chẳng thấy chư Phật trọn chẳng thối chuyển các thiện căn trợ Bồ Đề Đạo, hoặc gặp thiện tri thức thích ý hoặc gặp thiện tri thức chẳng thích ý cũng chẳng thối chuyển pháp Bồ Đề.
Bồ Tát ấy qua khỏi tất cả bực chướng ngại, lìa tất cả ma kiết sử tu ba môn giải thoát. Do sức Bát Nhã Ba la mật nên mau được Phật đạo, tự nhiên đạo, Nhứt thiết trí đạo, Như Lai đạo. Đây là Bồ Tát oai nghi hạnh thành tựu lìa các tối tăm được quang minh thù thắng, ở trong các pháp được tự nhiên trí, mau được thành tựu Nhứt thiết trí hành".
Muốn tuyên lại nghĩa ấy, Đức Thế Tôn nói kệ rằng :
Đã lìa lỗi vô ngại
Huệ công đức trang nghiêm
Bồ Tát lìa trước tướng
Hồi hướng đạo vô thượng
Bỏ ngã mạn kiêu mạn
Bồ Tát trang nghiêm trí
Vô chướng ngại giải thoát
Đầy đủ Nhứt thiết trí
Chẳng sắc chẳng chủng tánh
Niệm Phật chẳng công đức
Thường nhớ tưởng pháp thân
Niệm nầy Phật hứa khả
Ly dục tánh tịch tĩnh
Chẳng tướng chẳng sáng tối
Không tâm không ý hành
Đây gọi là niệm Pháp
Thánh vô vi không ái
Không các phiền não nhiễm
Do giải thoát được tên
Gọi niệm Tăng vô ngại
Đã bỏ tất cả thọ
Không ấm giới nhập hành
Giải thoát các động niệm
Gọi cứu cánh niệm xả
Chẳng dựa vô lậu giới
Chẳng hành thân khẩu ý
Chẳng sanh quá ba cõi
Gọi niệm vô lậu giới
Như trời sạch không nhơ
Trời Đâu Suất quán đảnh
Ghi nhớ nghiệp báo mình
Sẽ làm Trời trong Trời
Trì chánh pháp của Phật
Bỏ lìa các phiền não
Giải thoát pháp phi pháp
Là trì chánh pháp Phật
Như Phật đắc đạo tướng
Thọ trì pháp cũng vậy
Khéo tư duy chơn tế
Không pháp nhiếp trì được
Như tánh ngã thanh tịnh
Tánh các pháp cũng tịnh
Biết chúng sanh tướng như
Mà giáo hóa chúng sanh
Chẳng thấy chúng sanh tăng
Chẳng thấy chúng sanh giảm
Dạy dứt đường điên đảo
Giáo hóa vô lượng chúng
Nơi các ấm giới nhập
Chẳng khác với Phật giới
Biết như hư không tánh
Thì nhập vào Phật giới
Ngôn ngữ các văn tự
Dường như vang ứng tiếng
Biết chẳng nội chẳng ngoại
Liền Được Đà la ni
Thọ trì đọc tụng thạo
Tiến cầu nói các pháp
Không quan niệm ngã pháp
An trụ Đà la ni
Trì pháp được Phật nói
Khéo nói vui Đại chúng
Chẳng mất các thiền Định
Là sức Đà la ni
Chẳng trì chẳng tụng văn
Chẳng tích tập các pháp
Thường thuyết pháp vô ngại
Như rồng tuôn mưa lớn
Không trụ không chướng ngại
Nói vô lượng khế kinh
Chẳng quan niệm chúng sanh
Người trí được biện tài
Do Phật lực thuyết pháp
Trang nghiêm oai nghi mình
Tùy sở thích đại chúng
Biện tài này Phật hứa
Người biết pháp thiệt tánh
Bình Đẳng như hư không
Không ngã nhơn thọ mạng
Trì Phật pháp như vậy
Chúng sanh đồng Niết bàn
Cứu cánh bất sanh diệt
Được trí bất động nầy
Đây là bất phóng dật
Thấy các ấm như huyễn
Các giới như pháp tánh
Lục nhập duyên sanh rỗng
Được lìa ma ngũ ấm
Kiết sử như mây nổi
Cứu cánh không hòa hiệp
Nơi pháp không vọng tưởng
Lìa được phiền não ma
Biết chúng sanh chẳng sanh
Vô sanh thì vô diệt
Các pháp không khứ lai
Như vậy quá tử ma
Người không ái không động
Hành đạo không tưởng đạo
Hành bi không ngã nhơn
Thì hàng phục chúng ma
Biết trí thức bình đẳng
Chẳng trụ vi vô vi
Biết chúng sanh tâm như huyễn
Tâm khỏe không phá được
Đây kia không chướng ngại
Thành tựu thắng pháp thuyền
Đưa chúng không tưởng chúng
Gọi là đại Thuyền Sư
Biết không, không có ngã
Sạch sanh tử khát ái
Dìu dắt đưa chúng sanh
Gọi là đại đạo Sư
Khéo biết tướng tiến thối
Tùy pháp mà y chỉ
Phương tiện hiện Niết bàn
Phật nói Thiện đạo Sư
Biết tâm tâm tương tục
Hai tâm chẳng cộng chung
Gọi là biết tâm tánh
Phật khen hay hộ chúng
Biết các pháp tánh tịnh
Như không trăng trong nước
Người biết lìa phiền não
Gọi là tịnh chúng sanh
Biết một biết tất cả
Biết các pháp như mộng
Hư không chẳng lấy được
Đắc đạo không nhiễm ô".
Lúc Đức Phật nói môn phân biệt các pháp ấy có bẩy mươi hai na do tha chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ Đề, ba vạn hai ngàn Bồ Tát được Vô sanh Pháp nhẫn. Nhà Đại Bửu Trang Nghiêm Đường chấn Động sáu cách, ánh sáng lớn chiếu khắp. Chư Thiên ở trên không trỗi trăm ngàn kỹ nhạc, mưa các thứ hoa trời và đồng thanh nói rằng : «Các chúng sanh ấy được ấn Như Lai cho, đã vào trong pháp Như Lai nghe pháp môn ấy được tịnh tín giải thọ trì thông thạo có thể diễn nói cho mọi người và như pháp tu hành".
(2193) T8 P55
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7811
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 16/01/18 05:02

Chư Thiên bạch Đức Phật rằng : «Bạch Đức Thế Tôn ! Tất cả chúng tôi hướng về Phật độ nầy thâm tâm cúng dường cung kính lễ lậy vì Đức Như Lai Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất thế vậy. Chúng tôi nghe nói pháp môn phương tiện ấy và thấy chư Bồ Tát ở quốc độ nầy".
Hư Không Tạng Bồ Tát nghe Đức Phật giải nói rồi, tâm tịnh hoan hỷ. Tâm tịnh hoan hỷ rồi Đem màn báu vô giá cúng dường Đức Phật. Trong màn báu phóng ánh sáng lớn chiếu mười phương chư Phật quốc độ.
Cúng dường rồi Hư Không Tạng Đại Bồ Tát bạch rằng : «Bạch Đức Thế Tôn ! Thiệt là chưa từng có. Như Lai vô ngại trí thậm thâm khó hiểu như vậy. Đức Như Lai Ứng Cúng, Chánh Biến Tri như pháp môn được nghe, Đức Phật dùng vô ngại trí như thiệt giải nói, tất cả đại chúng đều được hoan hỷ".
Lúc bấy giờ trong Đại chúng có một Bồ Tát hiệu là Tốc Biện liền từ tòa ngồi đứng dậy trịch y vai hữu, gối hữu chấm đất cung kính chắp tay bạch rằng : «Bạch Đức Thế Tôn ! Hư Không Tạng Bồ Tát nầy có nhơn duyên gì mà tên là Hư Không Tạng ?".
Đức Phật nói : «Nầy Tốc Biện ! Như đại phú trưởng giả có dân chúng đông, kho tàng vô lượng của báu đầy dẫy hay làm việc bố thí tâm không lẫn tiếc. Lúc làm việc bố thí nếu người nghèo cùng đến thì tùy ý họ cần dùng, trưởng giả khai kho báu lớn đều có thể cấp cho cả, các người xin kia đều được vừa ý. Trưởng giả ấy bố thí rồi trong lòng vui mừng không hối tiếc.
Cũng vậy, Hư Không Tạng Bồ Tát vì thường làm công đức thành tựu phương tiện lực hồi hướng, vì giới thân thiện thanh tịnh, vì được thành tựu thần túc lực, vì thuần chí cứu cánh thiện thanh tịnh, vì sở nguyện tăng ích thành tựu, vì biết tất cả pháp như ảo hóa, vì được Như Lai thần túc lực, nên ở trong hư không tùy chúng sanh cần dùng, hoặc pháp hoặc tài đều có thể thí cho, đều làm cho hoan hỷ. Vì Đại Sĩ ấy chứng phương tiện trí như vậy nên gọi tên là Hư Không Tạng.
Còn nữa, nầy Tốc Biện ! Quá khứ vô lượng a tăng kỳ kiếp, lại quá vô lượng a tăng kỳ kiếp, bất khả tư nghị, bất khả xưng bất khả lượng, bất khả toán số kiếp, lúc bấy giờ có Phật xuất thế hiệu là Phổ Quang Minh Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn, thế giới tên Đại Vân Thanh Tịnh, kiếp tên Hư Không Tịnh. Thế giới Đại Vân Thanh Tịnh ấy thạnh vượng đầy đủ an ổn khoái lạc, hàng trời người đông đúc, mặt đất bằng phẳng không có những cát sỏi gai góc, dây báu giăng thành khu thành đường trang nghiêm với nhiều thứ châu báu như nhuyến như thiên y, hoa vàng diêm phù đàn trải khắp mặt đất xen lẫn các châu báu. Chúng sanh trong thế giới Đại Vân Thanh Tịnh ấy không có phân biệt thượng trung hạ, trời và người đồng đẳng như Trời Đâu Suất. Trong thế giới ấy không có tụ lạc thôn ấp, tất cả hàng trời người đều ở lâu đài báu đẹp, lầu các của người ở mặt đất, cung điện chư Thiên ở hư không, chỉ có thế này là khác, Đức Phổ Quang Minh Vương Như Lai thọ mười sáu trung kiếp, dùng Bồ Tát làm Tăng có mười sáu na do tha chúng đều được thần thông du hí đều được tự tại nơi Bồ Tát hạnh.
Lúc ấy ở giữa Đại Thiên thế giới Đại Vân Thanh Tịnh ấy có một tứ thiên hạ tên là Nhựt Minh, Đức Phật Phổ Quang Minh Vương Như Lai thành Vô thượng Chánh giác tại nơi ấy, rồi làm Phật sự khắp cõi Đại Thiên.
Trong tứ thiên hạ Nhựt Minh có Chuyển Luân Thánh Vương tên Công Đức Trang Nghiêm trị cả tứ thiên hạ thành tựu đủ bảy báu.
Trong Nhựt Minh tứ thiên hạ, Thánh Vương Công Đức Trang Nghiêm xây đài bảy báu, từ Đông sang Tây rộng tám do tuần, từ Nam đến Bắc rộng bốn do tuần, vòng quanh bửu đài có năm trăm khu vườn nhà.
Thánh Vương Công Đức Trang Nghiêm có ba mươi ba vạn sáu ngàn cung nhơn thể nữ xinh đẹp lộng lẫy như ngọc nữ cõi trời, có bốn vạn đồng tử đoan chánh dũng kiện đều riêng có sức khoẻ bằng nửa na la diên.
Thánh Vương ấy cùng các đồng tử thể nữ quyến thuộc đồng đến vườn Đại Lạc trang nghiêm dạo chơi trỗi nhạc ca vũ để tự vui. Trong chúng ấy có hai đại phu nhơn tên là Đức Oai và Đức Quang rời chỗ đến dưới một cội cây ngồi tư duy các hành vô thường. Lúc đương tư duy trên gối mỗi phu nhơn có một con trai hóa sanh. Hai trẻ nhỏ ấy thân hình xinh tốt đoan nghiêm thành tựu sắc thân vi diệu đệ nhứt, người thấy không chán, trên thân phóng ánh sáng lớn chiếu khắp khu vườn. Trên không chư Thiên xướng rằng : hai đồng tử này một người tên là Sư Tử, một người tên là Sư Tử Tiến. Do đó mà mọi người gọi tên hai Đồng tử ấy là Sư Tử và Sư Tử Tiến.
Hóa sanh chẳng bao lâu, hai đồng tử ấy nói kệ khen Thánh Vương Công Đức Trang Nghiêm rằng :
Xưa tạo thiện ác chẳng hư mất
Cúng dường chư Phật cũng chẳng mất
Thuần chí chẳng bỏ tâm Bồ Đề
Kiên trì chỗ nghe chẳng quên trí
Điều phục tự gìn chẳng mất giới
Nhẫn nhục nhu hòa khéo phòng hộ
Người hay báo ơn tạo nghiệp lành
Hay siêng tinh tiến chẳng mất đạo
Khéo hay chuyên tâm định các căn
Tâm hay phân biệt tư duy huệ
Do trí hay tạo nghiệp chẳng trược
Dùng tịnh pháp ấy chứng Bồ Đề
Chẳng bị phiền não làm nhiễm trước
Khéo hay phân biệt các nghĩa thú
Vì vậy bỏ được thân thọ thai
Hóa sanh trong hoa sen thanh tịnh
Chúng tôi từ Phật Thượng Y Vương
Nghe Phật Phổ Quang Minh Vương nầy
Trí huệ vô đẳng chẳng nghĩ bàn
Vì pháp nên đến thế giới đây
Mong cùng Phụ Vương đến chỗ Phật
Lễ bái cúng dường Đại Pháp Vương
Chư Phật Thế Tôn rất khó gặp
Cũng như hoa ưu Đàm bát la.
Thánh Vương Công Đức Trang Nghiêm nghe lời nói của hai đồng tử rất vừa ý, cả đại chúng đồng hoan hỷ cùng vây quanh Thánh Vương số đến trăm ngàn vạn đồng đến chỗ Đức Phật Phổ Quang Minh Vương đem các thứ hoa hương vi diệu, các chuỗi ngọc trân châu và các thứ kỹ nhạc cúng dường lễ lậy hữu nhiễu bảy vòng rồi chắp tay cung kính đứng nơi trước.
Lúc ấy Sư Tử và Sư Tử Tiến đảnh lễ chơn Phật dùng miệng úp lên chưn Phật mà nói lời khen ngợi khéo thuận pháp nghĩa :
Phật là nhà là chỗ dựa nương
Khai sáng lớn cho đời tối tăm
Biết rõ tâm hành của chúng sanh
Tùy chúng tin ưa làm vui đẹp
Nay Đại vương nầy cậy ngôi vua
Tham sắc thanh hương vị xúc pháp
Vì vậy chẳng chịu đến chỗ Phật
Mất sự cúng dường chẳng nghe pháp
Lành thay Thế Tôn phát Đại bi
Xin nói pháp Bồ Đề Vô thượng
Khiến Đại vương nầy phát đạo tâm
Kiên cố bất thối nơi Phật trí.
Nghe lời thỉnh cầu của hai Đồng tử, Đức Phổ Quang Minh Vương Như Lai dũng thân lên hư không cao tám mươi cây Đa la.
Đức Phật ở hư không nói kệ bảo Thánh Vương Công Đức Trang Nghiêm rằng :
Nay nhơn vương chí tâm nghe
Nghe rồi y pháp mà phụng hành
Ngũ dục vô thường dụ như mộng
Mạng người như lửa cỏ sương mai
Vua và nước thành như ảo hóa
Vì vậy người trí chẳng nên tham
Quen ham dục lạc không nhàm đủ
Quen dục càng thêm lòng khát ái
Tham dục chưa đủ mà mạng chung
Chỉ người được thánh trí mới đủ
Vua nên khéo thuận quán thân mình
Ngũ ấm như huyễn chẳng kiên cố
Tứ Đại kia như bốn rắn Độc
Sáu căn không thiệt như khối rỗng
Vợ con trân bửu và ngôi vua
Lúc vua lâm chung không ai theo
Chỉ có giới thí bất phóng dật
Đời nay đời sau làm bạn lữ
Xem Phật thần thông lực vô úy
Dùng các tướng hảo trang nghiêm thân
Thuyết pháp dạy chúng hàng đệ tử
Vì vậy vua nên phát đạo tâm.
Nghe Đức Phật xong, Thánh Vương cùng vợ con quyến thuộc bảy mươi sáu ngàn ức người đều rất vui mừng đồng phát tâm Vô thượng Bồ Đề rằng :
Nay chúng tôi phát đạo tâm thệ cứu độ tất cả chúng sanh, vì chúng sanh chúng tôi tu diệu hạnh lúc thành Phật rồi sẽ độ thoát họ.
Thánh Vương Công Đức Trang Nghiêm nghe Đức Phật Phổ Quang Minh Vương nói pháp và thấy thần biến rồi càng thêm kiên cố tâm Bồ Đề, vua đảnh lễ chưn Phật bạch rằng :
Ngưỡng mong Đức Thế Tôn và Bồ Tát Đệ tử thọ tôi thỉnh cúng dường suốt tám vạn bốn ngàn năm những y phục, món ăn, giường nệm, thuốc men và tất cả vật cần dùng.
Đức Phật cùng Đại chúng vì thương mến vua nên thọ thỉnh.
Thánh Vương Công Đức Trang Nghiêm biết Phật đã thọ thỉnh vui mừng hớn hở đảnh lễ hữu nhiễu rồi lui về.
Hai Vương tử Sư Tử và Sư Tử Tiến cùng hai vạn Vương tử bỏ giàu sang thế tục đồng ở trong Phật pháp xuất gia tu hành chuyên cần tinh tiến thích cầu pháp lành. Xuất gia chẳng lâu, Sư Tử và Sư Tử Tiến được ngũ thần thông kiên cố bất thối. Biết hai người này đã được ngũ thần thông, Đức Phật gia hộ oai thần cho hai người này thường vì chúng sanh mà nói diệu pháp. Hai Tỳ Kheo ấy ở trong cõi Đại Thiên Đại Vân Trang Nghiêm từ quốc độ này đến quốc độ kia, từ tứ thiên hạ này đến tứ thiên hạ kia thuyết pháp hóa độ vô lượng a tăng kỳ chúng sanh khiến họ kiên cố bất thối Vô thượng Đại thừa.
(2197) T8 P55
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần


Quay về “Kinh Luật Luận”

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách