Đường về Cực Lạc

Thảo luận giáo lý và phương pháp hành trì pháp môn niệm Phật.

Điều hành viên: binh, battinh

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7300
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: Đường về Cực Lạc

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 11/03/17 06:15

HIẾU TÂM CHƠN THẬT
Vương Nữ người Kiết An, thuở nhỏ cô ham mộ pháp môn Tịnh-Độ mỗI ngày tụng các kinh : Di-Đà, Quán-Âm, Kim-Cang . Bà mẹ cô mang bịnh rồi mất. Khi sắp liệm, máu ứ chảy lan. Cô thệ rằng “ Nếu lòng hiếu thảo của tôi chơn thật, nguyện cho thi hài của mẹ tôi không hôi dơ”. Co nguyện dứt lời, máu liền ngừng chẩy, đến khi liệm hẳn, không hơi hôi.
Ít lúc sau cha chấp nối , cô cùng bà kế mẫu đồng chí tu Tịnh nghiệp.
Một hôm Nữ phải bịnh, thỉnh chư tăng đến nhà giảng pháp quán Tịnh-Độ. Giây lát Nữ chổi dậy, đòi thay áo rồi nằm kiết tường, tay nắm chót lá phan trước tượng Quán-Thế-Âm mà đi. Lúc sắp niệm bà kế mấu rải tro trên đất. Sáng hôm sau chỗ rải tro mọc lên vài đóa hoa sen.
Trích bộ Phật Tổ Thống Kỷ.


HAI BÀ TRÌ KINH DI – ĐÀ
Đào Thị người Thường Thực , ở góa tu hành, mỗi ngày trì phẩm Phổ Môn , chiêm bao thấy đức Quán –Thế - Âm trao cho một hoa sen. Ít lúc sau thị lại mơ thấy một sư tăng trao cho một quyển kinh, Thị lật xem thời là kinh Di-Đà. Sau khi thức giấc, thị lấy kinh Di-Đà ra tụng thời làu làu như đã quen tụng từ lâu, và bắt đầu từ ngày ấy, Thị thường tụng kinh Di-Đà. Một đêm nọ trong nhà phát sáng như ban ngày , đức A-Di-Đà Phật hiện thân đứng trên hộp đựng kinh. Cảm sự linh ứng ấy thị càng tinh tấn tụng kinh. Thỉnh thoảng xá lợi nổI ra trên quyển kinh. Thị lượm cất dần đến hơn trăm hột.

Lý Thị sau khi chồng chết, mỗi ngày niệm Phật và tụng kinh Di-Đà từ đầu hôm suốt đến sáng, tiếng vang cả trong ngoài. Mãi như vậy đến hơn mười năm. Một hôm thị đương ngồi ngay thẳng niệm Phật, thoạt có một vị tăng hiện ra trước mặt, trên đầu sư tăng che lọng bằng lụa đỏ. Sư bảo thị “ Đến giờ tý ngày rằm này thị sẽ được vãng sanh “. Thị thưa “ Sư là ai ?” Sư đáp “ Là người mà thị đang niệm đó ”. Dứt lời liền biến mất. Đến kỳ cả nhà ngào ngạt mùi hương lạ , đương giữa đêm mà sáng như ban ngày. Lý Thị đoan tọa mà từ trần. Qua bảy ngày sau làm lễ trà tỳ , răng, lưỡi, tròng mắt đều không cháy, xá lợi nhiều vô số. Qua ngày kế chõ đất trà tỳ mọc lên một đóa hoa sắc trắng, vòng tròn hơn hai tấc, không ai biết là hoa gì.
Trích bộ : Phật Tổ Thống Kỷ.
(107)
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7300
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: Đường về Cực Lạc

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 13/03/17 06:48

ĐOẠN DỤC

Bà vợ ông Tưởng Thập Bát người Hải Diêm. Năm 30 tuổi cùng chồng đồng chí tu hành, đoạn trừ ái dục, mỗi ngày niệm Phật tụng kinh Đại Thừa. Luôn như thế đến hơn 40 năm.
Một ngày nọ hai người đều tự tắm rửa , thay đổi y phục , đông thắp hương xướng hồng danh của Phật. Rồi mỗi ngườI tự biên bài kệ để lại mà tạ thế.
Bài kệ của ông Thập Bát
Cái thân huyễn này, tứ đại hợp thành,
Ngày nay phân tán, gốc đâu về đó.
Cái huyễn đã diệt, tro bay khói tắt.
Như gió ở hư không, như trăng trên trời trong.
Đã không chướng ngại, lại hay sáng suốt.
Tất cả dứt hẳn, tuyệt đường ngôn thuyết
Bốn mươi năm nay thoát ly ái dục
Xiển dương Đại Thừa, sớm đọc tối tụng
Ngày nay thả tay thẳng về Tây.
Tự có hiện thành, sẵn đạo quả.

Bài kệ của bà Tưởng
Đọc Pháp Hoa kinh mười bốn ngàn
Bình sanh tu niệm có nhơn lành .
Tây phương Tịnh-Độ nhà ta đó
Tự tại ngồi an Bát-Nhã thoàn.

Trích Nhàn Song Hoát Dị Chí

(108)
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7300
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: Đường về Cực Lạc

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 14/03/17 06:34

THOẠI TƯỚNG HIỆN TIỀN

1) Châu Thị người Gia Hòa , dâu nhà họ Tôn, cha mẹ chồng đồng tu Tịnh-Độ rất chuyên cần, cảm tượng Phật thờ trong nhà phóng quang minh. Hương hoa tự nhiên hiện đầy cả trên bàn thờ, có lúc trên hư không Phật và Bồ-Tát hiện thân, có lúc nghe tiếng tụng giữa chừng hư không.
Trích Phật Tổ Thống Kỷ

2) Trịnh Thị người Tiền Đường , mỗi ngày chuyên niệm hồng danh của Phật. Một hôm phải bịnh , thoạt nghe trên không có tiếng bảo rằng “ Mụ sắp được về Tịnh-Độ, chớ có giải đãi”. Kế lại thấy Phật hiện ở trước mặt , thân Phật màu vàng ròng. Thị liền trổi dậy, day về phương Tây ngồi ngay thẳng. Thị có một người con trai đã xuất gia, pháp danh Nghĩa Tu, liền cho người gọi về. Thị bảo tụng kinh A-Di-Đà. Tiếng kinh chưa dứt, thị đã an lành mà đi. Tối đến con gái của thị mơ thấy thị về mách rằng “Mẹ đã đặng vãng sanh Cực-Lạc “.
Trích Phật Tổ Thống Kỷ

3) Châu Bà người Huyện-Cần hằng ngày chuyên tu Tịnh-Độ. Cứ đến đầu năm , bà trì hạnh bất ngữ (không nói chuyện), ngày đêm ngồi ngay thẳng tưởng Phật, mãn tháng giêng mới thôi. Những tháng nóng nực thời bà thí nước trà cho khách lữ hành năm nào cũng như năm nấy. Một đêm nọ bà mơ thấy lá sen lớn trùm khắp cả đường phố , còn bà thì tay lần chuỗi, đi kinh hành trên lá. Không bao lâu bà nhuốm bịnh sơ sài. Tối hôm ấy, những người lân cận thấy tràng phan, bảo cái từ trên không giáng xuống, thẳng vào nhà bà. Rạng đông, bà chấp tay xướng hồng danh của Phật mà mất.
Trích Vãng Sanh Tập

4) Mụ Trương năm trên năm mươi tuổI, ăn trường trai, niệm Phật. Năm 79 tuổi , một đêm nọ mụ tắt đèn tĩnh tọa, bốn phía vách bỗng phóng quang minh, hiện các thứ anh lạc. Giờ mụ lâm chung, khói hương trên bàn cuộn lên uyển chuyển kết thành tượng Phật, giây lát tượng ấy thành màu vàng ròng , mặt, mắt rõ, đẹp như vẽ một tay thòng xuống hình như tiếp dẫn. Mọi người kinh lạ đồng chấp tay chăm chú nhìn. Khói hương tan, tượng mất , mụ cũng đồng thời an tịch.
Trích Tịnh Độ Tiết Yếu

5) Tiết Thị người Võ Đường, dâu nhà họ Châu, sau khi sanh được con trai thời ở góa. Từ đó thị chuyên tâm tu Tịnh-Độ . Tánh thị ưa bố thí không biết mỏi nhàm. Trong nhà thờ tượng Quan-Thế-Âm , khói hương trên bàn thường kết thành hoa sen , mọi người đều được thấy. Mùa hạ năm Vạn Lịch thứ 15 thị nhuốm bịnh, không uống thuốc, không ăn, chỉ uống nước trong. Đến ngày mồng 6 tháng 9 thị cho người thỉnh tăng về nhà lễ sám. Thị nói “ Mãn bốn ngày thời công việc của tôi xong xuôi”. Bảo thiết tượng Phật A-Di-Đà để cho thị ngày đêm chuyên niệm. Thị bảo năm người con trai đồng thanh xướng hồng danh Phật. Cấm hẳn phụ nữ không được vào. Đến ngày thứ năm, sáng sớm Thị đòi nước rửa tay, miệng tụng chú cam lộ, thay y phục mới sạch sẽ, đầu đội mũ Chí-Công rồI quì thẳng trước tượng Phật xướng bài kệ “ Nhiên hương tán” và tam tự qui, lễ ba lạy, niệm Phật 108 câu. Niệm xong thị ngồi kiết già, tay bắt ấn mà tạ thế . Sắc mặt thị lộ vẻ vui tươi . Mọi người đồng nghe mùi hương sen thơm ngát cả nhà. . Thị có để lời dặn “ Đóng khánh, không dùng hòm, không được đốt giấy tiền, không được sát sanh cúng tế”. Mấy người con trai của thị đều tuân hành.
Trích Vãng Sanh Tập.
(109)
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7300
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: Đường về Cực Lạc

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 15/03/17 06:47

TRI LỄ
Tri Lễ đại sư họ Kim, tự Ước Ngôn , người Minh Châu. Phụ mẫu lễ Phật cầu tự mơ thấy Thần Tăng trao cho một đồng tử và nói “ Đây là Phật tử vậy”.Không bao lâu thì sanh đại sư. Năm lên 7 mẹ mất. Đại sư ngày đêm kêu khóc , thưa vớI cha xin xuất gia. Thế độ nơi Hồng Tuyển đại sư tại chùa Hưng Quốc ở Thái Bình. Tuổi trưởng thành, đại sư đến học Thiên Thai Giáo Quán với Nghĩa Thông pháp sư ở chùa Bửu Vân . Tông chỉ viên đốn một phen truyền dậy là đại sư liễu đạt cả. Ít lâu sau đại sư trụ Bảo Ân viện, giảng Thiên Thai Giáo Quán, Tăng chúng theo học rất đông. . Minh Châu bị hạn, đại sư hiệp cùng Từ Vân sám chủ tu Quang Minh sám. Đại sư ước ba ngày mà không mưa sẽ tự đốt một cánh tay. Đến ngày thứ ba trời mưa to. Năm Tường Phù thứ ba triều Tống, đại sư trùng kiến Ân Bảo viện . Triều đình phụng hiệu “Diên Khánh Tự”. Năm thứ sáu đại sư lập đạo niệm Phật, truyền giới. Đại sư có làm bài văn để khuyến tấn đại chúng

“ Nguyên về một niệm bổn dung , chư pháp vô ngại, bị huân tập đã khác tất thọ báo không đồng. Cho nên hễ thuận tánh mà tu thời hiển chư Phật Tịnh-Độ, còn theo tình tạo nghiệp thời chịu khổ trong luân hồi. Vì thế ở Ta-Bà mà tu giải thoát rất khó, đọa lạc phần nhiều. Kinh nói : Được thân người như đất dính móng tay, đọa tam đồ như cõi đại địa. Chờ đến Thánh Hạnh đầy đủ mới khỏi thọ sanh nơi ác đạo. Đó là do ở cõi uế trược này trần cảnh thô cường, phiền não lẫy lừng nên tự lực cầu giảI thoát khó có người được. Nếu người sanh về Tịnh-Độ Cực-Lạc thời cảnh giới trang nghiêm, thân tâm thanh tịnh, thẳng một mực lên quả Phật chẳng còn sa đọa. Như kinh dậy ở đó “ Còn không có danh từ ác đạo, huống là có thật”. Kinh lại nói “ Chúng sanh sanh về Cực-Lạc đều là bực A-Bệ-Bạt-Trí”. Nếu ai muốn sanh về cõi tịnh đó thời phải xưng niệm hồng danh của Phật A-Di-Đà, tu hạnh từ của Phật A-Di-Đà tất được nguyện lực của Phật nhiếp thủ . Khi xả thân này quyết định vãng sanh. Rõ như trong kinh đã dậy thiệt chẳng phải tôi tự đặt điều. Nay kết muôn người để làm một hội , tâm tâm chuyên niệm ngày ngày nguyện sanh.
Mỗi năm đến tiết Trọng Xuân, đồng hợp một chỗ, đồng cúng Phật, đồng nghe pháp âm. Hợp cả vạn tâm làm thành nhứt chí, cho Tịnh –nghiệp chóng thành , thệ được vãng sanh. Huống lại thân mạng ngũ trược khác nào ngọn đèn trước gió. Một hơi thở chẳng lại thời ác đạo hiện tiền, đâu đặng chần chờ mà nghĩ đến quả báo ngày mai ! Phải thể theo lời Phật dạy chớ nên tùy tục tình,kíp dứt bặt phan duyên, siêng gắng niệm Phật “ .
Từ đó trở đi cứ đến rằm tháng hai là ngày đại hội thường năm.

Đại sư cùng từng mười sư tăng tu Pháp Hoa Sám ba năm, kỳ hạn mãn sẽ đốt thân cúng dường kinh Pháp Hoa để cầu sanh Tịnh-Độ. Sau vì đại chúng cực lực ngăn trở nên thôi. Đại sư lại cùng mười sư tăng tu Đại Bi Sám ba năm, đốt ba ngón tay cúng Phật. Nhà vua biết hạnh đức của đại sư bèn phụng hiệu là “ Pháp Chí “, và có lời khuyên nên trụ thế để truyền đạo.
Đại sư thấy chư tổ xiển dương Tịnh-Độ phần nhiều bàn về sự tướng , ít dạy đến quán môn nên đại sư y cứ nơi bộ “ Quán Vô-Lượng-Thọ Phật Kinh Sở” của tổ Trí Giả mà soạn thành bộ “Diệu Tông Sao “ Dưới đây là lược đoạn thích đề của bộ ấy:
“ Quán , là mười sáu pháp quán thuộc năng quán trí , Vô-Lượng-Thọ Phật là cương yếu của sở quán cảnh, nhiếp cả mười lăm cảnh. Năng quán đều là nhứt tâm tam quán, sở quán đều là nhứt cảnh tam đế, Tỳ Lô Giá Na khắp tất cả chỗ , tất cả pháp đều là Phật pháp. Phật tánh đức của chúng sanh, phi tự, phi tha, phi nhơn, phi quả, chính là thể viên thường đại giác nên trong luận Khởi Tín nói “ Giác, nghĩa là nói tâm thể ly niệm. Ly niệm tướng thời khắp hư không giới không đâu chẳng khắp., Pháp giới nhứt tướng chính là Như Lai thường trụ Pháp thân. Y cư Pháp thân này mà gọi là bổn giác. Cho nên biết rằng thể của Phật quả viên minh là tánh đức bổn cụ (vốn đầy đủ) của phàm phu chúng ta . Vì thế nên tát cả kinh giáo luận về hành pháp (hành pháp là công hạnh tu trì bốn môn tam muội) đều là hiển bầy giác thể này. Cho nên bốn môn tam muội (gồm Nhứt hạnh tam muội, Pháp Hoa tam muội, Bát Chu tam muội, Tùy tự ý tam muội) đồng gọi là niệm Phật. Dầu là đồng niệm Phật , mà chính là hiển Phật thể.

Riêng về mười sáu quán môn này cùng Bát Chu tam muội thời gá nơi cảnh y báo và chánh báo của Cực-Lạc Thế Giới , dùng quán trí vi diệu chuyên ở nơi Đức Phật A-Di-Đà mà hiển thể chân thật. Dầu gá vào cảnh Tịnh-Độ mà nên biết rằng y báo và chánh báo ấy đồng ở nơi nhứt tâm. Tâm tánh trùm khắp , không pháp nào không tạo, không pháp gì là không đủ. Nếu có một mảy ở ngoài tâm , thời chẳng gọi là đại thừa quán vậy. Ở đoạn trước nói tâm tánh đủ tất cả pháp, tạo khắp tất cả, thiệt ra thời vốn không năng, sở, tức tâm là pháp, tức pháp là tâm, nhơn duyên năng tạo cùng pháp sở tạo , mỗi mỗi thẩy đều là tâm tánh .Cho nên hay quán tưởng hoặc y báo Cực-Lạc hay chánh báo Di-Đà, bèn là pháp giới tâm quán lấy pháp giới cảnh sanh nơi pháp giới y báo sắc tâm. Đây thời gọi là : Duy y, duy chánh, duy sắc, duy tâm, duy quán, duy cảnh. Cho nên giải chữ quán thời dùng nhất tâm tam quán , giải Vô-Lượng-Thọ thời dùng nhất thể tam thân. Thể, tông, lực, dụng về nghĩa đều là viên , phán giáo thuộc đốn. Xin nói với người tu hành , quán pháp , dầu là thâm diệu nhưng vốn là để lợi ích cho hàng sơ tâm .Nếu có thể tấn công lo gì không thành. Túng sử chưa được nhập phẩm ( trong 9 phẩm) , nhưng để làm nhơn cũng mạnh. Sanh về Tịnh-Độ đặng dự đại hội, bèn thấy y báo, cùng chánh báo vi diệu bất tư nghị mau chứng thánh quả, độ sanh rất rộng. Huống chi hiện tại đây trần cảnh thô cường, thật là chốn nguy hiểm. Vậy nên phải : ngoài thời tu sự-sám, trong thời chuyên lý quán , đồng thời thực hành cả chánh hạnh và trợ hạnh, lại thêm phát nguyện tha thiết, lập điều ước để tự kiềm chế. Quyết định ở nơi Tịnh-Độ mau chứng quả vô sanh. Nay giải quán môn ý nghĩa như thế.

Ngoài ra các bộ luận sớ khác của đại sư chỉ thuật đều chỉ qui Tịnh-Độ cả.
Nhơn ngày lễ Phật Đản , sư lập hội phóng sanh, nhóm chúng tác pháp , thả những chim cá. Nhà đương cuộc tâu việc ấy lên vua . Triều đình truyền chỉ cho quan Khu Mật Lưu Quân soạn bài văn khắc vào bia đá dựng trong chùa.
Năm Thiên Khánh thứ 6, đại sư sắp tịch bèn lập đàn Quang Minh Sám 7 ngày. Sám đến ngày thứ 5 , đại sư ngồi kiết già họp chúng thuyết pháp , xong vụt tự xướng to A-Di-Đà Phật vài trăm câu rồi yên lặng mà viên tịch, thọ 69 tuổi. Để khánh trần 7 ngày, móng và tóc dài ra thêm . Lúc trà tỳ , cái lưỡi không cháy, đỏ hồng như cánh sen.
Trích bộ Tứ Minh Giáo Hạnh Lực
(110)
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7300
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: Đường về Cực Lạc

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 16/03/17 06:39

HUỆ MẠNG

Huệ Mạng pháp sư họ Quách , người Thái Nguyên .Sau khi xuất gia ngài chuyên tu Phương Đẳng Sám và Phổ Hiền Sám. Ngài theo thọ giáo với Ân Quang Thiền sư và Tiên Lộ thiền sư. Về sau ngài đến Tiên Thành Sơn. Núi này trước đây có đạo sĩ Mạnh Thọ kính mộ Phật Giáo muốn cúng quán viện của mình để sửa làm chùa tháp. Khi Huệ Mạng pháp sư sắp đến núi , ông Mạnh Thọ nằm mơ thấy chư thần nghiêm vệ bên cạnh viên , ông chợt tỉnh thì pháp sư đến cửa, ông liền cúng quán viện ấy sửa làm chùa Thiện-Quang , đại chúng lần lượt hội về. Không bao lâu pháp sư trở lại Cố-Lâm rồi cùng bạn đồng chí là Pháp Âm thiền sư đồng đến chùa Quả-Nguyện ở Trường Sa, chỗ cũ của Huệ Năng thiền sư , mà tu học thiền định , ít lúc sau lại dắt nhau trở về Tiên Thành Sơn.
Năm năm sau hai ngườI tự biết trước ngày giờ, dắt tay nhau cùng đi đến rừng tòng . Ngó nhau cười rằng “ Có thể chọn ở nơi đây”. Thị giả nghe nói thế nhưng chưa hiểu. Không đầy tuần nhật, hai người đồng nhuốm bịnh . Năm Thiên Hòa thứ 3 nhà chu, ngày 5 tháng 11 , Huệ Mạng pháp sư ngồi kiết già xây mặt về hướng Tây mà niệm Phật . Đại chúng đồng thấy Phật A-Di-Đà hiện đến , pháp sư liền chắp tay mà tịch. Có tiếng xướng “Thiện tai” Hương thơm ngào ngạt cả chùa, tiếng thiên nhạc vang dậy cả hư không.
Ngày 17 tháng ấy , Pháp Âm thiền sư cũng đoan tọa xây mặt về hướng Tây niệm Phật mà tịch. Phật hiện, hương thơm, thiên nhạc v v… đồng như lúc Huệ Mạng pháp sư viên tịch , và đồng 38 tuổi.
Đại chúng xây tháp hai ngài ở rừng tòng.
Trích bộ Tục Cao Tăng Truyện


TĂNG TẠNG

Tăng Tạng hòa thượng người Tây Hà , xuất gia từ thuở bé. Ngài hạ mình thờ người, cung kính tất cả, không từ lao khổ : Thấy y cũ của các sư ngài lén đem giặt và nhíp vá dùm. Thường cổi áo ngồi trong cỏ thí máu cho muỗi mòng. Mỗi ngày niệm Phật vô số , tinh tấn không bê trễ. Đến lúc lâm chung , chư thiên từ cõi thấp đến cõi cao , trước sau đến rước, hòa thượng đều khước từ. Yên lặng giây lát, hòa thượng bảo đại chúng rằng “ Vừa rồi tôi qua Tịnh-Độ thấy chư Thượng Thiện Nhơn rải hoa trên hư không”. Dứt lờI hòa thượng chắp tay, niệm Phật mà tịch.

Trích Tống Cao Tăng Truyện
(111)
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7300
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: Đường về Cực Lạc

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 17/03/17 09:29

ĐẠO KIỆT

Đạo Kiệt pháp sư họ Dương ngườI Hà Đông, năm 20 tuổi xuất gia thọ cụ túc , kế qua Thanh Châu nghe Hà Ký Luận sư giảng Thành-Thật-Luận. Sau khi luận sư tịch, ngài đi các nơi tham học tạng Luận và từng khai giảng ở nhiều nơi.
Một hôm ngài tự xét : Luống theo ngôn thuyết, tâm tánh mê mờ, đến như chánh huệ, nếu không nhờ chánh định thời không phát. Ngài bèn thôi giảng, qua học thiền với Chơn Huệ thiền sư ở Ma Cốc . Ngài thâm nhập duyên khởi, thiền sư khen là lợi căn.
Ngài bản tánh ít nói, thiểu dục, không quan tâm đến cảnh khổ cũng như cảnh vui.
Ngài có làm tăng chủ chùa Thê Nham.
Năm Trinh Quán nguyên niên ngày 28 tháng 7 ngài nhuốm bịnh nhẹ, đình giảng mà tịch. Cả chùa đồng nghe mùi hương lạ và thiên nhạc. Cũng chính ngày này , hai ngườI con gái của ông Phàn Xước , một cư sĩ, bạn của pháp sư đồng mơ thấy ông Xước ngồi tòa sen trên hư không bảo rằng : “ Cha Đã vãng sinh Tây-Phương Cực-Lạc thế giớI, nay đến rước Đạo Kiệt pháp sư.”. Rồi ông bay thẳng về phía chùa Thê Nham. Lúc Pháp sư tịch , đại chúng thấy ông Xước hiện thân đứng trên không.
Trích bộ Tục Cao Tăng Truyện.


THẦN TỐ
Thần Tố luận sư họ Vương , người Hà Đông, pháp hữu của Đạo Kiệt pháp sư. Lúc Đạo Kiệt pháp sư đình giảng đi học thiền, thì luật sư giảng thế. Năm Trinh Quán thứ 2 , Luật Sư làm tăng chủ ở Thê Nham. Tất cả công hạnh tự hành và hóa tha, Luận sư đều hồi hướng trang nghiêm Cực-Lạc Tịnh-Độ.
Năm Trinh Quán thứ 17 , ngày 23 tháng 2 Luận sư họp đại chúng để từ biệt , rồi đoan tọa, bảo đại chúng đọc kinh Quan Âm hai biến. Luận sư chắp tay chăm chỉ nghe , rồI tự niệm sáu câu “Nam mô A-Di-Đà Phật” Luận sư lại bảo trong chúng một ngườI xướng còn bao nhiêu thời hòa theo. Như vậy mãi đến tối Luận sư vẫn nghiễm nhiên ngồi ngay thẳng. Chúng đến gần xem kỹ thì ra ngài đã ra đi từ lúc nào.
Đêm ấy Trí Khoan pháp sư ở chùa Nhơn Thọ đương lúc tịnh tọa , thấy Luận sư đến cáo biệt , căn dặn gắng hộ trì chánh pháp để báo ơn Phật. Sáng ngày pháp sư mới được tin Thần Tố luận sư đã viên tịch hồi chiều hôm qua.
Trích Tục Cao Tăng truyện
(112)
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7300
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: Đường về Cực Lạc

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 18/03/17 07:13

KHẮC CẦN
Sư Khắc Cần họ Trưởng , người Hồ Nam . từ bé tánh khờ khạo. Năm ngoài hai mươi tuổi , xuất gia tại am Hồng Thế ở Thiện Hóa, rồi thọ cụ túc giới ở Lộc Sơn . Sư không biết chữ , học mấy thời khóa tụng ngót 5 năm mới thuộc. Sau đó trọn 10 năm, sư đi khắp ngũ nhạc tứ sơn và các đại tòng lâm để tham học, nhưng rốt cuộc không thông hiểu một mảy gì, vẫn khờ khạo như cũ. Đến năm 60 tuổI sư nghe Minh Quả pháp sư giảng về công đức của pháp môn trì danh niệm Phật quý nhất tại “ Nhất tâm bất loạn “. Nếu tâm tạp loạn, chăm chú nghe kỹ tiếng niệm thời tạp niệm sẽ tự trừ, vọng tưởng sẽ tự diệt , tâm sẽ đặng thanh tịnh v v… Từ đó sư mới được biết pháp môn niệm Phật , bèn chuyên tu.
Sau năm năm thời tánh cũ của sư đều mất, tâm hằng tự tại minh mẫn. Lúc rảnh sư thường bảo ngườI rằng “ Tu hành quí tại Nhứt tâm bất loạn, nghiệp chướng của tôi do niệm Phật mà tiêu sạch. Mấy năm gần đây chẳng những không phiền não, mà thân tâm đều được khinh an”.
Một hôm sư cho ngườI đi mời sư huynh Hàm An. Qua ngày kế Hàm An đến , sư vừa thấy liền nói “Khắc Cần này xin cáo từ sư huynh!”. Hàm An hỏi “ Tính đi đâu?”sư đáp “ Đi Tây Phương Cực-Lạc thế giới”. Hàm An bảo “Nói khùng phải không?” Sư nói “ Từ sáu năm gần đây, tâm tôi không loạn động niệm A-Di-Đà câu câu rõ ràng , mục kích Tịnh-Độ , tự biết ngày giờ quyết định vãng sanh. Chẳng phải khi dối vậy !”. Sư liền đem tất cả công việc trong am giao phó cho Hàm An rồi lại bảo “Giờ ngọ ngày mai tôi sẽ từ biệt sư huynh. Anh em già với nhau tất phải lo cho nhau. Sư huynh nên gắng công tu pháp môn niệm Phật để chuẩn bị tư lương Tịnh-Độ”. Chiều hôm ấy, sư ngồi một mình niệm Phật, không nói chuyện.
Sáng hôm sau sư tắm gội thay y phục, thắp hương lễ Phật , tạ tổ xong sư vẫn vào tịnh thất ngồi niệm Phật. Đến giờ ngọ sư mới chậm rãi đi vào ngồi kiết già trong khánh , tay cầm chuỗi yên lặng niệm Phật . Mãi hai giờ sau Hàm An thấy lâu mà không thấy sư động tịnh , bèn lại gần xem , thì ra sư đã tịch rồi. Chừng đó mới cả kinh tin thật và đồng thời với sư Phổ Ấm v v…đều nghe mùi hương lạ . Lúc đó là giờ ngọ ngày mùng 5 tháng 7 năm Tân Sửu. Triều vua Quang Tự nhà Thanh. Bấy giờ nhằm tiết khí trời nóng nực , đình khánh 7 ngày, thi hài vẫn không sình nứt . Những người mục kích đều khen là lạ ít có.
Trích Cận Đại Vãng Sinh Truyện.




MINH CHIÊM
Minh Chiêm đại sư họ Đỗ , người Hằng Châu . Thuở trẻ ngài có chí xuất thế , bỏ khoa cử , xuất gia tại chùa Ứng Giác ở Phi Long Sơn. Triều Tùy ngài ở kinh sư thường chủ nhiều pháp tòa. Có của thí riêng, ngài cúng dường cho chư tăng và thơ tả các kinh luận đại thừa . Ít lúc sau ngài vào ẩn tại chùa Trí Cự trong núi Thái Ất . Tuổi già ngài khắc chí Cực-Lạc . Có người chê ngài là muộn . Ngài bảo “Thập niệm công thành còn được thấy Phật thay , tôi nào có lo gì muộn!”.
Đầu niên hiệu Trinh Quán , ngài vâng chiếu vào nội điện, ngồi ngự sàng. Sau khi thọ trai xong, đại sư giảng rộng về thuật trị nước của bậc minh quân, dùng lòng từ, hộ sanh làm gốc. Nhà vua bằng lòng lắm, liền hạ chiếu truyền khắp cả nước : Mỗi năm trong ba tháng lớn, mỗi tháng trong sáu ngày trai, nghiêm cấm giết thịt, và truyền dựng lập nhiều chùa ở các nơi .
Tháng 10 năm Trinh Quán thứ 2, nhuốm bịnh, đại sư tự biết trước ngày giờ, bèn đến chùa Hưng Thiện ở kinh, thiết trai để từ biệt đại chúng, lúc đó các quan phụ tướng như Phòng Huyền Linh . Đỗ Như Hối đều có dự trai. Liền trong ngày đó, đại sư trở về chùa Trí Cự , ngày đêm tưởng niệm Tây Phương chuyên cần chẳng hở. Ngày 27 tháng 10 đại sư bỗng gọi thị giả mà bảo “ Phật đã đến”. Giây lát lại nói “ hai vị Bồ-Tát cũng đến ! Tôi ở nơi Quán Kinh thành tựu quán pháp thứ 12 . Nay Phật và Bồ-Tát đến rước tôi về Tịnh-Độ. Nói xong đạI sư chấp tay vui vẻ mà tịch. Thọ 70 tuổI
Trích Phật Tổ Thống Kỷ
Tục Cao Tăng Truyện
(113)
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7300
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: Đường về Cực Lạc

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 19/03/17 07:38

TRI HUYỀN
Tri Huyền đại sư họ Trần, tự Hậu Giác, người My Châu. Năm lên bảy đại sư nghe giảng kinh Đại Niết Bàn tại chùa Ninh Di, liền thông thuộc như đã từng học nhuần từ trước. Đêm ấy đại sư mơ thấy Phật xoa đầu mình. Năm 11 tuổi xuất gia , phàm được học đến bộ kinh sớ nào đại sư đều thông đạt cả. Năm 13 tuổi Đại sư ban pháp tòa diễn giảng , các hàng tăng tục đều kính phục.
Triều vua Hi Tông nhà Đường phụng hiệu Ngộ Đạt quốc sư , ban tòa trầm hương. Không bao lâu trên đầu gối đạI sư mọc lên một mụt ghẻ hình mặt người, đau nhức lắm, không thuốc gì trị được. Trước đó mấy năm đại sư từng tận tâm chăn sóc một ông tăng có bịnh nặng. Lúc từ giã đi nơi khác, Ông tăng ấy dặn đại sư nếu sau này có khổ nạn nơi thân thời nên đến tìm ông tại núi Cửu Long đất Thục. Bấy giờ đại sư nhớ lời dặn ấy, và đi tìm gặp ông tăng tại núi Cửu Long. Ông tăng cho một đồng tử dắt đại sư đến một lạch suối để rửa ghẻ. Khi sắp rửa, mụn ghẻ mặt người bỗng lên tiếng bảo khoan rửa và nói rằng “ Ông từng đọc khắp các kinh sử, chắc ông biết việc Viên Ưởng giết Triệu Thố đời nhà Hán chứ? Ông chính là Viên Ưởng, còn ta là Triệu Thố. Ta đời đời theo sát bên ông để báo oán. Song vì ông luôn mười đời làm cao tăng , giới hạnh tinh nghiêm nên không hại được. Mấy lúc gần đây ông được nhà vua và mọi người quí trọng thái quá nên ta mới có dịp báo thù. Hôm nay nhờ Ca Nhã Ca Tôn Giả dùng nước Tam Muội rửa ta, ta không theo làm hại ông nữa “. Đại sư khoát nước rửa ghẻ, ghẻ liền lành.
Từ ngày ấy Đại sư tự răn trách tâm niệm danh vị của mình , làm văn Thủy Sám trừ tội chướng , tinh nghiêm giới luật , thiểu dục tri túc . Đại sư tự xét ở Ta Bà khó thành nhẫn lực nên ngày đêm sáu thời tinh tiến hành đạo cầu vãng sanh Cực-Lạc. Một hôm bỗng nghe trên không có tiếng xướng to rằng “ Chắc đặng vãng sanh Tịnh-Độ “. Đại sư liền hỏi là tiếng ai nói. Trên không đáp “ Phật đấy!” Một bữa khác, Đại sư lạI thấy một vị Bồ-Tát giáng lâm cặn kẽ khuyên nhắc . Giờ lâm chung ĐạI sư dặn đem thây mình bỏ nơi bãi biển để thí cho chim cá. Đại sư bảo mọi người “ Từ lâu tôi mong được về Tây Phương Tịnh-Độ , bây giờ chính là lúc được mãn nguyện!”. Dứt lờI ĐạI sư day mặt về hướng Tây mà tịch. Thọ 73 tuổi.
Trích Tống Cao Tăng Truyện
Thần Tăng Truyện


TỰ GIÁC
Tự Giác đạI sư người Bác Lăng , thuở nhỏ xuất gia tại chùa Khai Ngươn . Về sau đại sư qua học kinh, luật, luận ở chùa Thiên Pháp. Cần Mẫn trọn 9 năm , thông suốt cả tam tạng. Đại sư qua ở núi Trùng Lâm tu khổ hạnh , mỗi ngày chỉ ăn một bữa rau trái sơ sài.
Gặp năm đại hạn , quan Tiết Đạt Sứ ở Hằng Dương nghe đạo hạnh của đại sư bèn đích thân vào núi thỉnh đại sư cầu mưa. Đại sư chí thành cầu Long thần, mưa liền xối xuống. Từ lâu đại sư có ý muốn đúc tượng Quán-Thế-Âm Bồ-Tát. Sau ngày cầu mưa, thí chủ các nơi họp công của đến đúc tượng Quán-Thế-Âm Bồ-Tát bằng đồng cao bốn mươi chín thước, tướng hảo uy nghiêm . Qua năm sau chùa, điện cũng hoàn thành.
ĐạI sư bèn ở trước bửu điện lập thệ . Nguyện sớm vãng sanh Cực-Lạc. Canh ba đêm ấy thoạt có hai luồng kim quang chiếu đến . Đức A-Di-Đà Phật từ trong ánh sáng vàng bước xuống , Quan-Thế-Âm Bồ-Tát theo hầu bên tả Đại Thế Chí Bồ-Tát theo hầu bên hữu. Đức Phật đưa cánh tay vàng xoa đầu đại sư mà bảo rằng “Gìn chí nguyện, chớ có đổi , độ người làm trước. Đài sen nơi ao báu, ông sẽ được thác sanh”.
Năm Trinh Ngươn thứ 11 nhà Đường , đêm rằm tháng hai , Thiên Thần hiện nửa mình trên không cúi xuống nói với đại sư rằng” Ngài đã gần đến kỳ về Tịnh-Độ!”. Đại sư đưa tay lên tạ thần. Đến ngày 14 tháng 6 đại sư ngồi kiết già trước tượng Quán-Thế-Âm mà tịch. Từ khi đại sư viên tịch về sau, tượng Quán –Thế-Âm ấy thường hiện nhiều việc linh ứng.
Trích bộ Phật Tổ Thống Kỷ
Tống Cao Tăng Truyện
(114)
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7300
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: Đường về Cực Lạc

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 20/03/17 09:09

THIỆN ĐIỆU
Thiện Điệu đại sư người Lâm Tuy, từng vào trước Đại Tạng Kinh, chí thành rút lấy một quyển, nhằm quyển “Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh”. Từ đó trở đi đại sư chuyên tâm niệm Phật , tu thập lục diệu quán . Đến khi qua Lô Sơn, được thấy di tích của ngài Huệ Viễn đại sư, chí nguyện của ngài càng thêm tha thiết. Ít lúc sau đại sư vào ẩn ở núi Chung Nam tu Bát Chu Tam Muội vài năm, cảm được bửu lâu, bửu trì luôn hiện ở trước mặt. Rồi đại sư qua Tấn Dương học Vô Lượng Thọ Kinh nơi Đạo Xước thiền sư. Thường khi đại sư nhập định bảy ngày mới xuất. Xước thiền sư thỉnh xem chỗ sanh của mình. Đại sư bảo “ Thiền sư phải sám hối ba tội mớI được vãng sanh. Thiền sư từng để tượng Phật bên cửa sổ, còn mình thì ở giữa nhà, đây là tội thú nhứt, phải đối Phật mà sám hối. Sư lại thường sai khiến người xuất gia, đây là tội thứ hai, phải đối chư tăng mà sám hối. Lại vì xây dựng nhà cửa làm tổn hại nhiều côn trùng, phải đối chúng sanh mà sám hối. Xước thiền sư nghe xong bèn tự xét, nhớ kỹ lạI những lỗI của mình, rồI chí tâm sám hối. Ít lâu sau, một hôm xuất định, Đại sư bảo Xước thiền sư rằng “ Sư đã sạch tội, Ngày sau , bao giờ có bạch quang chiếu tới là triệu chứng vãng sanh !”.
Đại sư đến kinh sư giáo hóa , người qui hướng rất đông. Một ngày nọ nhuốm bịnh nhẹ , đại sư kiết thất chuyên ròng hành đạo , rồi vui vẻ niệm Phật mà tịch. Mọi người đồng nghe thiên nhạc, dị hương từ thất của đại sư lần đi thẳng về hướng Tây.
Trích bộ : Phật Tổ Thống Kỷ.



ĐẠI HẠNH
Đại Hạnh pháp sư người Tế Châu , học Thiên Thai giáo quán , rồi vào ở núi Thái Sơn , bện cỏ che thân , lượm trái đỡ dạ , tu Pháp Hoa Tam Muội cảm đức Phổ Hiền hiện thân. Một hôm ngài tự than rằng “ Mạng người vô thường, giờ chết không lâu, ta sẽ đi về đâu?” . Pháp sư vào trước Đại Tạng Kinh, chí thành cầu nguyện , rút nhằm bổn kinh Di Đà . Bắt đầu từ ngày ấy pháp sư liền chuyên tâm niệm Phật. 21 ngày sau, đương lúc giữa đêm bỗng tâm nhãn rỗng sáng, thấy cõi đất lưu ly , lại thấy Đức A-Di-Đà Phật và hai vị đại Bồ-Tát hiện thân đứng trên không Từ đó đạo hạnh pháp sư mỗi ngày mỗi truyền rộng. Vua Hy Tông phụng hiệu là “ Thường Tinh Tấn Bồ-Tát”.
Qua năm sau cõi lưu ly lại hiện . Pháp sư bảo đại chúng rằng “ Hôm nay bửu địa lại hiện. Đã tới ngày tôi về Cực-Lạc !”. Trong ngày ấy pháp sư xây mặt về hướng Tây, chắp tay mà tịch.
Trích Phật Tổ Thống Kỷ
Tống Cao Tăng Truyện.
****
(115)
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7300
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: Đường về Cực Lạc

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 21/03/17 06:54

CHÍ THÔNG
Chí Thông đại sư người Phụng Tường. Khi mớI xuất gia ngài gặp Tam Tạng pháp sư Phạ-Nhựt-Ra truyền mật tông, bèn theo thọ giáo. Về sau ngài đến Thiên Thai , khi xem xong tập “ Tịnh-Độ Linh Thoại” ngài phát nguyện cầu sanh về Cực-Lạc .
Từ ngày đó trở đi, không bao giờ ngài khạc nhổ về hướng Tây.
Một hôm ngài leo lên mỏm đá “ Chiêu Thủ”, tụng 48 điều nguyện cầu mau được vãng sanh Cực-Lạc thế giới, rồI gieo mình xuống. Thân ngài rơi nhằm lùm cây lá rậm, nhánh mềm nên không hề gì. Ngài sửa y áo leo lên mỏm đá mà thệ rằng “ Đã phát đại nguyện, thân sống thừa này đáng nhàm. Cúi mong thánh chúng đến tiếp dẫn tôi”. Rồi ngài lại nhẩy xuống. Rớt trên cỏ, giấy lát tỉnh lại . Tăng chúng tìm gặp dìu về chùa. Không bao lâu ngài qua núi Pháp Hoa chuyên tu Tịnh-Độ . Về sau , một ngày nọ thấy bạch hạc, khổng tước đáp xuống cả đàn, lại thấy hoa sen búp nở trước mặt , ngài nói “ Bạch Hạc, Khổng Tước là cảnh Tịnh-Độ, hoa sen báu là chỗ thác sanh . Giờ đã đến”. Đại sư nghiêm chỉnh, oai nghi lễ Phật mà tịch. Khi trà tỳ mây tốt năm màu che trùm trên ngọn lửa, và xá lợi hiện đầy thân.
Trích bộ Phật Tổ Thống kỷ
Tống Cao Tăng Truyện


ĐOAN PHỦ
Đoan Phủ đại sư người Thiên Thủy, xuất gia nơi Đạo Ngộ thiền sư ở chùa Sùng Phước. Sau khi thọ Cụ Túc giới đại sư đi cầu học Luận tạng khắp nơi , đồng thời nghiên cứu cả kinh và luật. Một đêm nọ đại sư mơ thấy Thánh Tăng trao cho một bình lưu ly đựng đầy xá lợi bảo nuốt. Đại sư vâng lời nuốt hết xá lợi . Thánh Tăng nói “ Tam tạng đại giáo chứa cả trong bụng ông”. Từ đó trở đi đại sư được biện tài vô ngại. Giảng kinh ở Thái Nguyên, thính giả hội đến như chợ. Cả ba triều vua nhà Đường Đức Tông, Thuận Tông và Hiến Tông đều tôn ngài làm bực thầy. Trước sau đại sư giảng kinh Niết Bàn và kinh Duy Thức Luận hơn một trăm sáu mươi hội . Mỗi ngày, giờ rảnh đại sư đọc tụng kinh Đại Thừa cầu sanh Tịnh-Độ. Đại sư được cúng thí rất nhiều, kể hơn mấy mươi triệu lạng bạc Đại sư đều chuyển cúng vào các công vụ sử dựng chùa tháp, còn mình thời vẫn vừa lòng với một cái phòng nhỏ đơn sơ cùng một chiếc giường hẹp thấp mà thôi.
Năm Khai Thành nguyên niên. Ngày mồng một tháng sáu, Đại sư nằm nghiêng về tay hữu, day mặt về hướng Tây mà tịch. Giờ đó mùi hương lạ thơm ngát cả gần xa. Sau khi trà tỳ được hơn ba trăm hột xá lợi.
Trích bộ Tục Cao Tăng Truyện
(116)
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7300
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: Đường về Cực Lạc

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 23/03/17 06:47

LÃO NI

Hồ Thượng Lão Ni tinh nghiêm giới luật , hằng ngày niệm Phật, tụng kinh rất thành khẩn. Có một đạo nhơn mỗi năm đến viếng am một lần, khi đến cùng lão ni luận việc đạo hạnh , tu hành suốt ngày mới từ đi.

Một hôm Lão Ni hẹn trước với đạo nhơn. Đến ngày không thấy đạo nhơn tới , Lão Ni nói “ Tôi sắp về Tịnh-Độ, muốn từ biệt ông bạn ấy”. Chờ thêm vài ngày, đạo nhơn vẫn không đến . Lão Ni bảo người khiêng cái khánh đã đóng sẵn để trên cây cầu gẫy gần am . Lão Ni tay cầm một cây nhang nhỏ , ung dung vào ngồi trong khánh , lên tiếng niệm Phật. Giây lát lửa vụt phát cháy nơi thân Lão Ni , ngườI tựu đến xem đông như hội chợ. Mãi đến lúc cả mình cháy đen mà tiếng niệm Phật của Lão Ni vẫn chưa dứt.

Trích tập Âm Chất Văn Chú Thích



NI TOẠI KHÂM
Sư ni Toại Khâm người Vô Tích , xuất gia thủa mới lên chín. Khi tuổi trưởng thành, gặp một sư ni khuyến khích chuyên trì hồng danh của Phật, cô liền phát tâm tinh tấn niệm Phật. Ít lâu sau cô trụ trì am Bạch Y ở Tô Châu, công phu niệm Phật càng chí thiết. Đến 50 tuổI cô mới thọ cụ túc giới.
Tháng 3 cô được 55 tuổi, một đêm nọ gà vừa gáy hiệp đầu , cô kêu các đệ tử đến mà nói rằng “ Tôi sắp về Phật !”. Các đệ tử đều khóc thưa “ Thầy không bịnh hoạn chi sao lại nỡ nói thế?”. Cô bảo “ Sao ngu si thế, khóc lóc có ích lợi gì? Nên nhận chơn tinh tiến niệm Phật mà thôi”. RồI cô ngồi kiết già, xây mặt về hướng Tây , cùng các đệ tử đồng thanh niệm Phật . Khi tàn một cây nhang thì cô tịch . Bấy giờ nhằm năm Càng Long thứ 53.
Trích Tây Phương Công Cứ Tập Nghiệm
(117)
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần

Hình đại diện của người dùng
binh
Bài viết: 7300
Ngày tham gia: 22/11/07 11:32
Giới tính: Nam

Re: Đường về Cực Lạc

Bài viết chưa xemgửi bởi binh » 24/03/17 06:20

NI LUẬT TÔN
Sư ni Luật Tôn người Gia Định, ba tuổi mẹ mất, bà nội dắt cô đến am Viên Thông lễ Phật, cô đòi quyết ở lại đó. Lúc bé cô thích lễ Phật, lớn lên chuyên tụng kinh Pháp Hoa , nhưng khổ nỗi không rõ nghĩa. Cô bèn đến Kim Sơn và Sùng Phước tham cứu mấy năm. Sau khi trở về am Viên Thông , cô chuyên tâm niệm Phật. MỗI năm cô thường đến các tòng lâm cúng Phật, trai tăng.
Năm 53 tuổI mang bịnh ho , cô cấm túc chuyên tu, lấy vãng sanh làm hẹn.
Rằm tháng giêng năm 64 tuổi , cô họp chúng đồng thanh niệm Phật, đến mặt trời chính bóng , cô ngó chúng tha thiết khuyên bảo dũng mãnh tu hành. Rồi cô chắp tay ba lần xướng “ Nam Mô Tây-Phương Cực-Lạc Thế-Giới Đại-Từ Đại-Bi A-Di-Đà Phật”. Xướng xong cô đoan tọa mà tịch. Lúc đó hương sen thơm ngát cả am. Bấy giờ nhằm năm Càn-long thứ 55
Trích Tây-Phương Công Cứ Tập Nghiệm


PHẬT KỲ VÀ LIÊN HƯƠNG
Sư ni Phật Kỳ người Trường Châu . Từ nhỏ cô chẳng chịu lấy chồng . Lớn lên mẹ cô đưa đến am Vũ Hoa xuống tóc rồi thọ cụ túc giới. Về sau cô trụ trì am Sùng Phật ở trong thành. Cô quyên tiền trổ tượng Phật Tây Phương Tam Thánh bằng gỗ chiên đàn cao 8 thước . Mỗi năm cô thỉnh chư sư tăng giới đức thanh tịnh đến am kiết thất kỳ, làm hội niệm Phật. Cô thường đi đến các tòng lâm cúng Phật và trai tăng. Cô tậu 30 mẫu ruộng để làm của thường trụ cho chùa Thiên Ninh ở Thường Châu.Về sau cô cấm túc nơi am chuyên tu tịnh nghiệp.
Trước khi tịch ba ngày , cô thấy Quán-Thế-Âm Bồ-Tát hiện thân vớI hai vị đồng tử theo hầu . Trong khi đó có người nói là nghe mùi hoa cúc. Cô bảo đó là hương của hoa sen xanh. Ngày 30 tháng 8 năm Càn Long thứ 56, có Ưu bà di đến thăm, cô bảo đỡ cô ngồi dậy rồi họp ni chúng niệm Phật được chừng hai nghìn câu thời cô tịch
Trích Tây –Phương Công Cứ Tập Nghiệm.

Mục kích cô Phật Kỳ chánh niệm vãng sanh , sư ni Liên Hương phát tâm tinh tấn niệm Phật.
Năm cô ngoài 30 tuổI , dầu mang bịnh , nhưng sức niệm Phật của cô càng bền. Một ngày nọ cô xây mặt về hướng Tây đoan tọa chấp tay niệm Phật mà tạ thế. Bấy giờ nhằm năm Gia Khánh thứ 13.
Trích Nhiễm Hương Tập.


NI LÃNG NHIÊN
Sư ni Lãng Nhiên người Gia Thiện năm 18 tuổi cô thấy sự khổ của người chị dâu bị sản nạn , cô tự thệ không lấy chồng, rồi cô xin vớI cha mẹ cho xuất gia ở am Tịnh Trì. Sau khi thọ giới , cô chuyên chí tu Tịnh-Độ. Tinh tấn niệm Phật trong nhiều năm, được niệm lực tương tục, lúc rảnh, lúc bận nơi tâm cô câu niệm Phật đều không gián đoạn.
Năm Gia Khánh thứ 13, cô bảo đệ tử là sư ni Phước Duyên rằng “ Trong ba tháng gần đây, tôi ba phen mơ thấy mình ngồi kiết già trong hoa sen nơi Bảo Trì . Tôi sắp vãng sanh! Con phải dốc chí niệm Phật. Nhơn thiệt thời quả chắc , công phu không luống uổng. Gắng nhớ chớ quên”. Ngày 25 tháng 3 cô không bịnh, đoan tọa mà tịch, thọ 73 tuổi.

Trích Nhiễm Hương Tập.

(117)
Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần


Quay về “Tịnh độ tông”

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách