KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Để giữ gìn sự trang nghiêm, thuần túy tạo nguồn tư liệu; nơi đây chỉ đăng Kinh Văn mà không thảo luận.

Điều hành viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7627
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 11/10/17 05:59

Bạch đức Thế Tôn ! Chư Phật Như Lai bất khả tư nghị, công hạnh Bồ Tát không có ngằn mé, vì vậy nên nay tôi kính hỏi đấng Như Lai Vô thượng Pháp Vương đại từ đại bi, để đem lại sự lợi ích cho chúng sanh về pháp thậm thâm.
Thế nào gọi là Bồ Tát hạnh ? Dùng gì làm anh lạc trang nghiêm mà công hạnh của Bồ Tát được thanh tịnh ? Làm sao có thể phá được tối ngu si ? Làm sao có thể dứt hết lòng nghi lầm ? Bồ Tát vì chúng sanh tu tâm từ bi thế nào ? Bồ Tát ùng hộ chúng sanh thế nào ? Thế nào là Bồ Tát hay tu Bồ Tát nghiệp, thiện nghiệp và bất thối nghiệp ? Nguyện đức Như Lai xót thương tuyên dạy cho. Đại chúng trong pháp hội nầy đều có lợi căn trí huệ có thể hiểu lời Phật. Có thể biết pháp giới, có thể thấu đạt pháp môn vô ngại sở hành của Bồ Tát, có thể phá hoại tất cả ma và nghiệp ma, có thể trừ hết lòng nghi, có thể hiểu cảnh giới thậm thâm của Phật, có thể biết chúng sanh giới và chúng sanh tâm tánh, có thể thấy vô lượng chư Phật thế giới, có thể hộ trì Như Lai vô thượng chánh pháp, có thể được đại tự tại nơi tất cả pháp ».
Đức Thế Tôn khen Đà La Ni Tự Tại Vương đại Bồ Tát rằng : Lành thay lành thay ! Thiện nam tử có thể hỏi đức Như Lai về những nghĩa thậm thâm, có thể hay thật hành vô lượng Phật hạnh, ông có thể biết hỏi đức Phật như vậy. Nay ông nên lắng nghe, đức Như Lai sẽ vì ông mà tuyên nói nếu Bồ Tát thành tựu đầy đủ những công hạnh như vậy thì được đại tự tại nơi tất cả pháp.
Nầy thiện nam tử ! Bồ Tát có bốn anh lạc trang nghiêm, đó là giới anh lạc trang nghiêm, tam muội anh lạc trang nghiêm, trí huệ anh lạc trang nghiêm và đà la ni anh lạc trang nghiêm.
Giới anh lạc trang nghiêm có một thứ, đó là đối với chúng sanh không có lòng làm tổn hại, nếu Bồ Tát không có tâm ác hại thì tất cả chúng sanh đều vui mừng thích thấy. Còn có hai thứ, đó là đóng bít ác đạo và mở rộng cửa lành. Còn có ba thứ, đó là thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh và ý thanh tịnh. Còn có bốn thứ, đó là sở cầu đều được, sở nguyện đầy đủ, sở nguyện thành tựu, chỗ muốn thì đều có thể làm được. Còn có năm thứ, đó là tín, giới, định, niệm và huệ. Còn có sáu thứ, đó là chẳng phá giới, chẳng lậu giới, chẳng tạp giới, chẳng hối giới, tự tại giới, và vô lậu giới. Còn có bảy thứ, đó bảy thanh tịnh : bố thí thanh tịnh, nhẫn nhục thanh tịnh, tinh tiến thanh tịnh, thiền định thanh tịnh, trí huệ thanh tịnh, phương tiện thanh tịnh và thiện phương tiện thanh tịnh. Còn có tám thứ, đó là tám cụ túc : vô tác cụ túc, địa cụ túc, bất vong tâm cụ túc. bất huởn cụ túc, chư căn cụ túc. Phật thế cụ túc, ly nạn cụ túc và thiện hữu cụ túc . Còn có chín thứ, đó là bất động, bất úy, định trí, tịch tĩnh, chí tâm, thanh lương, kiết huởn, điều tâm và an trụ điều phục địa. Còn có mười thứ, đó là thân thanh tịnh vì có đủ ba mươi hai tướng tốt, khẩu thanh tịnh vì lời nói không hai, ý thanh tịnh vì đã giải thoát, điền thanh tịnh vì làm cho chúng sanh đầy đủ phước đức, tâm thanh tịnh vì điều phục chúng sanh, cõi nước thanh tịnh vì giáo hóa chúng sanh, danh hiệu thanh tịnh vì được công đức Như Lai, huệ thanh tịnh vì có đại thần thông, phương tiện thanh tịnh vì phá các ma chúng, và giới thanh tịnh vì có đủ pháp bất cộng. Nầy thiện nam tử, các sự như vậy gọi là giới anh lạc trang nghiêm.
Nầy thiện nam tử ! Tam muội anh lạc trang nghiêm có một thứ, đó là vì chúng sanh mà tu tập từ tâm. Còn có hai thứ, đó là chất trực và nhu nhuyến. Còn có ba thứ, đó là chẳng hư dối, chẳng thô bạo và chẳng tà siểm. Còn có bốn thứ, đó là chẳng tham ái, chẳng sân hận, chẳng bố úy và chẳng si mê. Còn có năm thứ, đó là xa lìa năm cái chướng tam muội. Còn có sáu thứ, đó là tu tập lục niệm tam muội. Còn có bảy thứ, đó là tu tập thất giác chi tam muội. Còn có tám thứ, đó là tu tập bát chánh đạo tam muội. Còn có chín thứ, đó là
Bồ Tát tu tập tâm Bồ đề và tâm đại từ bi ở nơi tất cả chúng sanh mà tu tập niệm tâm xa lìa tất cả pháp ác dục có giác có quán tịch tĩnh hỉ lạc được Sơ thiền ,
xa lìa giác quán nội tâm được hỷ lạc chí tâm tư duy vô giác vô quán định sanh hỷ lạc được đệ Nhị thiền,
lìa hỷ tu xả đầy đủ niệm tâm không có phóng dật thân thọ an lạc được đệ Tam thiền,
xa lìa khổ lạc diệt trừ tâm ưu hỷ, chẳng phải khổ chẳng phải lạc tu tập xả niệm tịch tĩnh, niệm dược đệ Tứ thiền,
xa lìa sắc tướng tu tập vô lượng không tưóng, xa lía không tướng tu vô lượng Thức tướng, xa lìa thức tướng tu Vô sở hữu tướng, xa lìa vô sở hữu tướng tu Phi tưởng phi phi tưởng tướng và mặc dầu chưa thành tựu trí thiện quyền phương tiện, mà dùng sức tam muội giáo hóa chúng sanh.
Còn có mười thứ, đó là quán pháp không có sai lầm, thành tựu đầy đủ xa ma tha, tinh tiến không ngừng nghỉ, khéo biết rõ thời tiết, chí tâm thọ trì pháp lành, tâm tịch tĩnh, quán thân vô tướng, thường quán pháp giới và tâm được tự tại và chứng được Thánh tánh. Đây gọi là tam muội anh lạc trang nghiêm.
Nầy thiện nam tử ! Trí huệ anh lạc trang nghiêm có một thứ, đó là tâm không còn nghi. Còn có hai thứ, đó là xa lìa tâm nghi và xa lìa tâm sân. Còn có ba thứ, đó là xa lìa vô minh, phá vỏ vô minh và làm ánh sáng lớn. Còn có bốn thứ, đó là biết khổ, dứt tập, chứng diệt và tu hành đạo phẩm. Còn có năm thứ, đó là giới tụ thanh tịnh, định tụ thanh tịnh, huệ tụ thanh tịnh, giải thoát tụ thanh tịnh và giải thoát tri kiến tụ thanh tịnh. Còn có sáu thứ, đó là thanh tịnh bố thí Ba la mật có ba : một là nội thanh tịnh quán pháp như huyễn, hai là chúng sanh thanh tịnh quán pháp như mộng và ba là Bồ đề thanh tịnh chẳng cầu quả báo. Thanh tịnh giới Ba la mật có ba : một là quán thân như bóng, hai là quán khẩu nhu vang và ba là quán tâm như huyễn. Thanh tịnh nhẫn Ba la mật có ba : một là nghe chê chẳng sân, hai là nghe khen chẳng mừng và ba là lúc bị chặt chém giết hại thường có thể quán pháp giới. Thanh tịnh tinh tiến Ba la mật có ba : một là chẳng tưởng, hai là vững chắc và ba là chẳng thấy pháp có tướng. Thanh tịnh thiền Ba la mật có ba : một là chẳng trụ trước các pháp, hai là tâm chẳng thối chuyển, ba là duyên cảnh thanh tịnh. Thanh tịnh phương tiện Ba la mật có ba : một là nhiếp lấy chúng sanh để cho được giải thoát, hai là thanh tịnh đà la ni để thọ trì chánh pháp và ba là sở nguyên thanh tịnh để tịnh Phật quốc độ. Còn có bảy thứ trí huệ anh lạc trang nghiêm, đó là tu Tứ niệm xứ chẳng lấy chẳng chấp, tu Tứ chánh cần chẳng xuất chẳng diệt, tu Tứ thần túc thân tâm thanh tịnh, tu Ngũ căn biết căn không có căn, tu Ngũ lực hay phá phiền não, tu Bồ đề phần biết pháp giới chơn thiệt và tu tập Thánh đạo không có khứ lai. Còn có tám thứ, đó là tu tam muội chánh định để được rốt ráo thanh tịnh, tu trí để phá si ám, tu trí biết ngũ ấm để biết pháp tu, tu trí biết thập bát giới để hiểu pháp giới đồng hư không, tu trí biết thập nhị nhập để biết pháp tánh bình đẳng, tu trí biết Mười hai nhơn duyên để quán vô ngã và không có ngã sở, tu trí biết tứ Thánh đế để phá bốn điên đảo kiến và tu trí phân biệt biết pháp giới để biết chơn thiệt vậy. Còn có chín thứ, đó là quán vô thường, quán vô thường khổ, quán khổ vô ngã, quán ăn bất tịnh, quán thế gian không gì đáng vui thích, quán trong vòng sanh tử có nhiều lỗi họa, quán giải thoát, quán lìa tham và quán tận diệt vậy. Còn có mười thứ, đó là quán các pháp như ảo huyễn, quán các pháp như mộng, quán các pháp như dương diệm, quán các pháp như âm vang, quán các pháp như thân cây chuối, quán các pháp như mặt trăng trong nước, quán các pháp như bóng, quán pháp giới không có tăng giảm, quán các pháp không có đi hay ở và quán các pháp vô vi không có sanh diệt vậy. Đây là huệ anh lạc trang nghiêm.
Nầy thiện nam tử ! Đà la ni anh lạc trang nghiêm có một thứ, đó là chẳng mất niệm tâm. Còn có hai thứ , đó là trước thì ghi nhận và sau thì rốt ráo có thể giữ vững. Còn có ba thứ, đó là biết nghĩa, biết chữ và biết nói. Còn có bốn thứ, đó là nói lời chơn chánh, nói lời rõ ràng, nói lời vô ngại và nói lời không lầm lỗi. Còn có năm thứ đó là ngũ y chỉ : y chỉ nơi nghĩa chẳng y chỉ nơi chữ, y chỉ nơi trí chẳng y chỉ nơi thức, y chỉ kinh liễu nghĩa mà chẳng y chỉ nơi kinh bất liễu nghĩa, y chỉ nơi chánh pháp mà chẳng y chỉ nơi người và y chỉ xuất thế chẳng y chi thế tục. Còn có sáu thứ, đó là đúng như lời nói chơn chánh mà làm, lời nói ra đều thành thiệt, phát ngôn được người thích nghe, lời nói đầy ý xót thương, lời nói sanh pháp lành và lời nói hạp thời tiết. Còn có bảy thứ, đó là lời nói lợi ích, lời nói trang nghiêm, lời nói vô ngại, lời nói không trệ, lời nói không có hai, lời nói đã có biết trước và lời nói rõ ràng rành rẽ. Còn có tám thứ, đó là biết lời nói của các địa phương, biết lời nói của các quỷ thần, biết lời nói của chư Thiên, biết lời nói của các loài Rồng, biết lời nói của Thần Càn Thát Bà, biết lời nói của hàng A Tu La, biết lời nói của hàng Kim sí điểu và biết lời nói của các loài súc sanh. Còn có chín thứ, đó là lời nói không e sợ, lời nói không rụt rè, lời nói không vấp váp, biết lời nói giải thoát, biết lời nói đúng pháp, biết lời nói rộng rãi, biết lời nói theo thứ tự, biết lời nói thuyết vô thường và lời nói không cùng tận. Còn có mười thứ, đó là lời nói phá lưới nghi, lời nói khai thị về pháp giới, lời nói khai thị về pháp môn, lời nói mở mang trí huệ, lời nói phá mê tối, lời nói hiểu mỗi mỗì chữ, lời nói khen ngợi Phật, lời nói quở trách phiền não, lời nói phân biệt căn tánh lợi hay độn và lời nói vi diệu khai thị công đức của đức Phật. Đây là đà la ni anh lạc trang nghiêm vậy ».****
(1921) T7 P51
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7627
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 12/10/17 07:06

Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa nầy nên nói tụng rằng :
Bốn anh lạc trang nghiêm
Hay trang nghiêm Đại thừa
Là giới định trí huệ
Và đà la ni vô thượng
Làm cho ba nghiệp tịnh
Mọi người đều mến thích
Dứt hẳn ba ác đạo
Gọi là giới anh lạc
Được đầy đủ sở nguyện
Được thân người thân trời
Hay tu tập tinh tiến
Gọi là giới anh lạc
Hay tu định vô thượng
Được hai thứ giải thoát
Thấy Niết bàn vô thượng
Gọi là giới anh lạc
Giới chẳng phá chẳng lậu
Vô thượng giới chẳng tạp
Hay được đại tự tại
Giới anh lạc trang nghiêm
Giới tịnh hay tịnh thí
Giới tịnh hay tịnh nhẫn
Giới tịnh ngũ độ tịnh
Giới anh lạc trang nghiêm
Tịnh giới tịnh ba cõi
Giới tịnh bất phóng dật
Vô úy tâm chẳng hối
Gọi là giới anh lạc
Giới định được Thánh tánh
Cũng làm thân tâm tịnh
Nhập được vô biên định
Gọi là giới anh lạc
Chẳng kính sợ chẳng động
Chắc được cõi thanh tịnh
Hay dứt dây phiền não
Gọi là giới anh lạc
Hay điều người khó điều
Hay được danh tiếng lớn
Trang nghiêm tâm tự tại
Gọi là giới anh lạc
Hay làm đúng như lời
Hay sạch miệng bốn nghiệp
Xa lìa các phiền não
Giới anh lạc trang nghiêm
Hay thanh tịnh Phật độ
Hay điều phục chúng sanh
Hay tu đại từ bi
Gọi anh lạc trang nghiêm
Chẳng làm các nghiệp ác
Tu các hạnh Bồ Tát
Được thập lực vô úy
Gọi anh lạc trang nghiêm
Hay nghiêm đại Niết bàn
Hay được đại nhơn quả
Từ tâm khắp chúng sanh
Gọi anh lạc trang nghiêm
Hay lìa lòng tham dối
Tu tập bốn nhiếp pháp
Dứt ái sân bố si
Gọi anh lạc trang nghiêm
Hay phá năm cái chướng
Tu tập đại niệm tâm
Trợ đạo chẳng phóng dật
Gọi anh lạc trang nghiêm
Đầy đủ hai phước trí
Đúng pháp tu duy nghĩa
Lạc hỷ trụ tịch tĩnh
Gọi anh lạc trang nghiêm
Với pháp không có nghi
Cũng không tâm si loạn
Chơn thìệt hiểu tứ đế
Gọi anh lạc trang nghiêm
Trì giới tâm không chấp
Cũng chẳng lòng kiêu mạn
Chẳng thấy giới người giữ
Gọi anh lạc trang nghiêm
Vô thượng huệ tịnh định
Chẳng biết hai tịnh huệ
Hay rõ biết ba cõi
Gọi anh lạc trang nghiêm
Ý tịnh chẳng kiêu mạn
Thấy bất tịnh chẳng khinh
Biết pháp bất khả thuyết
Gọi anh lạc trang nghiêm
Huệ hay trang nghiêm trí
Trí cũng trang nghiêm huệ
Tự tha Bồ đề tịnh
Gọi anh lạc trang nghiêm
Biết pháp như mộng huyễn
Chẳng nói pháp không có
Khéo tùy thuận thế gian
Gọi anh lạc trang nghiêm
Huệ hay trang nghiêm giới
Giới hay trang nghiêm huệ
Thân khẩu Bồ đề tịnh
Gọi anh lạc trang nghiêm
Thấy pháp như thủy nguyệt
Cũng như nắng lúc nóng
Thuyết pháp xem như vang
Như thành Càn Thát Bà
Phi pháp chẳng làm pháp
Gọi là huệ anh lạc
Huệ hay trang nghiêm nhẫn
Nhẫn cũng trang nghiêm huệ
Thân khẩu Bồ đề tịnh
Gọi anh lạc trang nghiêm
Pháp giới chẳng tăng giảm
Biết rồi điều chúng sanh
Chí tâm quán pháp thân
Gọi anh lạc trang nghiêm
Huệ hay trang nghiêm cần
Tinh tiến trang nghiêm huệ
Tâm định chẳng hối động
Gọi anh lạc trang nghiêm
Huệ hay trang nghiêm định
Định cũng trang nghiêm huệ
Hay thuyết thậm thâm pháp
Được vô thắng thần thông
Hay biết các phương tiện
Được vô thượng tổng trì
Pháp độ chúng sanh tịnh
Gọi anh lạc trang nghiêm
(1925) T7 P51
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7627
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 13/10/17 06:08

Biết các căn lợi độn
Phá phiền não các ma
Thân tâm được tự tại
Gọi anh lạc trang nghiêm
Đạo không có khứ lai
Cũng không người khứ lai
Chẳng quá khứ vị lai
Chẳng hiện tại người tu
Chẳng phân biệt pháp giới
Hay tịnh tất cánh định
Biết các ấm nhập giới
Gọi tên huệ anh lạc
Ấm nhập giới như không
Không ngã không ngã sở
Sanh diệt do mười hai
Gọi là huệ anh lạc
Biết thiệt đệ nhứt nghĩa
Cũng biết ấm nhập giới
Với pháp chẳng tranh luận
Biết tam thế vô ngại
Phân biệt ba khối chúng
Vì họ nói ba thừa
Dùng Tam bửu giáo hóa
Tu ba vô tưóng định
Vô tướng biết nhứt tướng
Chẳng huyễn biết như huyễn
Vô thuyết hay diễn thuyết
Thuyết không nơi bất không
Các pháp phi thường biến
Chẳng hủy hoại pháp giới
Vì nhơn duyên hòa hiệp
Lưu bố trong pháp giới
Đây gọi là chơn trí
Chẳng phân biệt pháp giới
Biết rõ động bất động
Biết rõ cạn và sâu
Biết rõ thường vô thường
Gọi là đại tịnh trí
Thường chẳng mất tịnh tâm
Biết rõ nơi pháp giới
Biết chữ cũng biết nghĩa
Nơi thế đế không tối
Nghe rồi hay thọ trì
Hiểu rõ tiếng mọi loài
Hay phá các tà đạo
Tu tập trí vô thượng
Y tứ y vô thượng
Là tổng trì anh lạc
Phật nói tràng công đức
Trang nghiêm Bồ đề tâm
Trong chúng vô úy thuyết
Hiểu rõ thiên thần ngữ
Hay phá các lưới nghi
Hay khai các pháp giới
Hay khen ngôi Tam bửu
Khuyên người đồng cúng dường
Kề cận Phật và Tăng
Tu tập trí vô thượng
Phật nói bốn anh lạc
Trang nghiêm Phật Bồ Tát
Nếu người chí tâm tin
Liền được anh lạc nầy.
Lại nầy thiện nam tử ! Đại Bồ Tát có tám ánh sáng lớn, do ánh sáng nầy mà hay phá được các sự tối tăm làm cho công hạnh của Bồ Tát thanh tịnh.
Những gì là tám ? Đó là niệm quang, ý quang, hành quang, pháp quang, trí quang, thiệt quang, thần thông quang và vô ngại trí quang vậy.
Niệm quang có tám : một là chẳng mất pháp lành quá khứ, hai là làm pháp lành vị lai, ba là nghe pháp chẳng quên, bốn là tư duy thiệt nghĩa, năm là chẳng bị sáu trần nhiễm hư, sáu là nhớ giữ chánh pháp như người giữ của, ngăn pháp ác và vì pháp lành mà giữ cửa thành thiện pháp, bảy là chẳng bị tà pháp gạt lầm và tám là có thể làm thêm lớn những pháp thuần thiện vậy.
Ý quang cũng có tám : một là nghĩa ý chẳng phải ý chữ, hai là trí huệ ý chẳng hình thức ý , ba là chánh pháp ý chẳng phải ý người, bốn là thiệt ý chẳng phải hư ý, năm là Bồ Tát ý chẳng phải Thanh Văn ý, chẳng phải Duyên Giác ý, sáu là thượng ý chẳng phải hạ ý, bảy là Phật ý chẳng phải thối thất ý và tám là lân mẫn ý chẳng phải hại ý vậy.
Hành quang cũng có tám : một là pháp hành, hai là nhứt thiết hành, ba là chúng sanh hành, bốn là chúng sanh tâm hành, năm là thập nhị nhơn duyên hành , sáu là quảng thuyết hành, bảy là công hạnh hành và tám là nhứt thiết Phật pháp hành vậy.
Pháp quang cũng có tám : một là thế pháp quang, hai là xuất thế pháp quang, ba là vô lậu pháp quang, bốn là vô vi pháp quang, năm là giải thoát pháp quang, sáu là tâm giải thoát pháp quang, bảy là tất cánh giải thoát pháp quang và tám là huệ phá vô minh pháp quang vậy.
Trí quang cũng có tám : một là nhập chánh trí quang, hai là Tu Đà Hoàn trí quang, ba là Tu Đà Hàm trí quang, bốn là A Na Hàm trí quang, năm là A La Hán trí quang, sáu là Bích Chi Phật trí quang, bảy là Bồ Tát trí quang và tám là Chánh Giác trí quang vậy.
Thiệt quang cũng có tám : một là chánh định hạnh, hai là được quả Tu Đà Hoàn, ba là quả Tư Đà Hàm, bốn là quả A Na Hàm, năm là quả A La Hán, sáu là quả Bích Chi Phật, bảy là Bồ Tát và tám là Phật Bồ đề vậy.
Thần thông quang cũng có tám : một là nhãn quang hay thấy chánh sắc, hai là nhĩ quang hay nghe chánh thanh, ba là niệm quang hay nhớ quá khứ vô số kiếp chúng sanh, bốn là tánh quang hay quan sát tâm tánh thanh tịnh của chúng sanh, năm là hư không quang dùng đại thần thông có thể đến vô lượng thế giới mười phương, sáu là phương tiện quang vì đủ có trí vô lậu, bảy là công đức trang nghiêm quang vì lợi ích tất cả chúng sanh và tám là trí huệ trang nghiêm quang vì phá lòng nghi lầm của tất cả chúng sanh vậy.
Vô ngại trí quang cũng có tám : một là trí quang, hai là ý quang, ba là huệ quang, bốn là Phật quang, năm là chánh kiến quang, sáu là làm thanh tịnh tâm chúng sanh quang, bảy là giải thoát quang và tám là tất cánh quang vậy.
(1927) T7 P51
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7627
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 14/10/17 04:25

Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa nầy nên nói kệ rằng :
Tu tập sáng niệm tâm
Chẳng quên nghiệp thiện ác
Thích nghe tán tụng kinh
Tu tập chẳng phóng dật
Hay điều phục các căn
An trụ trong tịch tĩnh
Thêm lớn các pháp lành
Tu tập niệm quang minh
Hay ngăn dừng pháp ác
Như người giữ thành giỏi
Hay thủ hộ pháp thành
Chẳng cho bốn ma vào
Chẳng chạy theo âm thanh
Thường tư duy chơn nghĩa
Gần kề thiện tri thức
Hỉ lạc trụ đúng pháp
Trí huệ vô biên thượng
Dứt hẳn các phiền não
Tà pháp chẳng động đươc
Đời ác chẳng sanh chê
Thành tâm niệm Bồ đề
Chẳng nói tâm Tiểu thừa
Thường thích nhớ thượng ý
Vì người phá hạ ý
Chẳng sợ ma phiền não
Tu tập tâm từ bi
Chẳng nghĩ hại chúng sanh
Được đủ trí quang lớn
Hay phá các lòng nghi
Hiểu rõ nghĩa thậm thâm
Biết phương tiện chơn thiệt
Tu bốn trí vô ngại
Thích quán mười hai duyên
Là nhơn của chúng sanh
Biết vô tác vô thọ
Hay tu pháp quang lớn
Hay biết các Phật pháp
Tu hạnh thế xuất thế
Hay đến mười phương cõi
Biết rõ nghiệp Nhơn Thiên
Tu tập trí vô thượng
Ba thừa về nhứt thừa
Tu tập bát chánh đạo
Vì phá pháp ba đời
Như thiệt biết rõ rành
Pháp hữu lậu vô lậu
Lợi ích hàng Nhơn Thiên
Dạy họ dứt hữu lậu
Biết rõ đúng chơn thiệt
Pháp hữu vi vô vi
Tịch tĩnh quang vô ngại
Chẳng dính tướng hữu vi
Biết kiết nhập xuất duyên
Biết chúng tâm tánh tịnh
Nếu có Đại thừa định
Liền biết pháp như vậy
Thích trụ tánh vô lậu
Xong bốn quả Sa Môn
Biết Bồ Tát đạo hạnh
Nên tu vô ngại trí
Phá tà tu thiệt quang
Vào chứng vô sở úy
Thích nói nghĩa chơn thiệt
Vì phá pháp sanh tử
Nhãn nhĩ tịnh không chướng
Thấy nghe sắc thanh chánh
Quá khứ nhớ chẳng lầm
Cũng biết rõ tha tâm
Đến mười phương vô ngại
Biết pháp như hư không
Được vô lậu trí huệ
Vì điều phục chúng sanh
Đủ công đức trí huệ
Vì lợi ích chúng sanh
Ở trong vô lượng đời
Cầu hai trang nghiêm nầy
Thích thọ trì tịnh giới
Thích thủ hộ Phật pháp
Tu tập chơn thiệt quang
Vì trụ đúng chánh pháp
Phật nói vô lượng quang
Để cho chúng sanh được
Có ai tin kinh nầy
Liền được quang như vậy.
Lại nầy thiện nam tử ! Đại Bồ Tát tu tập đại bi có mười sáu sự.
(1930) T7 P51
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7627
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 15/10/17 06:17

GIAO DẪN PHẬT NGÔN LINH ÐOẠN NGHI HOẶC (Phân làm 2 phần)
1. Minh Phật Ðồng Tán: Dẫn các đức Phật đồng khen.
2. Thích Kinh Ưng Tán: Giải kinh nầy nên khen ngợi.

MINH PHẬT ĐỒNG TÁN (phân ra làm hai phần)
1. Bổn Phật Tán: Phật Thích Ca khen.
2. Tha Phật Tán: Các Phật đồng khen.

BỔN PHẬT TÁN
Nầy Xá Lợi Phất! Như ta nay đây tán thán cái lợi ích là công đức bằng số bất khả tư nghì của Phật A Di Ðà.

SỚ:
Nói văn trên chẳng những chỉ mình ta thấy lợi ấy và nói lời nầy, mà cả đến 10 phương các đức Phật cũng đồng thấy lợi ấy và nói lời này nữa.
Chữ TÁN là ngợi khen tột bực;
chữ THÁN là quá cảm động phải thán phục!
Câu “bất khả tư nghì” là trước kia nói ta thấy lợi ấy, nay đây lại cực lực nói cái lợi ấy nữa là không phải nói cái lợi tầm thường đâu.
Văn nghĩa gấp ba lần chuyển lên:
1. Chẳng phải vô ích nên nói là lợi.
2. Chẳng những cái lợi về phước, về sự; cho nên nói cái lợi công đức.
3. Chẳng những cái lợi chỉ là công đức mà thôi, cho nên nói cái lợi công đức mà bất khả tư nghì nữa.
Do vì thế nên đức Phật Ngài phải cực lực tán thán, chứ không phải một sự ngẫu nhiên.
SAO:
“Xưng tán” là tỏ bày khen ngợi công đức quảng đại của Phật kia để cho người ta biết mà qui tín; hầu đặng phần tiếp độ. Cảm Thán là quá cảm khích phải than thở, vì nói pháp nầy cõi Nhơn Thiên ít có nên nhiều kiếp khó gặp, là để khiến người vừa thương lẫn mừng.
Hỷ là mừng rằng nay mình đặng nghe.
Bi là tủi rằng mình nghe đây rất muộn vậy!
Câu “bất khả tư nghì” là nguyên tên kinh nầy, nghĩa nó đã thấy trong lời tựa văn trước.
Kinh tên “bất khả tư nghì” là chính rằng đức Phật A Di Ðà có đại công đức chẳng khá nghĩ bàn đó vậy.
“Văn có ba lần chuyển” là: Trong việc lợi gồm nhiều bực dần dần sâu rộng:
1. Cái lợi phước sự là: Tu về phước sự tướng, là vì cái nhơn trong thế gian nên kêu là lợi nhỏ.
2. Cái lợi công đức là vì cái nhơn xuất thế gian nên kêu là lợi lớn.
3. Công đức chẳng nghĩ bàn là vì cái nhơn bực thượng thượng xuất thế gian nên kêu là công đức lớn hơn trong các công đức lớn.
Số là công đức tuy hơn phước đức và sự tướng, nhưng ở trong đấy lại còn phân ra có hơn có kém: Có thứ công đức còn khá nghĩ bàn, có thứ công đức chẳng khá nghĩ bàn. Nay pháp trì danh đây là công đức chẳng khá nghĩ bàn vậy, cho nên trong lợi lớn lại nói là lợi lớn hơn!

SỚ:
Với câu “bất khả tư nghì” như trong kinh Thanh Vương nói: “Thế giới nước An Dưỡng kia, phàm những gì của Phật pháp đều chẳng khá nghĩ bàn, với pháp thần thông hiển hiện biến hóa chẳng khá nghĩ bàn. Nếu ai có thể tin nhận đƣợc sự như vậy thì người ấy chẳng khá nghĩ bàn; với chỗ đặng nghiệp báo tốt cũng chẳng khá nghĩ bàn”. Lại nữa với tất cả bốn món y báo, chánh báo, nhơn và quả cũng đều chẳng khá nghĩ bàn: Không thể lấy trí thức để suy nghĩ và không thể dùng lời lẽ để bàn nói cho tường tất được!!!
SAO:
Với công đức ấy phân làm bốn món:
1. Công đức thí pháp rộng lớn, nghĩa là đối với thọ mạng vô lượng, quang minh vô lượng, ngôi Tam Bảo vô lượng, 37 phẩm và các pháp môn khác nữa đều bất khả tư nghì.
2. Công đức thần thông biến hóa khắp cùng, nghĩa là đối với nước, chim, cây, rừng đều nói pháp nhiệm mầu; món ăn, thức mặc, đến cả việc thọ dụng đều tự nhiên sẵn có, chúng sanh đều đủ tướng hảo, đều đủ thần thông biến hóa, cũng đều bất khả tư nghì.
3. Công đức tín thọ do căn lành đời trước, nghĩa là đối với pháp "nan tín" đây, những người mà hay tín thọ được là người đó đời trước đã có tu căn lành nhẫn đến vô lượng, với người cũng bất khả tư nghì.
4. Công đức quả báo khó hơn nghĩa là đối với hễ niệm Phật được nhứt tâm liền đặng vãng sanh, liền đặng vào ngay hội Thượng Thiện, chứng liền bực bất thối chuyển, rốt ráo thành quả Phật, đều vượt khỏi thường tình; cho nên đều nói công đức chẳng khá nghĩ bàn.
Như Kinh Kim Cang Bát Nhã nói: “Nghĩa kinh nầy chẳng khá nghĩ bàn, đặng quả báo cũng chẳng khá nghĩ bàn”, thật thế.
Câu "Y, Chánh, Nhơn, Quả": Chữ Y nghĩa là cõi Ðồng Cư tức là cõi Tịch Quang; chữ Chánh là Ứng thân tức là Pháp thân; chữ Nhơn là bảy ngày niệm Phật thành công; chữ Quả là một phen sanh về, đặng bực bất thối chuyển, lại cũng vượt khỏi thường tình; cho nên đều nói “chẳng khá nghĩ bàn”.
Thuở xưa ngài Anh Pháp sư ở đất Ðông Ðộ giảng kinh Hoa Nghiêm đã 40 lượt, nhơn khi vào trong Tịnh Nghiệp Ðạo Tràng của ngài Xước thiền sư, thâm nhập được pháp môn tam muội; sư than rằng: “Giận mình nhiều năm luống tìm văn sớ nhọc thân tâm vậy, nào dè pháp niệm Phật nầy nhiệm mầu chẳng khá nghĩ bàn!”

SỚ:
Xứng lý thời tự tánh nó lìa hẳn hai cái tướng: tâm và ngôn, là nghĩa "công đức chẳng khá nghĩ bàn".
SAO:
Luận Khởi Tín nói tâm (tánh) nầy từ xưa đến nay mãi đến bao giờ cũng vẫn ly tướng tâm duyên, ly tướng ngôn thuyết. Thế cho nên hễ vừa manh tâm niệm là lầm, móng ý tưởng là sai, chấp câu văn là mê, theo lời nói là mất; thế thì phải như thế nào? Mà dù cho ngoài ngậm miệng, trong tắt máy suy nghĩ cũng là y nhiên bị lạc về tánh vô ký: Là không nhớ không quên. Do đây mới biết công đức kia là chẳng khá nghĩ bàn.
(1932) T7 P51
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7627
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 16/10/17 06:21

Lại nầy Đà La Ni Tự Tại Vương ! Các loài chúng sanh có ba mươi hai nghiệp ác bất thiện. Vì thấy như vậy mà chư đại Bồ Tát tu tập nghiệp thiện để phá trừ các nghiệp ác ấy cho chúng sanh.

Những gì là ba mươi hai nghiệp ?

Một là thấy có các chúng sanh nặng về vô minh ngủ nghỉ, đại Bồ Tát vì họ mà tu tập trí huệ để phá vô minh thùy miên ấy.

Hai là thấy có các chúng sanh hiểu biết thấp hạ mong muốn thấp hạ, đại Bồ Tát vì họ mà tu tập hiểu biết thắng thượng chí nguyện thắng thượng để đem pháp Đại thừa thắng thượng giáo hóa họ.

Ba là thấy có các chúng sanh thích những phi pháp, đại Bồ Tát tu tập chánh pháp để làm cho các chúng sanh ấy được đại tự tại nơi tất cả pháp.

Bốn là thấy có các chúng sanh ưa tà mạng, đại Bồ Tát tu tập chánh mạng để phá trừ tà mạng ấy.

Năm là thấy có các chúng sanh vào trong rừng tà, đại Bồ Tát tu tập chánh kiến để làm cho các chúng sanh ra khỏi rừng tà.

Sáu là thấy có các chúng sanh ưa phóng dật, đại Bồ Tát tu tập bất phóng dật để làm cho các chúng sanh xa lìa phóng dật.

Bảy là thấy có các chúng sanh ưa thô bạo, đại Bồ Tát tu tập công hạnh đúng chánh pháp để làm cho các chúng sanh xa lìa thô bạo.

Tám là thấy có các chúng sanh tham lam bỏn xẻn, đại Bồ Tát tu tập hạnh bố thí rộng lớn để làm cho cac chúng sanh dứt tham lam bỏn xẻn.

Chín là thấy có các chúng sanh hay hủy phạm cấm giới, đại Bồ Tát tu trì tịnh giới để trừ lòng phá giới của các chúng sanh.

Mười là thấy có các chúng sanh lòng thường giận hờn, đại Bồ Tát tu tâm từ bi nhẫn nhục để phá lòng giận hờn của các chúng sanh.

Mười một là thấy có các chúng sanh đối với chánh pháp thiện pháp lười biếng thật hành, đại Bồ Tát tu tập siêng cần tinh tấn để trừ sự lười biếng ấy của các chúng sanh.

Mười hai là có các chúng sanh tâm tưởng tán loạn, đại Bồ Tát tu tập chánh định để trừ tâm tán loạn của các chúng sanh.

Mười ba là có các chúng sanh tà trí che tâm, đại Bồ Tát tu tập chánh trí để trừ tà trí ấy của các chúng sanh.

Mười bốn là có các chúng sanh nói nghĩa điên đảo, đại Bồ Tát tư duy chánh nghĩa để trừ sự điên đảo ấy của các chúng sanh.

Mười lăm là thấy có các chúng sanh ưa gây tạo sự nghiệp thế tục, đại Bồ Tát tu tập thiện quyền phương tiện để trừ lòng ưa thích tạo nghiệp thế tục ấy của các chúng sanh.

Mười sáu là thấy có các chúng sanh bị phiền não trói buộc, đại Bồ Tát tu tập chánh pháp tự dứt trừ phiền não và để làm cho các chúng sanh cũng dứt trừ phiền não.

Mười bảy là thấy có các chúng sanh bị buộc chặt nơi ngã kiến, đại Bồ Tát trước tự trừ ngã kiến rồi sau trừ ngã kiến của các chúng sanh.

Mười tám là thấy có các chúng sanh các căn chẳng điều phục, đại Bồ Tát tu tập trước tự điều phục các căn rồi sau làm cho các chúng sanh điều phục các căn của họ

Mười chín là thấy có các chúng sanh nói không nghiệp nhơn không quả báo, đại Bồ Tát tuyên nói nghiệp nhơn quả báo để phá trừ tà kiến bác nhân quả của các chúng sanh.

Hai mươi là thấy có các chúng sanh chẳng biết ân nghĩa, đại Bồ Tát tuyên nói về ân nghĩa để trừ lòng chẳng biết ơn của các chúng sanh ấy.

Hai mươi mốt là thấy có các chúng sanh chưa được mà tự cho là đã được, đại Bồ Tát tu tập chánh pháp để trừ lỗi tăng thượng mạn của các chúng sanh ấy.

Hai mươi hai là thấy có các chúng sanh ác khẩu thô bạo, đại Bồ Tát tu tập thiện ngữ dịu dàng để trừ ác khẩu của các chúng sanh.

Hai mươi ba là thấy có các chúng sanh tham lam chẳng biết vừa đủ, đại Bồ Tát tu tập biết đủ để trừ lòng không biết đủ của các chúng sanh.

Hai mươi bốn là thấy có các chúng sanh chẳng cung kính cha mẹ và sư trưởng, đại Bồ Tát tu tập hiếu thuận để làm cho chúng sanh biết cúng dường cung kính tôn trọng các bực cha mẹ sư trưởng.

Hai mươi lăm là thấy có các chúng sanh nghèo cùng khốn khổ, đại Bồ Tát tu tập bảy thánh tài để trừ sự nghèo cùng khốn khổ của các chúng sanh.

Hai mươi sáu là thấy có các chúng sanh bị bốn loại rắn độc làm bịnh, đại Bồ Tát tu tập thân niệm xứ để làm cho các chúng sanh xa lìa bốn loại rắn độc ấy.

Hai mươi bảy là thấy có các chúng sanh hiện hành vô minh tối tăm, đại Bồ Tát tu tập trí huệ để làm cho các chúng sanh ấy thắp đèn trí huệ..

Hai mươi tám là thấy có các chúng sanh thích nhà ngục tam giới, đại Bồ Tát tu tập pháp giải thoát xuất ly để dạy cho các chúng sanh biết xuất ly tam giới.

Hai mươi chín là thấy có các chúng sanh thường hành tà đạo, đại Bồ Tát tu tập chánh đạo để làm cho các chúng sanh trừ bỏ tà đạo.

Ba mươi là thấy có các chúng sanh tham ái thân mạng, đại Bồ Tát tu tập lòng chẳng tham ái thân mạng mình để dạy chúng sanh bỏ lòng tham ái thân mạng.

Ba mươi mốt là thấy có các chúng sanh chẳng biết cung kính cúng dường Tam bửu, đại Bồ Tát tu tập tâm tịnh tín để làm cho các chúng sanh phát lòng tin ngôi Tam bửu.

Ba mươi hai là thấy có các chúng sanh thiệt chẳng phải là Phật Thế Tôn mà tự xưng là Phật Thế Tôn, đại Bồ Tát tu tập sáu chánh niệm để làm cho các chúng sanh ấy biết pháp chơn thiệt vậy.

Nầy thiện nam tử ! Trên đây là ba mươi hai nghiệp hữu lậu của chúng sanh, đại Bồ Tát thấy rồi tự mình tu tập pháp đối trị thành tựu đầy đủ pháp lành rồi phá các ác nghiệp khuyên các chúng sanh thật hành thiện nghiệp
(1935) T7 P51
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7627
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 17/10/17 04:52

Nầy thiện nam tử ! Đại Bồ Tát có vô lượng công hạnh, tại sao ? Vì chúng sanh có vô lượng môn, vì đóng bít vô lượng cửa phiền não ấy mà đại Bồ Tát tu tập vô lượng công hạnh lành.

Nầy thiện nam tử ! Như có chúng Thanh Văn và Bích Chi Phật đông bằng số cát sông Hằng, muốn đem số đông nầy so sánh với Bồ Tát sơ phát Bồ đề tâm thì chẳng bằng một phần trăm một phần ngàn, cho đến không thể lấy gì ví dụ được. Tại sao ? Vì hàng nhị thừa vì giải thoát cho mình mà quán xét dứt trừ các phiền não. Còn Bồ Tát thì không phải như vậy. Các Bồ Tát luôn vì chúng sanh làm cho họ được giải thoát mà quán xét đối trừ các phiền não.

Nầy thiện nam tử ! Các công nghiệp được làm của chư Bồ Tát là rất hơn công nghiệp của các phàm phu và hàng Nhị thừa. Tại sao ? Vì việc làm của phàm phu tánh chất nó là phiền não là hữu lậu. việc làm của hàng Nhị thừa dầu tánh chất chẳng phải phiền não là vô lậu nhưng có biên tế, còn việc làm của Bồ Tát vô biên vộ lượng, vì vậy mà công hạnh của Bồ Tát hơn cả hàng Thanh Văn và Duyên Giác”.

Bấy giờ Đà La Ni Tự Tại Vương Bồ Tát nghe pháp ấy rồi lòng rất vui mừng hớn hở vô lượng mà bạch đức Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Rất là lạ lùng rất là đặc biệt, lời đức Phật dạy chẳng thể nghĩ bàn.

Đức Như Lai đã nói Bồ Tát anh lạc trang nghiêm, đức Như Lai đã nói Bồ Tát quang minh, Bồ Tát đại bi, Bồ Tát thiện nghiệp.

Nguyện cầu đức Như Lai tuyên nói chư Phật quán xét các chúng sanh mà sanh khởi tâm đại bi thế nào ? Sao gọi là bi và bi có những công hạnh gì, có những tướng mạo gì, do nhơn duyên gì mà sanh khởi, sao gọi là Phật nghiệp và Phật nghiệp có những công hạnh gì, có những tướng mạo gì, do nhơn duyên gì mà phát khởi lên ?

Lành thay đức Thế Tôn đấng Nhứt Thiết Trí, xin nói rộng về công nghiệp của Như Lai”.

Đức Phật phàn bảo : “Lành thay lành thay ! Nầy thiện nam tử nay ông nên lắng nghe suy nhớ kỹ, Phật sẽ vì ông mà phân biệt giải nói.

Nầy thiện nam tử ! Tất cả chư Phật chỗ có đại bi chẳng phát xuất chẳng hiện hành, tại sao, vì thường chẳng biến đổi, vì trong vô lượng kiếp tu tập mà được đại bi, nên đại bi ấy chẳng hiện hành, chẳng chuyển khởi, chẳng tu tập chẳng rời bỏ mà có khả năng làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.

Nầy thiện nam tử ! Đại bi của chư Phật vô lượng vô biên, tâm ấy bình đẳng. Dầu dùng công sức của vô lượng cái lưỡi biện tài trong thời gian nhiều kiếp cũng không thể tuyên nói hết được.

Nầy thiện nam tử ! Chư Phật Thế Tôn chưa có lúc nào xa lìa đại bi như vậy. Vô thượng Bồ đề và đại bi ấy, hai pháp như vậy bình đẳng không có sai khác.

Nầy thiện nam tử ! Vô thượng Bồ đề của chư Phật Như Lai vô căn vô trụ. Chư Phật Như Lai biết căn biết trụ nên Vô thượng Bồ đề không có căn không có trụ. Tất cả chúng sanh thảy đều không có, không có căn không có trụ. Vì muốn ban cho chúng sanh Vô thượng Bồ đề vô căn vô trụ mà chư Phật Thế Tôn khởi tâm đại bi. Nơi đây, vì muốn cho chúng sanh biết vô căn vô trụ mà đức Như Lai tuyên nói chánh pháp.

Nầy thiện nam tử ! Luận về Bồ đề là thanh tịnh là tịch tĩnh. Thế nào là thanh tịnh, thế nào là tịch tĩnh ? Thanh tịnh gọi là trong, tịch tĩnh gọi là ngoài. Bên trong gọi là nhãn rỗng không , rỗng không gọi là không có ngã không có ngã sở, tại sao, vì tánh là một vậy. Như nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý cũng như vậy, tại sao, vì tánh là một vậy.

Đã biết nhãn rỗng không rồi thì không trụ trước nơi sắc hình , tâm chẳng trụ trước nơi sắc thì gọi là tịch tĩnh. Như sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp cũng như vậy.

Vì tất cả chúng sanh chẳng biết Bồ đề thanh tịnh, tịch tĩnh nên đức Phật Như Lai khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp cho họ được biết vậy.

Nầy thiện nam tử ! Tất cả chúng sanh tâm tánh bổn lai thanh tịnh. Vì tánh thanh tịnh nên tất cả phiền não kiết sử không nhiễm ô được. Như hư không chẳng thể nhiễm ô, tâm tánh và không tánh đồng nhau không có sai khác.

Chúng sanh vì chẳng biết tâm tánh thanh tịnh nên bị dục tham phiền não trói buộc, vì vậy mà đức Phật Như Lai khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp làm cho họ được biết vậy.

Nầy thiện nam tử luận về Bồ đề chẳng thủ chẳng xả. Thế nào là chẳng thủ ? Chư Phật Như Lai chẳng thấy tất cả pháp có thử ngạn bỉ ngạn, tại sao, vì tất cả pháp rời lìa thử bỉ vậy. Chư Phật Như Lai biết thật như vậy nên gọi là bất thủ.

Thế nào là bất xả ? Tất cả chúng sanh chẳng biết pháp giới, chư Phật Như Lai tuyên dạy cho họ biết rõ pháp giới, đây gọi là bất xả vậy. Vì duyên cớ nầy mà chư Phật Như Lai phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp làm cho chúng sanh biết rõ hai pháp bất thủ và bất xả như vậy.

Nầy thiện nam tử ! Bồ đề vô tưởng vô duyên . Thế nào là vô tưởng ? Chẳng thấy có nhãn thức cho đến ý thức, chẳng thấy có sắc tướng cho đến pháp tướng, đây gọi là vô tướng. Thế nào là vô duyên ? Ở trong các pháp như vậy, vì chẳng biết chẳng thấy nên không có thủ trước, đây gọi là vô duyên. Vô tưởng và vô duyên gọi là thánh hạnh. Thế nào gọi là Thánh hạnh ? Vì rằng chẳng hiện hành nghiệp hạnh tam giới vậy.

Nầy thiện nam tử ! Chẳng hiện hành nghiệp hạnh giới như vậy gọi là thánh hạnh, tất cả thánh nhơn chẳng hiện hành nơi nghiệp hạnh ấy. Chúng sanh chẳng hiện hành thánh hạnh như vậy, nên chư Phật Như Lai phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp cho chúng sanh được biết.

Nầy thiện nam tử ! Bồ đề chẳng phải là tam thế. Quá khứ ý, vị lai thức và hiện tại tham (quán sát) đây gọi là ba phần thời gian. Vì biết rõ được ba phần như vậy nên ý với thức và tham không có chỗ an trụ, vì vậy mà chẳng nhớ quá khứ chẳng cầu vị lai chẳng tham ái hiện tại. Nếu thấy tam thế đều bình đẳng thì gọi là chánh kiến. Vì muốn tất cả chúng sanh được chánh kiến bình đẳng như vậy nên chư Phật Như Lai phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp.

Nầy thiện nam tử ! Bồ đề vô thân vô vi. Thế nào là vô thân ? Chẳng phải nhãn thức giới cho đến chẳng phải ý thức giới, đây gọi là vô thân. Thế nào là vô vi ? Bất sanh bất diệt, bất tận, bất trụ, không có ba tướng sanh trụ và diệt, đây gọi là vô vi.

Nầy thiện nam tử ! Tất cả pháp tánh là vô tánh, nếu vô tánh thì không có sai biệt gọi là không có hai. Vì vậy nên Bồ đề không có thân không có vi tác. Tất cả chúng sanh chẳng biết Bồ đề vô thân vô vi, vì vậy nên chư Phật Như Lai phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp cho họ biết rõ như vậy.
(1938) T7P51
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7627
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 18/10/17 06:23

Nầy thiện nam tử ! Bồ đề không có phân biệt không có cú nghĩa. Thế nào là không có phân biệt ? Thế nào là không có cú nghĩa ?

Vô sở trụ gọi là không có phân biệt, chẳng nhiếp thuộc về chữ gọi là không có cú nghĩa.

Chẳng phải có hai gọi là không có phân biệt, chẳng nhập vào pháp giới gọi là không có cú nghĩa.

Không động dao gọi là không có phân biệt, chẳng biến đổi gọi là không có cú nghĩa.

Vì rỗng không nên gọi là không có phân biệt, vì chẳng thể nói được nên gọi là không có cú nghĩa.

Vì không giác không quán nên gọi là không có phân biệt, vì không có tướng nên gọi là không có cú nghĩa.

Vì chẳng phát khởi nên gọi là không có phân biệt, vì không có nguyện cầu nên gọi là không có cú nghĩa.

Biết chúng sanh giới đồng với hư không gọi là không có phân biệt, không có chúng sanh giới gọi là không có cú nghĩa.

Chẳng sanh gọi là không có phân biệt, chẳng trụ gọi là không có cú nghĩa.

Chẳng diệt gọi là không có phân biệt, vô vi gọi là không có cú nghĩa.

Chẳng hành gọi là không có phân biệt, bình đẳng gọi là không có cú nghĩa.

Biết bình đẳng gọi là không có phân biệt, tịch tĩnh gọi là không có cú nghĩa.

Vì chúng sanh chẳng biết như vậy, nên chư Phật Như Lai phát khởi tâm đại bi tuyên nói chánh pháp cho họ biết rõ các nghĩa ấy.

Nầy thiện nam tử ! chẳng thể dùng thân để được, chẳng thể dùng tâm để được, tại sao, vì thân tâm như huyễn vậy. Nếu có thể biết rõ được thân tâm chơn thiệt thì gọi là Bồ đề. Nói gọi là Bồ đề đó là vì để lưu bố thế tục, nhưng tánh và tướng Bồ đề thiệt không thể nói được.

Nầy thiện nam tử ! Luận về Bồ đề thì chẳng thể nói thân, chẳng thể nói tâm, chẳng thể nói pháp, chẳng thể nói phi pháp, chẳng thể nói có, chẳng thể nói không có, chẳng thể nói thiệt, chẳng thể nói rỗng không, tại sao, vì tánh chẳng thể nói được vậy.

Bồ đề không có trụ xứ chẳng thể tuyên nói được dường như hư không. Vì biết thiệt tất cả pháp chẳng thể tuyên nói được, trong chữ không có pháp, trong pháp không có chữ, chỉ vì lưu bố theo thế tục mà tuyên nói. Tất cả phàm phu chẳng biết chơn thiệt, nên chư Phật Như Lai khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp làm cho họ biết chơn thiệt.

Nầy thiện nam tử ! Bồ đề vô thủ vô duyên. Thế nào là vô thủ, thế nào là vô duyên ?

Biết nhãn chơn thiệt gọi là vô thủ, biết nhãn không có sắc cảnh gọi là vô duyên.

Biết nhĩ chơn thiệt gọi là vô thủ, biết nhĩ không có thanh cảnh gọi là vô duyên.

Biết tỷ chơn thiệt gọi là vô thủ, biết tỷ không có hương cảnh gọi là vô duyên.

Biết thiệt chơn thiệt gọi là vô thủ, biết thiệt không có vị cảnh gọi là vô duyên.

Biết thân chơn thiệt gọi là vô thủ, biết thân không có xúc cảnh gọi là vô duyên.

Biết ý chơn thiệt gọi là vô thủ, biết ý không có pháp cảnh gọi là vô duyên.

Như Lai Thế Tôn do nghĩa như vậy biết Bồ đề vì không có thủ trước nên gọi là không có nhãn, vì không có nhà cửa nên gọi là vô duyên. Nhãn thức chẳng trụ trong cảnh sắc kia gọi đó là không nhà cửa, nhẫn đến ý thức cũng như vậy.

Tất cả chúng sanh tâm không có chỗ trụ ở. Như Lai Thế Tôn như thiệt biết tâm không có chỗ trụ ở. Chỗ trụ ở có bốn thứ, đó là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn. Nơi bốn thứ nầy tâm không có chỗ trụ ở, đây gọi là tâm không có chỗ trụ ở. Vì vậy mà gọi rằng tất cả các pháp đều không có chỗ trụ ở. Như Lai Thế Tôn như thiệt biết đó, mà vì các hàng phàm phu không thể biết được, nên Như Lai Thế Tôn phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp để cho họ được biết chơn thiệt vậy.

Nầy thiện nam tử ! Bồ đề gọi là rỗng không, nhưng trong Bồ đề không có tướng rỗng không, đây gọi là rỗng không. Tất cả pháp rỗng không Bồ đề cũng rỗng không, Như Lai Thế Tôn chơn thiệt biết được rỗng không như vậy, nên Như Lai gọi là đấng biết rỗng không. Chư Phật gọi là đấng giác ngộ tất cả các pháp rỗng không trong rỗng không nhưng chẳng có giác tri, cũng hay biết rõ Vô thượng Bồ đề. Rỗng không và Bồ đề là nhứt như, rỗng không cùng Bồ đề là một chẳng phải là hai. Rời rỗng không mà Bồ đề có pháp riêng khác mới được nói là hai. Vì không có hai nên gọi đó là rỗng không, vì không có danh tự nên gọi đó là rỗng không. Vì không có tướng mạo nên gọi đó là rỗng không, vì không có oai nghi nên gọi đó là rỗng không, vì không có tu hành nên gọi đó là rỗng không, vì không có ngôn thuyết nên gọi đó là rỗng không.

Nầy thiện nam tử ! Trong đệ nhứt nghĩa không có các pháp thế nào nói là rỗng không. Ví như hư không không có ngôn không có thuyết, vì không có ngôn thuyết nên gọi là hư không. Trong không có ngôn thuyết cũng không có ngôn thuyết, đây gọi là rỗng không.

Tất cả các pháp cũng như vậy, pháp không có danh tự nói là danh tự, danh tự như vậy cũng không có chỗ trụ ở. Nếu danh tự không có trụ ở thì các pháp dưới danh tự ấy cũng không có chỗ trụ ở.

Như Lai Thế Tôn chơn thiệt biết các pháp như vậy không có sanh không có diệt. Vì chơn thiệt biết nên được giải thoát.

Bổn lai không có hệ phược sao lại gọi là được giải thoát ? Vì lẽ ấy nên Như Lai Thế Tôn không có hệ phược không có giải thoát.

Các pháp như vậy tất cả hàng phàm phu chẳng có thể biết được, vì thế nên chư Phật Thế Tôn khởi phát lòng đại bi diễn nói chánh pháp cho họ được biết.
(1941) T7 P51
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7627
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 19/10/17 06:20

Nầy thiện nam tử ! Luận về Bồ đề ấy đồng như hư không. Tánh hư không chẳng bằng chẳng thấp, Bồ đề cũng như vậy. Nếu pháp đã là không có tánh thì chẳng thể nói là có bằng có thấp. Như Lai Thế Tôn thiệt biết các pháp không có bằng không có thấp nhẫn đến vi trần không có bằng không có thấp.

Nếu pháp có tánh chính là như thiệt trí. Bực như thiệt trí biết tất cả pháp trước không nay có, đã có lại không, lúc sanh lúc diệt không chỗ hệ thuộc, theo duyên mà sanh, theo duyên mà diệt, do nghĩa nầy mà gọi là đạo. Do dứt đạo nầy nên gọi là Bồ đề.

Vì các hàng phàm phù chằng biết đạo chơn thiệt như vậy, nên chư Phật Thế Tôn phát khởi đại bi tuyên nói chánh pháp cho họ được biết.

Nầy thiện nam tử ! Bồ đề gọi là chơn thiệt cú, chơn thiệt cú ấy tức là Bồ đề. Hai cú như vậy đồng nhau không sai khác. Sắc cũng như vậy, thọ tưởng hành thức, địa thủy hỏa phong, nhãn giới sắc giới nhãn thức giới, nhĩ giới thanh giới nhĩ thức giới, tỷ giới hương giới tỷ thức giới, thiệt giới vị giới thiệt thức giới, thân giới xúc giới thân thức giới, ý giới pháp giới ý thức giới cũng đều như vậy, đây gọi là pháp lưu bố theo thế tục.

Như Lai chơn thiệt biết rõ các ấm nhập giới pháp như vậy không có điên đảo. Bực chẳng điên đảo biết pháp quá khứ bất sanh bất diệt, biết pháp vị lai bất sanh bất diệt, biết pháp hiện tại cũng bất sanh bất diệt, biết như vậy gọi là chẳng điên đảo, gọi là chơn thiệt cú, chơn thiệt cú ấy, như một pháp thì tất cả pháp cũng như vậy, như tất cả pháp thì một pháp cũng như vậy. Chơn thìệt cú nầy các hàng phàm phu chẳng biết, vì vậy nên chư Phật Như Laì phát khởi tâm đại bi tuyên nói chánh pháp cho họ được biết.

Nầy thiện nam tử ! Luận về Bồ đề ấy, chẳng phải nội chẳng phải ngoại. Thế nào là nội, thế nào là ngoại ?

Không bị tạo tác là chẳng phải nội, không bị giác tri là chẳng ngoại.

Nội ấy có nghĩa là trụ ở, ngoại ấy có nghĩa là tướng dạng. Thể của Bồ đề chẳng phải trụ ở chẳng phải tướng dạng, nên gọi Bồ đề chẳng phải nội chẳng phải ngoại.

Lại nữa, chẳng phải nội là chẳng phải ba nghiệp thân khẩu và ý, chẳng phải ngoại là chẳng phải ba nghiệp duyên.

Chẳng phải nội là vô tướng giải thoát môn, chẳng phải ngoại là không giải thoát môn.

Các nghĩa như vậy hàng phàm phu chẳng biết. Vì thế chư Phật Như Lai phát khởi tâm đại bi diễn nói chánh pháp cho họ được biết.

Nầy thiện nam tử ! Luận về Bồ đề là vô lậu là vô thủ. Thế nào là vô lậu và thế nào là vô thủ ?

Vô lậu là xa lìa bốn lưu, đó là dục lưu, hữu lưu, vô minh lưu và kiến lưu. Vô thủ là xa lìa bốn thủ, đó là dục thủ, hữu thủ, kiến thủ và giới thủ.

Các chúng sanh bị vô minh che trùm luôn đi nơi bốn thủ, do khát ái nên làm ngã và ngã sở.

Như Lai Thế Tôn biết rõ ngã không căn bổn nên ngã thanh tịnh, do ngã thanh tịnh nên có thể thanh tịnh chúng sanh. Ngã thanh tịnh thì chẳng giác tri tất cả các pháp cũng chẳng tư duy tất cả phi pháp, chẳng sanh khởi vô minh, do chẳng khởi vô minh nhơn duyên nên chẳng khởi mười hai nhơn duyên hữu, hữu nhơn duyên chẳng khởi thì bất sanh, vì bất sanh nên nhập vào quyết định tụ. Quyết định tụ ấy gọi là liễu nghĩa. Liễu nghĩa ấy gọi là đệ nhứt nghĩa. Đệ nhứt nghĩa ấy gọi là không có chúng sanh. Nghĩa không có chúng sanh gọi là nghĩa bất khả thuyết. Nghĩa bất khả thuyết chính là nghĩa mười hai nhơn duyên. Nghĩa mười hai nhơn duyên chính là nghĩa pháp. Nghĩa pháp ấy chính là Như Lai. Do nghĩa như vậy nên trong khế kinh nói nếu có ai thấy được mười hai nhơn duyên thì là người thấy pháp. Thấy pháp là thấy Như Lai. Thấy Như Lai ấy chính là không chỗ thấy. Chỗ thấy là tà, tà kiến ấy đó là pháp tướng số. Như Lai không có tưởng cũng không có tưởng số. Do nơi nghĩa nầy nên thấy Như Lai là không có chỗ thấy. Nếu thấy Như Lai không có tướng, không có tác, không có tri, không có giác, thì gọi là chơn thiệt thấy Như Lai.

Cũng vậy, đức Như Lai biết rõ tất cả các pháp bình đẳng như vậy, pháp giới vô lậu vô thủ.

Các hàng phàm phu chẳng thể rõ biết được như vậy, vì thế Như Lai Thế Tôn phát khởi tâm đại bi tuyên nói chánh pháp cho họ được biết.

Nầy thiện nam tử ! Luận về Bồ đề là thanh tịnh là tịch tĩnh là quang minh là vô tranh. Thế nào là thanh tịnh, thế nào là tịch tĩnh, thế nào là quang minh và thế nào là vô tranh ?

Chẳng xen tạp phiền não thì gọi đó là thanh tịnh. Không giải thoát môn thì gọi đó là tịch tĩnh. Vô tướng giải thoát môn và vô nguyện giải thoát môn thì gọi đó là quang minh. Vô sanh vô diệt thì gọi đó là vô tranh. Lại nữa, vô sanh ấy thì gọi đó là thanh tịnh. Vô diệt thì gọi đó là tịch tĩnh. Vô thủ thì gọi là quang minh. Bất xuất thì gọi là vô tranh.

Lại nữa, tánh thì gọi là thanh tịnh. Không có các phiền não thì gọi là tịch tĩnh là quang minh là vô tranh.

Lại nữa, pháp giới gọi là thanh tịnh. Tánh chơn thiệt gọi là tịch tĩnh là quang minh là vô tranh.

Lại nữa, tánh hư không gọi là thanh tịnh. Pháp giới vô phân biệt thì gọi là tịch tĩnh là quang minh là vô tranh.

Lại nữa, nội ngoại thanh tịnh thì gọi đó là thanh tịnh. Nơi các pháp nội và ngoại chẳng thủ lấy chẳng trụ trước, thì gọi đó là tịch tĩnh là quang minh là vô tranh.

Lại nữa, chơn thiệt biết ngũ ấm thì gọi đó là thanh tịnh. Chơn thiệt biết thập bát giới thì gọi đó là tịch tĩnh là quang minh. Xa lìa lục nhập thì gọi đó là vô tranh.

Lại nữa, thấy quá khứ tận thì gọi là thanh tịnh. Thấy vị lai chẳng sanh thì gọi là tịch tĩnh. Thấy pháp hiện tại an trụ nơi pháp giới không có động chuyển thì gọi đó là quang minh là vô tranh.

Thanh tịnh, tịch tĩnh, quang minh và vô tranh, bốn pháp như vậy đồng nhập vào một giới, một pháp và một câu. Ba pháp như vậy tức là Niết bàn. Vì xa lìa phiền não nên gọi là thanh tịnh, vì rốt ráo thanh tịnh nên gọi là tịch tĩnh, vì không tối tăm nên gọi là quang minh, vì bất khả thuyết nên gọi là vô tranh. Vì thế nên nói đức Thích Ca Như Lai nín lặng không chỗ nói.
(1944) T7 P51
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7627
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 20/10/17 06:12

Nầy thiện nam tử ! Luận về Bồ đề ấy tức là hư không. Hư không ấy gọi là pháp. Như pháp, chúng sanh cũng vậy. Như chúng sanh, phước điền cũng vậy. Như phước điền, Niết bàn cũng vậy. Do nghĩa nầy nên tất cả pháp đồng với Niết bàn.

Đức Như Lai có thể biết rõ pháp giới như vậy nên gọi là Phật.

Tu tập đầy đủ thanh tịnh tịch tĩnh quang minh và vô tranh, bốn câu như vậy thì gọi đó là Phật”.

Vì đức Như Lai có thể biết rõ được thiện phương tiện nên lúc đầu mới được Vô thượng Bồ đề liền nín lặng an trụ không có tuyên nói để chờ Đại Phạm Vương thưa thỉnh. Lúc ấy, Thi Khí Đại Phạm Vương cùng sáu vạn tám ngàn vị Phạm Thiên đến chỗ Phật đầu mặt lạy Phật rồi chắp tay tôn kính bạch rằng : Cầu nguyện đức Như Lai vì các chúng sanh chuyển chánh pháp luân, lại tiến nói kệ rằng :

Phật pháp ly, thanh tịnh, tịch tĩnh
Đại quang vô ngại, không có tranh
Không chữ, không tiếng cũng không nói
Chơn thiệt biết rõ như pháp giới
Phật vì chúng sanh vô lượng kiếp
Khổ hạnh thọ trì giới thế gian
Để thức tỉnh chúng sanh mê ngủ
Mãi làm phóng dật mê thiệt nghĩa
Còn vô lượng chúng trong hội nầy
Chứa căn lành nơi vô lượng Phật
Hay hiểu nghĩa sâu nghĩa chơn thiệt
Nguyện Phật chuyển pháp luân vô thượng
Chúng đây đã phục tất cả ma
Muốn đuợc mở bày cửa cam lộ
Đức Phật hiệu là chơn Đạo Sư
Chỉ đường vô thượng cho chúng sanh
Đức Phật dầu có đại từ bi
Thương mến chúng sanh như con một
Nay tôi thỉnh pháp là đúng thời
Phật chuyển chánh pháp luân vô thượng
Như xưa ba Phật chuyển pháp luân
Nguyện cầu Như Lai nay cũng vậy
Vô lượng Đạo Sư không thối chuyển
Dạy các chúng sanh đạo nhứt chơn
Như mưa nhuần lớn các cỏ cây
Làm cho chúng sanh hết nóng khát
Phật ban pháp vũ cho chúng sanh
Vì được vô lượng vô thượng quả
Lúc sơ sanh Phật có phát nguyện
Ta sẽ cứu khổ các chúng sanh
Chúng sanh khát mong vị cam lộ
Nguyện đại từ bi ban mưa pháp.

Bấy giờ đức Thế Tôn đã thọ thỉnh rồi liền đi qua thành Ba La Nại trong rừng Lộc Dã chỗ ở của các tiên nhơn mà chuyển chánh pháp luân. Pháp luân ấy, tất cả hàng chư Thiên, Ma Vương, Phạm Vương và các Sa Môn hoặc các Bà La Môn khác đều chẳng thể chuyển được. Lúc ấy đức Thế Tôn nói pháp Tứ đế, Tỳ Kheo Kiều Trần Như được pháp nhãn thanh tịnh. Tiếng pháp ấy vang khắp cả cõi Đại Thiên . Đức Thế Tôn nói kệ rằng :

Nghĩa pháp thậm thâm chẳng thể nói
Đệ nhứt nghĩa không tiếng không chữ
Tỳ kheo Trần Như nói các pháp
Chứng được bực tri kiến chơn thiệt
Chính ta thuở xưa vô lượng đời
Chứng được Bồ đề nay đã được.

Lúc đức Như Lai chuyển chánh pháp luân như vậy, vô lượng chúng sanh đều được điều phục. Đức Như Lai thị hiện đại bi thần thông như vậy các chúng sanh được thấy có vô số người phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Nầy thiện nam tử ! Mười sáu đại bi của Như Lai như vậy, tất cả đều vì các chúng sanh mà tu tập. Do nhơn duyên đại bi ấy, đức Như Lai vì mỗi mỗi chúng sanh trải qua số kiếp như số cát sông Hằng ở trong đại địa ngục thọ những khổ não mà tâm không thối chuyển , tâm đại bi ấy cũng không bị tổn giảm. Vì nghĩa ấy nên đại bi của đức Như Lai chẳng thể nghĩ bàn.

Nầy thiện nam tử ! Lòng bi của hàng Thanh Văn và Duyên giác như vẽ trên da, đại bi của Bồ Tát như xẻ thịt, đại bi của Như Lai như chẻ xương thấu tủy. Lòng bi của Thanh Văn và Duyên Giác tán thán sở tri của Phật, đại bi của Bồ Tát khuyên người thật hành, đại bi của Như Lai thọ ký Vô thượng Bồ đề. Lòng bi của Thanh Văn và Duyên Giác làm nhơn duyên cho lòng từ, đại bi của Bồ Tát vì điều phục chúng sanh, đại bi của Như Lai vì cứu cánh độ chúng sanh. Lòng bi của Thanh Văn và Duyên Giác do sự khổ thô thiển mà sanh, đại bi của Bồ Tát do lìa rời sự khổ mà sanh, đại bi của Như Lai do dứt trừ tất cả nhơn duyên mà sanh.

Nầy thiện nam tử ! Đức Như Lai tu tập đại bi như vậy, nếu vì một người mà ở lại thế gian mà trải qua một kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, vạn kiếp đến vô lượng kiếp trọn chẳng rốt ráo nhập Niết bàn.

Nầy thiện nam tử ! Đại bi của Như Lai thành tựu vô lượng công đức như vậy.

Nầy thiện nam tử ! Về quá khứ vô lượng vô biên vô số kiếp, nơi thế gian có đức Phật xuất thế hiệu là Chiên Đàn Quật, thế giới ấy tên là Đại Hương, kiếp ấy gọi là Thượng Hương. Đức Phật Chiên Đàn Quật trong ba trăm ba mươi hai vạn kiếp thường đem chánh pháp giáo hóa hàng Thanh Văn. Trên thân Phật Chiên Đàn Quật mỗi mỗi lỗ lông phát ra hơi hương khắp đầy cả Đại Thiên thế giới. Thế giới Đại Hương ấy không có danh từ hôi thúi, bao nhiêu cỏ cây đều có mùi chiên đàn, thân các chúng sanh trong cõi ấy cũng có mùi hương chiên đàn như vậy, tất cả đều không có thân khẩu ý ác. Đệ tử của đức Phật Chiên Đàn Quật nghe mùi hương nầy thì được tứ thiền. Sau đó kế tiếp có một vạn chư Phật nối nhau xuất thế đều đồng một hiệu là Chiên Đàn Quật, do cớ nầy mà kiếp ấy có tên là Thượng Hương.

Đức Chiên Đàn Quật Như Lai làm Phật sự xong muốn nhập Niết bàn quan sát chúng sanh coi có ai chưa điều phục thì Phật sẽ điều phục cho. Đức Phật Chiên Đàn Quật dùng tịnh nhãn thấy có một vị ở Trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đã ở nơi Phật trước gieo giống thượng thiện căn quyết định sẽ nhơn pháp Phật mà được độ thoát chớ chẳng phải nhơn pháp Thanh Văn mà được giải thoát. Vị trời nầy quá tám vạn bốn ngàn kiếp tuổi thọ sẽ sanh xuống cõi Dục sẽ nghe kinh điển Đại thừa mà phát tâm Vô thượng Bồ đề an trụ bực bất thối chuyển. Đức Phật Chiên Đàn Quật do sức đại bi khởi đại phương tiện bảo các Tỳ Kheo giờ Niết bàn của ta đã đến, nói xong Phật liền nhập Bất Hối tam muội thị hiện cho chúng sanh biết Phật nhập Niết bàn, biết Phật nhập Niết bàn rồi đại chúng sắp bày rộng rãi sự cúng dường, chánh pháp trụ thế đủ sáu mươi tám vạn bốn ngàn năm, trong thời gian các đệ tử của Phật không có đến một người ở nơi chánh pháp mà sanh tưởng tà pháp. Do sức đại định, đức Phật Chiên Đàn Quật ẩn kín thân Phật qua tám vạn bốn ngàn kiếp chẳng cho đại chúng thấy. Quá kiếp số thọ mạng, vị trời ấy sanh xuống nhơn gian làm con trai nhà đại trưởng giả. Qua tám mươi năm, đức Phật Chiên Đàn Quật từ tam muội dậy đến nhà trưởng giả, mọi người trong nhà không ai thấy, chỉ có người con trai nầy một mình được thấy đức Phật và được nghe đức Phật thuyết pháp được chẳng thối chuyển tâm Vô thượng Bồ đề. Biết vậy, đức Phật Chiên Đàn Quật liền thọ ký rằng đời sau quá bảy vạn hai ngàn a tăng kỳ trăm ngàn kiếp ngươi sẽ được thành Vô thượng Bồ đề hiệu là Bửu Thượng Phật. Lời đức Phật Chiên Đàn Quật thọ ký ngoài người con trai trưởng giả nầy không ai được nghe, chỉ có một vạn hai ngàn chư Thiên nầy nghe rồi đều phát tâm Vô thượng Bồ đề đồng thanh bạch rằng : Cầu nguyện lúc đức Bửu Thượng Phật ra đời, chúng tôi sẽ ở trong pháp hội ấy thỉnh thọ chánh pháp và làm đệ tử. Đức Phật Chiên Đàn Quật nghe biết lời bạch của chư Thiên liền thọ ký rằng : Lúc Bửu Thượng Như Lai thành Phật, một vạn hai ngàn chư Thiên các ngươi sẽ làm thọ pháp đệ tử, cũng sẽ được Phật Bửu Thượng thọ ký Vô thượng Bồ đề. Việc làm nầy xong đức Chiên Đàn Quật mới cứu cánh nhập Niết bàn tất cả chư Thiên thiết lập cúng dường lớn”.

Đức Phật phán tiếp : “Nầy thiện nam tử ! Chư Phật Như Lai có đủ đức đại bi như vậy, chẳng phải là chỗ biết được của hàng Thanh Văn và Duyên Giác. Thuở ấy, đức Phật Chiên Đàn Quật dầu ở tại thế đem pháp Thanh Văn giáo hóa mà cuối cùng vẫn làm cho giống Phật chẳng dứt. Nếu có chúng sanh nào cúng dường ngôi Tam bảo thì cũng như vậy”.

Lúc đức Phật Thế Tôn nói rộng công đức đại bi, trong chúng hội có ba hằng hà sa chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề. Nửa số chúng hội được thành vô sanh pháp nhẫn, phân nửa trong nửa số còn lại được có mười sáu đại bi như vậy, phần còn lại được Phật pháp nhẫn.

Tất cả chư Thiên và mọi người nghe pháp vui mừng đồng thanh khen rằng : “Lành thay, lành thay ! Rất lạ lùng rất đặc biệt, đức Phật Thế Tôn tuyên nói pháp môn đại bi như vậy”.
(1947) T7 P51
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7627
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 21/10/17 06:11

Lại nữa, nầy Đà La Ni Tự Tại Vương đại Bồ Tát ! Đức Phật Như Lai còn có ba mươi hai nghiệp.

Nầy thiện nam tử ! Như Lai biết rõ thị xứ và phi xứ. Thế nào là Thị xứ và thế nào là phi xứ?

Nầy thiện nam tử ! Nếu có người tạo tác thân khẩu ý ác mà được thọ quả an lạc thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Nếu có người tạo tác thân khẩu ý thiện mà thọ quả an lạc thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.

Nếu có ngưòi quen làm việc tham lam bỏn xẻn mà được báo giàu to thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Nếu có người ban ơn bố thí mà được báo giàu to thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.

Nếu là người hủy phạm giới cấm mà được báo thân cõi trời thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Nếu là người hộ trì giới cấm thanh tịnh mà được báo thân cõi trời thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.

Người hay sân hận mà được báo thân xinh đẹp thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Người thường nhẫn nhục mà được báo thân xinh đẹp thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.

Người lười nhác trong pháp lành lớn mà được đại thần thông thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Người siêng tinh tiến nơi pháp lành lớn mà được đại thần thông thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.

Người phóng tâm tán loạn mà được bực chánh định thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Người nhiếp tâm bất loạn mà được bực chánh định thì có như vậy, đây gọi là thị xứ .

Người ngu si mà dứt tập khí phiền não thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Người tu hành trí huệ dứt tập khí phiền não thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.

Người tạo tội ngũ nghịch mà được vô lậu thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ . Người không tội ngũ nghịch mà được vô lậu thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.

Thân người nữ mà làm Chuyển Luân Thánh Vương thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Thân nam tử làm Chuyển Luân Thánh Vương thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.

Như làm Chuyển Luân Thánh Vương, làm Thiên Đế Thích, làm Phạm Vương và làm Phật cũng như vậy.

Nếu là chuyển Luân Thánh Vương mà dùng phi pháp để trị nước thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Chuyển Luân Thánh Vương dùng chánh pháp trị nước thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.

Người Châu Uất Đơn Việt sau khi chết mà đọa vào ba ác đạo thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Người Uất Đơn Việt thọ chung sanh lên cõi trời thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.

Người thường sát hại sanh mạng chúng sanh mà được báo trường thọ thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Còn do cớ nầy mà thọ mạng yểu ngắn thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.

Người có tà kiến mà chứng thánh đạo thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Người có chánh kiến mà chứng được thánh đạo thì có như vậy, đây gọi là thị xứ.

Bực Tu Đà Hoàn mà còn có thọ sanh đời thứ tám thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ. Bực Tu Đà Hoàn mà liền nhập Niết bàn cũng không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.

Bực A Na Hàm mà thọ sanh trong cõi Dục thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.

Bực A La Hán mà thọ thân đời sau thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.

Người Hiền Thánh mà học hỏi nơi các dị sư thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.

Bực bất thối nhẫn mà còn thối chuyển Bồ đề thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.

Bồ Tát đến ngồi dưới cây Bồ đề chưa chứng quả Bồ đề mà dậy đi thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.

Bực Phật Như Lai mà có tập khí phiền não thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.

Bực Phật Như Lai mà trí còn có chướng ngại thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.

Nếu có ai thấy được đỉnh đầu của đức Phật thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.

Nếu có chúng sanh biết được cảnh giới nội tâm của đức Phật thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.

Tâm của đức Phật mà chẳng thường định cũng không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.

Chư Phật Thế Tôn mà có nhị ngữ thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.

Như Lai Thế Tôn mà còn có lỗi lầm thì không bao giờ có, đây gọi là phi xứ.

Nầy thiện nam tử ! Đây gọi là nghiệp thứ nhứt của Phật Thế Tôn.

Đức Phật nói kệ rằng :

Đại địa được nói tướng chuyển động
Gió mạnh được nói tướng dừng lặng
Hư không được nói tướng có sắc
Phật chẳng nói xứ là phi xứ
Phật diễn nói xứ và phi xứ
Phần hạ trung thượng đều chơn thiệt
Chẳng nói xứ phi xứ là một
Hai xứ như vậy riêng không hai
Như Lai cũng nói hạ trung thượng
Đều riêng không có ba thứ tướng
Phật biết thị xứ phi xứ rồi
Có thể tuyên nói pháp vô thượng
Như Lai biết rõ lòng chúng sanh
Khéo hay phân biệt tướng vi tế
Sa Môn phạm chí đi trong tối
Chẳng biết nhơn thị xứ phi xứ
Chúng sanh chằng biết xứ phi xứ
Do đó nên chẳng được giải thoát
Như Lai biết rõ xứ phi xứ
Đó là hiệu Phật đấng Vô Thượng
Nếu là chúng sanh không pháp khí
Như Lai với họ tu tâm xả
Lập đại phương tiện chờ thời tiết
Vì cho họ được chơn giải thoát
Như Lai Thế Tôn trí vô thượng
Đây thì gọi là pháp thứ nhứt
Thanh tịnh nghiệp thứ nhứt như vậy
Vì làm chúng sanh được điều phục
Như Lai nói lực thứ nhứt nầy
Rất sâu khó lường không biết được
Diệu pháp như vậy khó biết được
Vì phá tà kiến thương xót nói
(1951) T7 P51
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7627
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 22/10/17 06:10

Lại nữa, nầy thiện nam tử ! Đức Như Lai khéo biết những nghiệp được có của các chúng sanh hiện tại và các chúng sanh vị lai, biết rõ nghiệp, biết rõ báo, biết rõ nhơn, biết rõ xứ. Nếu nghiệp quá khứ là nhơn bất thiện thì đức Như Lai biết rõ là đời vị lai được quả bất thiện. Nếu nghiệp vị lai có nhơn duyên thối chuyển thì Như Lai biết rõ là nhơn thối chuyển. Nếu nghiệp vị lai hay làm tăng trưởng pháp thì đức Như Lai biết rõ do nhơn duyên nầy hay làm tăng trưởng pháp. Nếu nghiệp hiện tại hoặc tiến hoặc thối thì đức Như Lai biết rõ do nhơn duyên nầy nên có tiến có thối. Nếu có nghiệp được làm là nhơn Thanh Văn là nhơn Duyên Giác, là nhơn Bồ Tát, là nhơn Như Lai, thì đức Như Lai đều biết rõ do nhơn duyên nầy mà thành là nhơn Thanh Văn, là nhơn Duyên Giác, là nhơn Bồ Tát, là nhơn Như Lai. Đây gọi là nghiệp thứ hai của đức Như Lai ».

Đức Thế Tôn nói kệ rằng :

Như Lai chứng được trí Vô thượng
Nên biết rõ được nghiệp nhơn quả
Biết nhiếp tam thế chẳng tam thế
Biết được tam thế nghiệp chúng sanh
Khéo biết chúng sanh nhơn an lạc
Phật cũng biết rõ nhơn khổ não
Phật phá tà kiến không nhơn quả
Do đây tu tập nghiệp thứ hai
Thông đạt nhơn hai pháp tiến thối
Nghiệp quả thiện ác cũng như vậy
Như Lai tri kiến không chướng ngại
Như xem trái cây trong bàn tay
Biết tướng chơn thiệt thượng trung hạ
Sở nhơn ba thừa cũng như vậy
Như Lai biết rõ nghiệp chúng sanh
Cũng biết các nghiệp quả thiện ác
Chúng sanh nghiệp quả thuộc tam thế
Biết rõ chẳng sai gọi Chánh Giác.

Lại nữa, nầy thiện nam tử ! Như Lai Thế Tôn biết rõ các loại dục giải của chúng sanh : hoặc là tham dục, hoặc là sân hận, hoặc là ngu si, đời hiện tại tham dục khởi đời vị lai tham sân si, đời hiện tại sân hận khởi đời vị lai tham sân si, đời hiện tại ngu si khởi đời vị lai tham dục sân hận ngu si. Đức Như Lai biết rõ các chúng sanh hiện tại trụ ở thiện dục vị lai ác dục, hiện tại trụ ác dục vị lai thiện dục. Đức Như Lai biết rõ các chúng sanh đời hiện tại trụ hạ dục đời vị lai hạ trung thượng phần, đời hiện tại trụ trung dục đời vị lai hạ trung thượng phần, đời hiện tại trụ thượng dục đời vị lai hạ trung thượng phần. Đức Như Lai biết rõ chúng sanh tà tụ có thể làm chánh tụ, chúng sanh bất định tụ an trụ ở chánh định tụ. Đức Như Lai biết rõ chúng sanh cõi Dục có dục giải cõi Sắc, cõi Vô Sắc. Đức Như Lai biết rõ người Thanh Văn có dục giải Duyên Giác có dục giải Phật. Vì đức Như Lai chơn thiệt thông đạt biết rõ nên vì họ mà thuyết pháp. Đây gọi là nghiệp thứ ba của Như Lai ».

Đức Thế Tôn nói kệ rằng :

Dục giải của chúng sanh có nhiều loại
Ý đó có nhiều chẳng phải một
Phật chơn thiệt biết rõ các dục
Nên hay tùy ý diễn nói pháp
Tánh tham dục sân hận ngu si
Theo tướng biết rõ không sai lầm
Hạ trung thượng phẩm cũng biết rõ
Thiện ác nghiệp nhơn quả chơn thiệt
Thông đạt ba tụ chẳng nhứt định
Tất cả ba thừa cũng bất định
Biết tam thế chẳng nhiếp tam thế
Lực thứ ba vì chúng sanh nói.

Lại nầy thiện nam tử ! Đức Như Lai biết rõ vô lượng thế giới, hoặc tu thiện hạnh, hoặc hành ác pháp, hoặc hành vô ngại hạnh, thế nào gọi là biết, vì là nội không ngoại không và nội ngoại không vậy.

Lại nữa, Đức Như Lai biết rõ nhãn, biết rõ sắc và biết rõ nhãn thức, thế nào mà biết, vì là như hư không vậy.

Lại nữa, đức Như Lai biết rõ Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới, thế nào mà biết, vì như giác quán vậy.

Lại nữa đức Như Lai biết rõ nơi hành giới, thế nào mà biết, vì như tánh của hành vậy.

Lại nữa, đức Như Lai biết rõ phiền não giới, thế nào mà biết, vì là tánh khách trần vậy.

Lại nữa, đức Như Lai biết rõ giới chẳng nhiễm ô, thế nào mà biết, vì tánh của các pháp bổn thanh tịnh vậy.

Lại nữa, đức Như Lai biết rõ giới sanh tử, thế nào mà biết, vì vô minh nhơn duyên vậy.

Lại nữa, đức Như Lai biết rõ giới Niết bàn, thế nào mà biết, vì là chơn thiệt tư duy vậy.

Lại nữa, đức Như Lai biết rõ các giới : thế trụ, thế ái, thế sân, thế si, thế thanh tịnh, thế thanh tịnh tâm.

Vì biết rõ các giới nên có thể như thiệt thuyết pháp, đây gọi là nghiệp thứ tư của đức Như Lai”.

Đức Như Lai nói kệ rằng :

Phật là sư tử Vương trong đời
Hay chơn thiệt biết chúng sanh giới
Như Lai trí huệ không bờ mé
Nên biết thế gian không bờ mé
Biết hạnh thiện ác hạnh giải thoát
Cũng biết nhãn sắc và nhãn thức
Thông đạt tất cả vô lượng pháp
Tánh nó bổn lai thường thanh tịnh
Nội ngoại chơn thiệt vô sở hữu
Ngũ ấm lục nhập thập bát giới
Thân khẩu ý nghiệp và tứ đại
Các pháp như vậy đều không thiệt
Biết rõ chúng sanh giới như vậy
Tất cả đều đồng cảnh hư không
Tam giới tánh tướng không chơn thiệt
Các phiền não giới cũng không chơn
Phiền não tánh tướng không bền vững
Vô lậu giải thoát cũng như vậy
Như Lai dầu biết chơn thiệt giới
Trọn chẳng vì biết mà kiêu mạn
Hư không vô lượng vô biên tế
Tất cả chúng sanh giới cũng vậy
Như Lai trí huệ vô biên tế
Xa lìa ba tướng của hữu vi
Trí Phật vô thượng rất sâu diệu
Tất cả chúng sanh chẳng biết được
Như Lai vì thương xót chúng sanh
Tuyên nói lực thứ tư như vậy.
(1954)T7 P51
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần


Quay về “Kinh Luật Luận”

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách