CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Thảo luận về giáo lý và hành pháp mật Tông và Mật giáo Tây Tạng.

Điều hành viên: kimcang

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 12/05/15 22:39

cẩmnangnhậpthất.jpg
cẩmnangnhậpthất.jpg (301.69 KiB) Đã xem 610 lần

CẨM NANG NHẬP THẤT
CỦA JAMGON KONGTRUL


Jamgon Kongtrul's Retreat Manual
by Jamgon Kongtrul Lodro Tayé

Snow Lion Publications
Ngawang Zangpo dịch sang Anh ngữ và viết lời giới thiệu

Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

LỜI NÓI ĐẦU

Cẩm nang Nhập Thất của Jamgong Kongtrul đã là một bạn đồng hành quý báu của tôi trong gần mười lăm năm. Tôi được giới thiệu với quyển sách này trong một chương trình tu tập thiền định được hình thành trên một quy trình được mô tả trong bản văn này, một khóa nhập thất ba năm, sáu tuần. Tôi đã hoàn tất hai khóa nhập thất như thế. Trong những năm đó, những lời dạy của Kongtrul thường tạo hứng khởi cho tôi, mặc dù tôi không bao giờ cảm thấy mình đáp ứng được những mong đợi mà ngài kỳ vọng nơi các đệ tử nhập thất của ngài. Ngày nay, việc đọc lời ngài khuyên dạy những người đã hoàn thành khóa nhập thất cũng tiếp tục là một kinh nghiệm khiêm tốn.

Khóa nhập thất ba năm, sáu tuần tạo thành một trong những tổ chức chính yếu của nền giáo dục Phật Giáo Mật thừa trong vùng Hy mã lạp sơn. Trong hai dòng Nyingma và Kagyu – là hai trong bốn hệ thống tu viện chính - chỉ những người đã hoàn tất những khóa nhập thất như thế mới được nhận danh hiệu Lạt ma. Trong khi những chương trình tu tập tại các trung tâm nhập thất thì khác biệt nhau, quyển sách này giới thiệu một cái nhìn đầy đủ về một chương trình được phác họa bởi tác giả - một thiền sư nổi danh và được tôn kính trong thế kỷ mười chín. Vì thế tác phẩm này sẽ mang lại sự hiểu biết nền tảng về nhiều tổ chức tương tự vẫn cung cấp việc đào tạo cho những người trở thành các "Lạt ma".

Cẩm nang Nhập Thất của Jamgong Kongtrul được biên soạn để mang lại một hướng dẫn cho những người đi vào một chương trình thiền định ba năm miên mật. Tác giả không đưa những lời khuyên của mình vào các giáo huấn về cách thiền định; ngài chỉ liệt kê những thiền định bao gồm chương trình nhập thất. Việc phiên dịch tác phẩm này được bổ túc bằng một vài chi tiết về những nguồn mạch của các thiền định được đề cập, nhưng trong đó không bao gồm thông tin liên quan đến nội dung của những quán tưởng. Giáo huấn trong thiền định Mật thừa, dù trong thời của ngài Kongtrul hay trong hiện tại, vẫn tồn tại trong lãnh vực của mối quan hệ mà một thiền giả có với vị cố vấn tâm linh được tin cậy của mình. Việc quyết định dấn mình vào một khóa nhập thất dài hạn thì cũng thế. Quyển sách này đưa ra một bức tranh trong trẻo về đời sống tâm linh và thực tiễn của loại tổ chức (thể chế) này nhưng bản dịch này không được thực hiện với ý định khuyến khích người đọc cân nhắc để đi vào một khóa nhập thất như thế.

Tôi hy vọng là quyển sách này sẽ đóng góp cho sự hiểu biết của chúng ta về quan điểm không - bộ phái trong Phật giáo Mật thừa vùng Hy mã lạp sơn và giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc về tác giả, ngài Jamgong Kongtrul. Cả hai chủ đề quan trọng này chưa nhận được sự chú ý mà chúng đáng được nhận trong bất kỳ ngôn ngữ nào ngoài tiếng Tây Tạng. Một tường thuật ngắn gọn về cuộc đời và tư tưởng của Kongtrul bởi chúng liên quan đến khóa nhập thất được giới thiệu trong phần dẫn nhập, bao gồm những trích dẫn đã được phiên dịch của chính Kongtrul. Một số trong những trích dẫn này quá dài nhưng tôi hy vọng người đọc sẽ nhận thức được cơ hội để đọc một số suy nghĩ của Kongtrul qua chính lời của ngài. Đối với cuộc đời và công việc của Kongtrul thì có nhiều điều để nói hơn là những gì được đề cập ở đây và có nhiều điều để nói hơn nữa về phong trào không - bộ phái. Không nhà biên soạn nào có thể đánh giá đúng về cuộc đời của một người chỉ trong vài lời, nói gì đến cuộc đời của một thiên tài đa dạng như Kongtrul. Trong việc mô tả thật ngắn gọn cuộc đời của ngài, và chủ yếu là trong mối liên kết với chủ đề của quyển sách này, tôi đã mạo hiểm khi ngẫu nhiên làm méo mó tư tưởng của ngài. Ít nhất sự liều lĩnh này sẽ bõ công nếu những giới hạn của tôi sẽ khiến cho những người khác giới thiệu một bức tranh chi tiết hơn về ngài Kongtrul cho các độc giả không nói tiếng Tây Tạng.

Giờ đây việc hiểu biết về ngài Kongtrul dường như còn cần thiết hơn một thập kỷ trước bởi nhiều Đạo sư vĩ đại là những người thừa kế tâm linh của ngài mới vừa viên tịch. Bản liệt kê dài bao gồm những vị có công đưa Phật giáo đến các quốc gia ngoài vùng Hy mã lạp sơn: Đức Karmapa, Đức Dudjom Rinpochay, Dilgo Khyentsay Rinpochay, Day-zhung Rinpochay, Pawo Rinpochay, Salchay Rinpochay, Chögyam Trungpa Rinpochay, và Kalu Rinpochay, vị Thầy chính của tôi, là một hóa thân của Kongtrul. Những Đạo sư này được đào tạo theo phong cách của Kongtrul, được dạy dỗ bằng giọng nói dịu dàng nhưng có thẩm quyền của ngài, và đã tiếp tục công việc của ngài là đẩy mạnh sự phát triển mọi hình thức thực hành Phật giáo không chút thiên vị. Bởi nhiều Phật tử ngày nay chịu ảnh hưởng sâu xa của các Đạo sư này, sự vắng mặt của các ngài thúc đẩy chúng ta đổi mới sự suy xét về nguồn mạch của phần lớn giáo huấn của họ: Jamgong Kongtrul.

Trước hết, quyển sách này đề cập đến khóa nhập thất ba năm, sáu tuần, một tổ chức quan trọng đối với Phật giáo Mật thừa vùng Hy mã lạp sơn. Tuy nhiên, không phải ngẫu nhiên khi tôi chọn bản văn này để dịch bởi khóa nhập thất này là hoạt động chính yếu đối với cuộc đời của Kongtrul và là một sự giới thiệu cho lý tưởng không - bộ phái của ngài.

    CHÚ THÍCH VỀ CÁCH DỊCH
Bản dịch này không có ý định là một sự đổi mới hay thách thức về văn phong. Đôi khi tôi khởi hành từ các tiêu chuẩn thông thường theo những cách thức thứ yếu, thường thích dùng từ Anh ngữ hơn là những từ tương đương bằng Phạn ngữ hay Tây Tạng của chúng. Những chỗ còn dùng từ ngoại quốc trong bản văn cho thấy những giới hạn của một dịch giả như tôi.

Tên của những người được để trong hình thức nguyên gốc của chúng, có nghĩa là tên được gọi trong đời họ. Điều này cho thấy một sự khởi hành từ quy ước giữa các tác giả Tây Tạng, là cách để phiên dịch hầu hết những tên Ấn Độ và dịch sang tiếng Tây Tạng. Tôi đã mang vấn đề này ra hỏi ba Đạo sư nổi tiếng và nhận được ba câu trả lời khác nhau. Một Đạo sư, ngài Dabzang Rinpochay (đã mất), cho là trong những bản dịch Anh ngữ, tất cả những tên của người Ấn Độ hay của chư Phật, Bồ Tát và Bổn Tôn nên được dịch lại sang Phạn ngữ. Đạo sư khác, ngài Trangu Rinpochay, đã trích dẫn từ một bản văn khuyên các dịch giả Tây Tạng mới vào nghề ủng hộ ý kiến của ngài là bất kỳ điều gì được phiên dịch, kể cả các tên, nên được dịch sang Anh ngữ. Trong khi tôi đồng cảm với ý kiến đó thì ở đây tôi theo lời khuyên của Đạo sư thứ ba mà tôi đã hỏi, là ngài Tai Situpa. Ngài bày tỏ rằng các dịch giả Tây Tạng sai lầm khi dịch tên người: không nên dịch các tên này. Ngài nói danh hiệu của chư Phật, Bồ Tát, và các Bổn Tôn nên được dịch, bởi đó không phải là những cá nhân trong loài người. Tôi chân thành tôn kính tất cả ba Đạo sư này; ý kiến của các ngài rất quan trọng đối với tôi. Tôi đã quyết định theo lời khuyên của Tai Situpa bởi trong hiện tại nó có vẻ thực tiễn nhất. Tôi hy vọng kết quả sẽ không làm mất phương hướng đối với những người đã quen với việc được phục vụ đầy đủ Phạn ngữ cùng với Phật giáo của họ. Độc giả có thể tìm thấy ở cuối sách một danh sách các tên xuất hiện trong bản văn chính của cẩm nang nhập thất.

Những quyển sách được trích dẫn trong phần dẫn nhập hay trong bản văn chính xuất hiện với tựa đề Anh ngữ. Thật không may là rất ít những quyển sách này được dịch từ tiếng Tây Tạng sang ngôn ngữ ngoại quốc. Tựa đề Tây Tạng của những quyển sách này được liệt kê ở cuối sách. Thông tin này rất cần thiết để nhận ra được nguyên bản bởi các tựa đề Tây Tạng thường kéo dài tới đôi dòng trong bản văn: bất kỳ dịch giả nào cũng phải quyết định đâu là một phần của tựa đề nguyên bản, nếu có, để dùng làm tựa đề trong Anh ngữ. Chẳng hạn như tựa đề đầy đủ tiếng Tây Tạng của quyển sách này có thể được dịch là A Source of Comfort and Cheer: A Clear Guide to the Rules of Discipline for the Retreatants at The Ever-Excellent Abode of Radiant Great Bliss, the Isolated Retreat of Palpung (Một Suối nguồn của sự An nhàn và Hỉ lạc: Một Hướng dẫn Rõ ràng những Quy tắc Giới luật cho những Người Nhập Thất tại Trụ xứ Phổ Hiền của Đại Lạc Chói Lọi, Ẩn Thất Cô tịch ở Palpung). Thay vì sử dụng toàn bộ hay một phần của tựa đề này, tựa đề hiện tại có vẻ thực tiễn và mô tả được nhiều hơn về nội dung của quyển sách. Các dịch giả phải làm những sự chọn lựa này; một ngày nào đó nhiều quyển sách được đề cập trong bản văn này với các tựa đề Anh ngữ có thể sẽ xuất hiện với tựa đề hoàn toàn khác biệt.

Về vấn đề thuật ngữ, độc giả có thể lưu ý rằng, những khi có thể, tôi đã tránh gọi Phật giáo trong vùng Hy mã lạp sơn là Phật giáo "Tây Tạng". Chắc chắn ngôn ngữ Tây Tạng là ngôn ngữ Phật giáo vượt trội trong vùng Hy mã lạp sơn, nhưng nhiều Đạo sư và đệ tử trong quá khứ và hiện tại của hình thức phát triển tâm linh này không phải là người Tây Tạng. Những người không phải người Tây Tạng này bao gồm những người Ấn Độ, Bhutan, Nepal, Sikkim, và những thành viên của nhiều nhóm dân tộc và ngôn ngữ khác cư trú khắp vùng Hy mã lạp sơn. Họ cùng chia sẻ một niềm tin và cùng sử dụng một ngôn ngữ trong việc cầu nguyện và thiền định, nhưng nhiều người không phải là người Tây Tạng cũng như một tín đồ Thiên chúa giáo La mã không nhất thiết phải là người Ý. Về phần Kongtrul, ngài thường viết Phật giáo của "vùng Hy mã lạp sơn" (gangs chen rdzong) hơn là Tây Tạng, và tôi sung sướng khi đi theo khuôn mẫu của ngài.

Các từ Nyingma, Kagyu, Sakya, và Gayluk ít khi được đề cập đến trong quyển sách này. Tôi đã để dành việc sử dụng chúng cho những lúc Kongtrul có vẻ ám chỉ điều mà bốn từ này tượng trưng: bốn hệ thống tu viện chính của vùng Hy mã lạp sơn. Trong hầu hết những quyển sách của ngài, đã nhiều lần Kongtrul thảo luận về Phật giáo Mật thừa trong vùng Hy mã lạp sơn theo quan điểm của các dòng thực hành thiền định, đặc biệt là tám dòng thực hành. (Điều này được thảo luận đầy đủ hơn trong lời giới thiệu). Tên của các dòng giáo huấn thiền định xuất hiện bằng Anh ngữ trong quyển sách này, mặc dù không thể tránh khỏi những thiếu sót trong việc dịch thuật. Chẳng hạn như, ở đây dòng Marpa Kagyu được dịch là Dòng Giáo huấn Khẩu truyền của Marpa, trong khi từ Kagyu là một dạng rút gọn của một tên hiếm khi được dùng, Kabab Shi'i Gyupa – Dòng Giáo huấn của Bốn sự Truyền dạy, một ám chỉ về một phần của những nguồn gốc của dòng truyền thừa. Dù có thể không chính xác bằng như thế, "Dòng Giáo huấn Khẩu truyền" được tìm thấy trong bản văn này, và chắc chắn đây không phải là lần đầu tiên một cách dịch như thế được sử dụng.

Từ lama (Lạt ma) xuất hiện rất thường xuyên trong bản văn Tây Tạng nhưng hiếm khi xuất hiện trong bản dịch. Từ này trong tiếng Tây Tạng có thể ám chỉ những người đã hoàn tất khóa nhập thất ba năm hay một Đạo sư giác ngộ có thể dẫn dắt một người qua mọi giai đoạn phát triển tâm linh đến sự giác ngộ toàn triệt và viên mãn. Thầy của tôi thường nhận xét rằng loại Lạt ma trước rất phổ biến, loại Lạt ma sau vô cùng hiếm có. Trong khi trong tiếng Tây Tạng, cả hai loại Lạt ma được biểu thị bằng cùng một từ, từ "lama" xuất hiện trong bản dịch là khi Kongtrul đang nhắc đến những người hoàn tất khóa nhập thất, và "Đạo sư tâm linh" khi ngài nhắc đến một vị dẫn dắt tâm linh giác ngộ (là nam hay nữ).

Tôi bối rối không biết phải xử sự thế nào về việc Kongtrul có thói quen gọi Phật giáo Mật thừa là "Thần chú Bí mật" (Mật Chú), không phải là một thuật ngữ hợp thời đối với các Phật tử hiện đại. Tôi quyết định để sang một bên sở thích của mình và trung thành với văn phong của Kongtrul, bởi kỳ cục hay thậm chí khó chịu như "Mật Chú" có thể lại dễ nghe.

Trong cẩm nang nhập thất, các tiết mục giới thiệu được thêm vào mang lại thông tin cần thiết và bối cảnh lịch sử cho các thực hành được thảo luận. Để dễ phân biệt phần này với bản văn chính của cẩm nang nhập thất, các tiết mục giới thiệu được in bằng khổ chữ nhỏ hơn.

Cuối cùng, trong phần chú thích ở cuối trang, tiếng Tây Tạng tương đương của một thuật ngữ đôi khi được cung cấp trong dấu ngoặc đơn. Từ hay câu đầu tiên xuất hiện theo lối chữ không in nghiêng là một cách phát âm gần đúng của từ Tây Tạng. Phiên âm này được tiếp theo bằng cách đánh vần Tây Tạng hiện tại bằng chữ in nghiêng.

LỜI CẢM ƠN

Bản dịch này mang lại lợi lạc ở những cấp độ khác nhau là nhờ sự giúp đỡ hay ý kiến của một số người. Lama Tsondru và Lama Umdzay Zopa, là hai vị đã hoàn tất khóa tu tập của trung tâm nhập thất được mô tả trong quyển sách này khi nó được Kalu Rinpochay hướng dẫn, đã đặc biệt giúp đỡ giải quyết những khó khăn do văn phong bản địa của Kongtrul. Yudra Tulku, Khamtrul Rinpochay, Geshe Sonam Rinchen, Zenkar Rinpochay (qua Peter Roberts), Tiến sĩ Tenpa Kelzang, và Nyima Tenzin Bashi cũng góp phần giúp tôi hiểu rõ bản văn Tây Tạng. Họ đã tận lực làm mọi sự để bảo đảm bản văn này không có những lỗi lầm: những sai lầm còn sót lại hoàn toàn là do dịch giả. Lama Drubgyu Tenzin (Tony Chapman) đã mang lại cho tôi sự trợ giúp và khích lệ vô giá cho bản Anh ngữ của quyển sách này. Tôi cũng cảm ơn các bình luận và phê bình của Kitty Rogers, Lama Kunzang Dorjay (Olivier Brunet), và Michael Rey.

Tôi đã sử dụng những tiện ích của máy vi tính tại Ủy ban Dịch thuật Phật giáo Quốc tế ở Sonada, Ấn Độ, và sự kiên nhẫn lớn lao của các bạn đồng nghiệp ở đó về việc tôi hay vắng mặt khi thực hiện quyển sách này. Tôi biết ơn về cả hai điều này.

Cuối cùng, Faye Angevine ở Đài Bắc và Lama Gyaltsen ở Tu viện Sonada đã hỗ trợ tôi về vật chất trong khi thực hiện bản dịch này. Sự rộng lượng của họ thật đúng lúc và đáng cảm kích. Tôi cũng mang ơn gia đình Hirota ở Tokyo đã hết sức tốt lành khi bảo trợ cho tôi trong chuyến đi đến trung tâm nhập thất của ngài Kongtrul tại Kham, ở đó tôi đã tìm ra giải đáp cho nhiều vấn đề của mình.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
Tây Phương Tịnh Sỹ
Bài viết: 507
Ngày tham gia: 22/12/13 23:53
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi Tây Phương Tịnh Sỹ » 13/05/15 02:18

A Di Đà Phật,
TPTS xin được cảm niệm và tán thán công đức đăng tải cẩm nang rất thiết thực với người học Phật này. Bản thân con rất tâm đắc những dòng sau:

..."Theo Kongtrul, hậu quả trầm trọng nhất của sự thành kiến bộ phái là nó tạo nên hành vi hết sức tiêu cực của việc bác bỏ giáo lý của Đức Phật. Mặc dù mỗi Phật tử phải quyết định xem các phương pháp phát triển tâm linh nào là có ý nghĩa cho bản thân mình trong đại dương giáo lý được Đức Phật ban cho, việc bác bỏ hay xem thường những chọn lựa riêng tư hết sức khác biệt từ cùng một giáo lý của những Phật tử khác thì đồng nghĩa với việc bác bỏ lời Phật dạy. "...

Con xin được thành kính chúc Chú thân tâm thường an lạc, sớm viên thành Đạo nghiệp.

TPTS, hoan hỷ kính chào, A Di Đà Phật
Phật, Chúng Sanh Tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví Đạo tràng
Mười phương Phật Bảo hào quang sáng ngời
Trước Phật Đài Thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y...
Ma Ha Bát Nhã Tát Bà Ha...

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 14/05/15 18:06

LỜI GIỚI THIỆU CỦA DỊCH GIẢ

Bản dịch Cẩm Nang Nhập Thất của Jamgong Kongtrul này được dự định như một đóng góp khiêm tốn cho sự hiểu biết của chúng ta về việc tu tập thiền định trong truyền thống Mật thừa của Phật giáo và về cuộc đời của tác giả, một thiền sư trong thế kỷ mười chín mà tác phẩm vẫn là một trong những ảnh hưởng vượt trội trong Phật giáo Mật thừa hiện đại vùng Hy Mã Lạp Sơn.

Quyển sách ngắn này được biên soạn như một hướng dẫn cho những người bước vào một chương trình thiền định tập trung ba năm. Tác giả, giám đốc của chương trình, khuyên dạy các đệ tử của ngài chuẩn bị cho khóa nhập thất ra sao, sẽ trông chờ điều gì ở họ trong thời gian họ sống trong trung tâm, và làm thế nào để sống cuộc đời của họ khi hoàn tất mỹ mãn việc tu tập.

Nếu vào lúc đầu chúng ta nhận ra chủ đề của việc tu tập thiền định trong một khóa nhập thất thật huyền bí hay làm ta thoái chí, điều này không phải do bởi sự khó khăn bẩm sinh của tự thân chủ đề: đó là chỉ vì ta không có sự song hành với nó trong những nền văn hóa phi Phật giáo. Quyển sách này mang lại cho chúng ta phương tiện thực tiễn vô giới hạn để đi vào thế giới khép kín của một khóa nhập thất. Cái thấy mà khung cửa sổ nhỏ bé này mang lại không được chấp nhận. Người ta hồ nghi là có bao giờ tác giả hy vọng công trình này sẽ được khảo sát bởi các độc giả quá xa lạ với nền văn hóa và thời đại của ngài. Tuy nhiên, dù có chủ tâm hay không, ngài mang lại cho các độc giả hiện đại chân dung sáng tỏ, chính xác nhất có thể có được của loại tổ chức này.

Một tiết mục chính yếu của quyển sách này được dành để mô tả chi tiết về chương trình nhập thất. Thông tin này đặc biệt đáng lưu ý trong trường hợp của Jamgong Kongtrul ("Vị Bảo hộ Dịu dàng") (1813-99), bởi nó tiết lộ những quan tâm và sở thích riêng tư của ngài trong phạm vi rộng lớn của các thực hành thiền định Phật giáo.

Trong thế kỷ mười chín, Kongtrul là người biên soạn Năm Kho tàng chứa đựng những điều tuyệt vời nhất trong hơn một ngàn năm kinh nghiệm của những người nói tiếng Tây Tạng trong việc nghiên cứu Phật giáo và thực hành những thiền định của nó. Tổng cộng, năm tuyển tập này bao gồm hơn một trăm quyển, từ 400 tới 800 trang mỗi quyển (sử dụng một hệ thống đánh số Tây phương). Trong những tuyển tập này, khoảng ba mươi quyển là tác phẩm gốc của Kongtrul bổ túc và chú giải những tác phẩm của các thiền sư trong quá khứ.

Thật khó có thể đánh giá ảnh hưởng mà những quyển sách này mang lại. Chúng là hình thức trong đó nhiều Phật tử hiện đại nói tiếng Tây Tạng tiếp tục nhận lãnh di sản tâm linh của họ. Chúng được tôn kính một cách phổ quát như nguồn mạch chính của những hướng dẫn có thẩm quyền và xác thực trong việc nghiên cứu và thiền định cần thiết cho sự phát triển tâm linh trong Phật giáo.

Thật không may, những độc giả không nói tiếng Tây Tạng ít có phương tiện để đến được với con người này và tác phẩm của ngài. Chỉ có hai bản dịch những quyển sách của ngài được xuất bản bằng Anh ngữ: The Great Path of Awakening (Con Đường Giác ngộ Vĩ đại) và The Torch of Certainty (Ngọn Đuốc Xác quyết). Cả hai là những bản dịch thận trọng và chính xác, trung thành với văn phong của tác giả. Nhưng chúng tượng trưng hai giọt nước vô cùng nhỏ nhoi rơi xuống từ một đại dương. Trong nguyên bản Tây Tạng, quyển sách trước dài 46 trang; một phần của quyển sau được xuất bản bằng Anh ngữ là 101 trang. Cả hai quyển này là một phần trong nguyên bản Tây Tạng dày 758 trang và quyển sách này chỉ là một trong hơn một trăm quyển là tác phẩm nguyên bản của Kongtrul và những biên soạn của ngài. Cẩm nang Nhập thất của Jamgong Kongtrul (64 trang trong tiếng Tây Tạng) chính là mùi vị khiêm tốn khác trong một bữa tiệc thật ê hề.

Ý nghĩa đặc biệt của quyển sách này trong việc hiểu biết Jamgong Kongtrul xuất phát từ vị trí chính yếu mà trung tâm nhập thất được mô tả ở đây đã chiếm cứ trong cuộc đời ngài. Trụ xứ Phổ Hiền của Đại Lạc Chói Lọi, như trung tâm được gọi, là trụ xứ chính của Jamgong Kongtrul trong phần lớn cuộc đời ngài. Ngài đã biên soạn hầu hết những quyển sách của ngài ở đó, lúc đầu thường được dành cho những người nhập thất. Việc ngài quan tâm đến từng phương diện của đời sống trong khóa nhập thất mà ta cảm nhận trong quyển sách này là một manh mối cho sự kiện đây là trung tâm duy nhất mà ngài đã thành lập. Đây là nhà của ngài và nó hoàn toàn là của riêng ngài – từ cấu trúc vật lý và các nội dung của nó cho đến những thực hành thiền định được những người nhập thất thực hiện. Bằng cách đọc lời ngài khuyên dạy các đệ tử, là những người khách đích thực trong ngôi nhà vật chất và thế giới tâm linh của ngài, ta có thể thoáng thấy đâu là điều Jamgong Kongtrul trân trọng nhất.

Lời giới thiệu dưới đây mang lại một vài thông tin tổng quát liên quan đến hai chủ đề chính của quyển sách này: khóa nhập thất thiền định ba năm như một tổ chức và ý nghĩa quan trọng của khóa nhập thất này trong cuộc đời và tác phẩm của Jamgong Kongtrul.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 16/05/15 17:56

KHÓA NHẬP THẤT BA NĂM, SÁU TUẦN

    CÁC TRUNG TÂM NHẬP THẤT: MÔI TRƯỜNG VẬT LÝ CỦA CHÚNG
Trong hệ thống Phật giáo về sự phát triển tâm linh, việc nghiên cứu và quán chiếu được hoàn thành trong thiền định. Trong khi một nối kết gần gũi giữa việc nghiên cứu và thiền định được coi là lý tưởng trong lý thuyết thì hai tu tập thường bị tách rời về mặt tổ chức. Các học giả mầm non bị hút về các học viện; các thiền sư tương lai vào các trung tâm nhập thất, là tổ chức được dự kiến truyền đạt một sự tu tập thiền định triệt để.

Trong các truyền thống của Dòng Giáo huấn Cổ truyền (Nyingma) và Dòng Giáo huấn Khẩu truyền (Kagyu), chương trình tu tập thiền định miên mật kéo dài ba năm và sáu tuần. Cẩm nang Nhập thất của Jamgong Kongtrul được biên soạn như một hướng dẫn cho kiểu nhập thất này. Không có kiểu mẫu tiêu chuẩn cho cấu trúc vật lý của những trung tâm nhập thất này. Mô tả dưới đây được đặt nền trên các trung tâm nhập thất mà tôi đã viếng thăm trong vùng Hy mã lạp sơn – Tây Tạng, Ấn Độ, và Nepal – và ở ngoại quốc – Pháp, Canada, và Đài Loan.

Một trung tâm nhập thất thiền định thường biệt lập với khu đất chính của một tu viện, chùa chiền, hay trung tâm thiền định công cộng. Các ẩn thất là những cộng đồng tự túc cực nhỏ được phục vụ và bảo hộ bởi một tổ chức rộng lớn hơn mà các ẩn thất này liên kết.

Nhìn từ bên ngoài, các trung tâm nhập thất là những hòn đảo tĩnh lặng: chúng không thu hút sự chú ý của người khác. Những người nhập thất bỏ lại ngoài cửa mọi bổn phận và trách nhiệm với gia đình, sinh kế, hay xã hội, để rồi được nhận lại sau khi hoàn tất thời gian dành cho việc tu tập. Suốt trong chương trình nhập thất này, công chúng không được phép vào khu nhập thất. Những người duy nhất được ra vào khu nhập thất trong thời gian này là người phục vụ việc bếp núc và những cố vấn thiền định đã được chỉ định.

Trong khuôn viên nhập thất có một số gian nhà bao quanh một cái sân. Mỗi người nhập thất có một gian phòng riêng và chính ở nơi đó thiền giả trải qua gần hết một ngày. Gian nhà lớn nhất là một ngôi chùa, nơi toàn thể cộng đồng tụ họp hai lần trong ngày – sáng và tối – để cầu nguyện và thiền định theo nhóm. (Bữa điểm tâm và bữa tối được phục vụ vào những lúc này trong các khu nhập thất ở vùng Hy Mã Lạp Sơn). Trong khuôn viên cũng có một gian phòng lớn dành cho những bài tập du già. Những cấu trúc khác trong nhà nhập thất là bếp, phòng rửa mặt, và nhà vệ sinh. Toàn vùng được đóng lại trước những cặp mắt của công chúng bằng những bức tường hay hàng rào.

Mỗi phòng của người nhập thất chỉ đủ để đặt một bàn thờ nhỏ, vài kệ sách, một bàn đọc sách và một chỗ để người nhập thất nằm dài trên sàn nhà trong việc lễ lạy. Cửa sổ mỗi phòng mở ra sân bên trong. Thay cho một chiếc giường, các phòng được cung cấp một "ghế thiền định", một vật hỗ trợ bằng gỗ có ba mặt thấp và một lưng ghế cao. Ghế này được dùng làm chỗ thiền định và một cái giường: những người tham dự những khóa nhập thất miên mật dài hạn (chẳng hạn như khóa nhập thất sử dụng cẩm nang này) phải tự làm quen với việc ngủ trong tư thế ngồi thẳng lưng.

Các trung tâm nhập thất thường là những cộng đồng nhỏ, gồm mười hai thiền giả hay ít hơn cư trú. Các tu viện và học viện trong vùng Hy mã lạp sơn chịu chút ít tai tiếng vì có chiều hướng phát triển quy mô. Các trung tâm nhập thất thì không thế: tỉ lệ hợp lý giữa vị Thầy và đệ tử luôn luôn được coi là điều thiết yếu trong những cộng đồng như thế. Chẳng hạn như chỉ có tám người tạo thành cộng đồng nhập thất trong khóa nhập thất của Jamgong Kongtrul: một Đạo sư, năm người nhập thất, một người nấu bếp, và một người đốn củi.

Trung tâm nhập thất của Jamgong Kongtrul khởi hành từ kiểu mẫu quy ước trong một ít cách thức thứ yếu. Có hơn một ngôi chùa trong khuôn viên và hai chương trình thiền định được theo đuổi đồng thời trong một cộng đồng nhập thất. Người nhập thất theo chương trình thứ hai là người chịu trách nhiệm về ngôi chùa thứ hai, là chùa được dành cho các vị bảo hộ Phật giáo. Không giống như hầu hết các trung tâm thiền định hiện đại, những người cư ngụ trong khu nhập thất này phải bỏ lại mọi vật sở hữu cá nhân tại nhà kho trong thời gian nhập thất. Về sau điều bắt buộc này đã bao gồm tất cả, từ những vật phẩm tôn giáo (chẳng hạn như những pho tượng và tranh ảnh) cho đến quần áo: trong những khóa nhập thất sau này, ngay cả những bộ y tu sĩ cùng một kích thước dành cho tất cả mọi người cũng được trung tâm cung cấp. Sự tuân thủ bắt buộc này dường như để tăng cường cho khẳng định của Jamgong Kongtrul rằng các thiền giả trong trung tâm của ngài phải thấy mình được đối xử bình đẳng, cho dù ở ngoài ẩn thất họ giàu có hay có địa vị xã hội ra sao.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 18/05/15 09:41

    THỜI GIAN NHẬP THẤT
Chương trình khóa nhập thất của Jamgong Kongtrul đầy ắp trong thời gian ba năm, sáu tuần. Điều này có vẻ độc đoán và phiền phức, tuy nhiên, nó tuân theo một truyền thống bắt đầu từ lâu trước thời của Kongtrul.

Một năm trước khi thị tịch, Đức Phật đã dạy Tantra Thời Luân (Bánh Xe Thời gian, Kalachakra), được cho rằng để trình bày về tột đỉnh các giáo huấn của Ngài. Trong tantra này Đức Phật mô tả mối liên hệ giữa vũ trụ, thời gian và thân thể của ta. Trình bày của Ngài mang lại cơ sở hợp lý để xác định độ dài thuận lợi nhất cho việc nhập thất thiền định là ba năm và sáu tuần.

Tóm lại, mối liên hệ nền tảng nhất của chúng ta với thế giới bên ngoài sau khi sinh ra là qua hơi thở. Chúng ta thở: chúng ta sống. Hơn nữa, theo Tantra Thời Luân, sự hô hấp của ta nối kết tự nhiên với vũ trụ và thời gian. Trong Tự điển Bách khoa Phật giáo, Kongtrul nói:

    Ở bên ngoài có hai mươi ngàn sáu trăm phút trong một năm (360 ngày), trong khi ở bên trong thì đây là số hơi thở ta dùng mỗi ngày. (Quyển 2, trang 639).
Không khí ta (hít) thở vào thân ta và duy trì sinh lực mà ta cũng như tất cả chúng sinh đều có, được gọi là năng lực nghiệp. Theo quan điểm Mật thừa, một phần nhỏ của hơi thở cũng duy trì năng lực tâm linh của ta, được gọi là năng lực trí tuệ, Kongtrul nói:

    Một phần trong ba mươi hai phần của mỗi hơi thở là năng lực trí tuệ... Bản tánh của nó là tâm giác ngộ bất hoại. (sách đã dẫn, Quyển 2, trang 639-40).
Theo định nghĩa, một phần trong ba mươi hai phần của mỗi hơi thở này nuôi dưỡng năng lực tâm linh của ta là phần thứ yếu của đời sống bình thường. Ảnh hưởng của nó bị cắt bớt bởi việc ta chú tâm đến "đời sống thực sự", có nghĩa là năng lực nghiệp. Thời gian được dùng trong ẩn thất thiền định làm giảm đi rất nhiều sức mạnh của năng lực nghiệp. Một cách lý tưởng, mọi công việc, nỗ lực, cảm xúc, và những tập quán hay lối sống chi phối đời ta trong thế giới được để lại bên ngoài ẩn thất và được thay thế bằng năng lực trí tuệ - kinh nghiệm về sự tĩnh lặng, hỉ lạc, và sự trong sáng rộng lớn tự nhiên của tâm. Phần hơi thở được dùng để duy trì nghiệp lực càng ngày càng ít đi, thay vào đó năng lực trí tuệ được tăng trưởng. Tiến trình này lên đến tột đỉnh trong sự giác ngộ, sự chuyển hóa toàn triệt năng lực nghiệp thành năng lực trí tuệ.

Trong Phật giáo Mật thừa, thọ mạng của con người trong thời hiện tại được cho là một trăm năm. Điều đó có nghĩa là thân thể ta có khả năng tồn tại trong thời gian đó. Một phần ba mươi hai của mỗi hơi thở tức là năng lực trí tuệ, được tích tập trong thời gian đó, thì tương đương với những hơi thở được dùng trong ba năm và sáu tuần. Đây được coi là thời gian cần thiết tối thiểu để hoàn thành việc chuyển hóa năng lực nghiệp thành năng lực trí tuệ, tức là để thành tựu giác ngộ viên mãn. Trạng thái này được tượng trưng bởi một thân tướng của Đức Phật được gọi là Kim Cương Trì (Vajradhara). Như Kongtrul đã nói:

    Mọi năng lực trí tuệ lưu thông với hơi thở trong một trăm năm thì tương đương ba năm và sáu tuần. Khi mọi năng lực nghiệp được chuyển hóa thành năng lực trí tuệ thì ta đạt được giác ngộ. Đây là lý do tại sao ta được nói rằng trạng thái của Đức Phật Kim Cương Trì được thành tựu trong thời gian ba năm và sáu tuần. (sách đã dẫn, Quyển 2, trang 640).
Trong Anh ngữ, các khóa nhập thất chẳng hạn như khóa được mô tả trong cẩm nang này thường được ám chỉ là các khóa nhập thất ba năm, ba tháng. Từ "hai tuần" có thể không được sử dụng bởi nó có vẻ quá rắc rối đối với cách dùng Anh ngữ hiện đại, hoặc bởi nó không thực sự là cách dịch chính xác. Từ Tây Tạng để chỉ hai tuần (chok, phyogs) có nghĩa cụ thể là nửa tuần trăng, từ lúc trăng non cho đến khi trăng tròn, hay từ lúc trăng tròn đến trăng non.

Mặc dù trong suốt tác phẩm này, thời gian nhập thất được ám chỉ là ba năm và sáu tuần, ta có thể gọi nó một cách hợp lý là một khóa nhập thất ba năm ba tháng. Âm lịch mà chương trình nhập thất căn cứ phải được điều chỉnh lại trong những khoảng thời gian đều đặn để thay thế số ngày - tối thiểu là năm ngày - bị mất đi mỗi năm trong sự liên hệ với dương lịch. Cứ vài năm thì lịch Tây Tạng lại có mười ba tháng chứ không phải mười hai tháng, đôi khi mỗi tháng ít hơn chứ không bao giờ hơn ba mươi ngày mỗi tháng. Những tháng nhuận này được tính trong chương trình thiền định để khóa nhập thất được bảo đảm là kéo dài ít nhất ba năm và hai tháng rưỡi, nếu không hơn. Ví dụ như bởi hai năm 1989 và 1991 là những năm có mười ba tháng, một khóa nhập thất như thế bắt đầu vào tháng Giêng năm 1989 sẽ kéo dài ba năm và ba tháng rưỡi.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 21/05/15 05:43

    CÁC TRUNG TÂM NHẬP THẤT VÀ GIỚI TÍNH
Hầu hết các khóa nhập thất thiền định miên mật dài hạn đều được cách ly về mặt tính dục. Những người tham dự các khóa nhập thất như thế chấp nhận một thời gian sống độc thân như một cách làm giản dị hóa cuộc đời, nó cho họ cơ hội dành toàn bộ thời gian và sự chú tâm cho đời sống tâm linh.

Ẩn thất của Jamgong Kongtrul, Trụ xứ Phổ Hiền của Đại Lạc Chói Lọi, là một trung tâm thiền định cho phái nam. Các phụ nữ được tính chung trong số đệ tử thân cận của ngài – ngài đã đề cập đến ở cuối vài quyển sách được soạn theo lời khẩn cầu của một hay các nữ đệ tử – mặc dù có vẻ không chắc là ngài đã lập ra một trung tâm song hành cho phái nữ, bởi điều đó không được đề cập đến trong những tác phẩm của ngài theo sự hiểu biết của tôi.

Trước tiên Jamgong Kongtrul là một thiền giả và một tác giả, chứ không phải là một nhà thiết kế thể chế (tổ chức). Bản thân ngài dường như đã trải nghiệm trong những thể chế tôn giáo trong thời đại của ngài, như sẽ được giải thích dưới đây. Địa điểm này đã giới thiệu cho ngài một trụ xứ tâm linh và một ốc đảo lành mạnh. Tham vọng chính yếu của Jamgong Kongtrul trong cuộc đời dường như là được mọi người hiểu biết về đời sống tâm linh của thế giới và thời đại của ngài, thâu thập mọi điều có giá trị trong quá khứ, bảo tồn những kho tàng đang có nguy cơ bị mai một, và làm cho các thế hệ tương lai có thể sử dụng được những kho tàng ấy qua việc biên soạn của riêng ngài. Nói rằng ngài đã thành công rực rỡ trong tham vọng đó là không để ý đến sự kiện là dường như ngài đã tán thành những quy tắc của thời đại ngài và không chú ý đến việc tạo ra những cơ cấu tổ chức cho việc nhập thất của phái nữ.

Có phải điều này gợi ý rằng Kongtrul không chấp nhận sự tham dự và đóng góp của phụ nữ vào đời sống tâm linh một cách nghiêm túc? Dường như có quá ít luận cứ để chứng minh cho một quan điểm như thế và dồi dào bằng chứng cho điều ngược lại. Đặc biệt là Kongtrul có rất nhiều thiền định để chọn lựa cho chương trình nhập thất của ngài nhưng ngài đã dành gần một nửa số đó cho các thiền định có nguồn gốc từ hai phụ nữ Ấn Độ trong thế kỷ thứ mười. Cũng thế, một trong những thực hành được thực hiện hàng ngày suốt khóa nhập thất là cảm hứng của một phụ nữ Tây Tạng, và đề cao bà như trọng tâm của việc thiền định.

Hầu hết những khóa nhập thất ba năm hiện đại ở ngoài vùng Hy mã lạp sơn đã tạo điều kiện thuận lợi cho cả nam lẫn nữ. Hai nhóm theo cùng một chương trình và nhận được sự chăm sóc như nhau từ các thầy trợ giáo. Tuy nhiên, trong vùng Hy Mã Lạp Sơn, hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt. Dường như phụ nữ thường được coi là những công dân hạng nhì của thế giới Phật giáo. Các tu viện và học viện rộng lớn tốn kém nhiều ngàn đô la trong việc xây dựng và hoạt động tiếp tục gia tăng. Hiếm có năm nào mà không có thêm đề án đầy tham vọng được khánh thành. Trong số những đề án này, hầu như không có các tổ chức chấp nhận phụ nữ. Theo sự hiểu biết của tôi, trong những chương trình nhập thất ba năm cho phụ nữ trong vùng Hy Mã Lạp Sơn, chỉ có hai Đạo sư Tai Situpa của Dòng Kagyu và Chadral Rinpochay của Dòng Nyingma là đã thiết lập và duy trì các khóa nhập thất cho phụ nữ có tiêu chuẩn giáo huấn tương đương với các khóa nhập thất của nam giới.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 23/05/15 02:06

    TU TẬP THIỀN ĐỊNH TRONG KHÓA NHẬP THẤT
Mặc dù những dị biệt đáng kể trong các chương trình thiền định được theo đuổi tại các trung tâm nhập thất được liên kết với các Đạo sư hay tu viện khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một vài điểm đặc trưng.

Một ngày của người nhập thất được chia làm bốn thời kỳ thiền định cá nhân (sáng sớm, cuối buổi sáng, chiều và tối) và hai thời khóa tập thể (vào buổi sáng và cuối buổi chiều). Thời giờ rỗi rảnh là một điều hiếm có: lúc tạm nghỉ dài nhất trong ngày trùng với bữa ăn trưa. Cường độ của việc tu tập dường nghẹt thở trừ phi ta quán chiếu rằng những người tham dự thường phải trải qua nhiều năm chuẩn bị thật hăm hở mới có được cơ hội đằm mình trong một chương trình như thế.

Bốn thời khóa trong ngày được dành cho các thiền định đặc biệt thay đổi ở những khoảng cách không đều; một vài thiền định được thực hiện trong nhiều ngày, một số thì trong nhiều tháng. Chương trình nhập thất bắt đầu với những thiền định sơ đẳng nhất của một truyền thống đặc biệt và tiến triển dần dần qua mọi giai đoạn phát triển cho đến giai đoạn sâu xa nhất. Tất cả những người nhập thất được trông đợi là sẽ theo đuổi chương trình thật trung thực mặc dù mọi sở thích họ có thể có trong nhiều thiền định được hiến tặng. Hầu hết các khóa nhập thất sẽ giới thiệu cho những người nhập thất một truyền thống các kỹ thuật nhập thất. Trong khóa nhập thất của Jamgong Kongtrul, những đòi hỏi của chương trình rất nặng nề: ngài đã hướng dẫn một chuyến đi được chỉ dẫn đầy đủ bằng ba loại thiền định Mật thừa hết sức khác biệt và đã bổ túc cho những thực hành này bằng các giáo huấn từ bốn dòng truyền thừa khác.

Các thời khóa tập thể hàng ngày và những nghi lễ đặc biệt theo thời khóa biểu đều đặn bao gồm một số lượng công việc đáng kể: tụng các bài nguyện, sử dụng nhạc khí, trì tụng thần chú, chuẩn bị các lễ cúng dường khác nhau, và nhiều hơn nữa, lúc nào cũng có thêm các bài nguyện cần trì tụng. Đối với nhiều người, chương trình thiền định của khóa nhập thất có vẻ quá tải mà không có những sự giải trí. Tuy nhiên trong thực tế, đối với những người tham dự hiểu biết ngôn ngữ của các bản văn và quen thuộc với những quán tưởng được thực hiện đồng thời, các nghi lễ tập thể có thể là những nguồn mạch đầy cảm hứng và phấn chấn cho sự hồi phục cá nhân.

Điều gì tạo nên việc tu tập thiền định Mật thừa trong một khóa nhập thất như thế? Không thể trả lời một câu hỏi như thế mà không cung cấp một giải thích ngắn về lý thuyết thiền định Phật giáo.

Nói chung, một người thực hành thiền định Phật giáo là để làm an định tâm thức và phát triển sự quán chiếu vào bản tánh của tâm. Nội quán đó lên đến tột đỉnh trong sự tỉnh giác và giác ngộ. Nhưng tỉnh giác (trí tuệ) không phải là một sản phẩm của thiền định – Phật giáo không tạo ra giác ngộ cũng như tấm gương không tạo ra khuôn mặt. Giáo huấn hiệu quả trong thực hành Phật giáo được nối kết với một tấm gương cho phép một người nhìn thấy khuôn mặt của chính mình, Phật tánh cố hữu của chúng ta. Rất nhiều tu tập thiền định Phật giáo Mật thừa bao gồm sự hoàn thiện tuyệt đối cái nhìn của tâm.

Phật giáo dạy rằng bản tánh sâu xa nhất của tất cả chúng sinh là một nguồn mạch vô tận của trí tuệ, từ bi, và năng lực sáng tạo. Cái ngăn cản không cho ta nhận thức một cách rõ ràng điều này, bản tánh của riêng ta, là "bốn ngăn che". Ngăn che thứ nhất là sự thất bại nền tảng của ta trong việc nhận thức thấu triệt bản tánh này, được gọi là ngăn che của vô minh. Do thiếu sự tỉnh giác nội tại này, ta tiếp tục tạo ra những tính cách đối với bản thân ta (một cái tôi, một cái ngã) và những người khác, được gọi là ngăn che của tập quán, là ngăn che thứ hai. Ta lấy một ví dụ: khuynh hướng của ta là tạo ra một cái ngã và một thế giới và sau đó tin tưởng những phóng chiếu của riêng ta là thật có, đó là sự tạo tác tự nhiên và trùm khắp của ta về ngã và tha (ta và người) trong những giấc mộng. Khi ta đã tạo ra một cái ngã, dù trong khi thức hay trong giấc mộng, ta trở thành đối tượng cho vô số cảm xúc được đặt nền trên kinh nghiệm của ta. Đây là ngăn che thứ ba, ngăn che của những cảm xúc. Trong lý thuyết Phật giáo một cảm xúc được đánh giá là tiêu cực nếu nó có khuynh hướng ngăn cản việc tự biết mình hay dẫn đến những hành vi ích kỷ và có hại về mặt vật lý hay tinh thần. Những hành vi tác hại hay ích kỷ này tạo thành ngăn che cuối cùng, ngăn che của các hành vi tiêu cực.

Thiền định Mật thừa và chương trình nhập thất có ý định chống lại và vô hiệu hóa bốn ngăn che này. Khóa nhập thất bắt đầu với những thực hành chuẩn bị - các thiền định để tịnh hóa ngăn che của các hành vi tiêu cực và để vun trồng công đức và trí tuệ, để sử dụng biệt ngữ Phật giáo. Bằng ngôn ngữ khá đơn giản, các thực hành này làm tươi mới và phong phú kinh nghiệm về thân, ngữ và tâm của thiền giả.

Giai đoạn thứ hai của thiền định Mật thừa liên quan đến điều được gọi là các thiền định thuộc giai đoạn phát triển, nó vô hiệu hóa sự ngăn che của các cảm xúc. Trong những thực hành này, thiền giả noi theo việc tự nhận thức về bản thân của các bậc giác ngộ, để nhân cách hóa một tâm thái tỉnh giác và sống động. Những cảm xúc che chướng phát khởi từ mảnh đất màu mỡ của ý thức thông thường của ta về sự hiện thân (embodiment) và tương tác với thế giới (enworldment). Các thiền định thuộc giai đoạn phát triển đưa ra trong cương vị của nó một sự tạo tác toàn diện một cái ngã và môi trường xung quanh. Những sự tạo tác, phải, nhưng là những tạo tác rất thiện xảo. Có thể thực sự đồng nhất với chúng? Tâm thức của chúng ta trả lời câu hỏi đó mỗi đêm khi chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào các giấc mộng của ta trong khi ta ngủ, cho dù chúng lạ lùng ra sao. Giống như một vài giấc mộng có thể tác động đến tâm ta rất sâu xa cho dù ta tự nhủ bao nhiêu lần chăng nữa: "Đó chỉ là một giấc mộng", vì thế những tạo tác này dần dần chống lại những cảm xúc tiêu cực của ta bằng cách cung cấp một kinh nghiệm về sự rộng lớn và sống động của tâm giác ngộ.

Giai đoạn thứ ba của thiền định Mật thừa, giai đoạn thành tựu, chống lại sự ngăn che của tập quán, khuynh hướng trùm khắp của ta để tạo ra ta và người. Không giống như những tạo tác bận rộn của giai đoạn phát triển, các thiền định này mở ra những cánh cửa dẫn đến một cái thấy của tâm như nó là. Chúng cho phép thiền giả trực tiếp kinh nghiệm tính sáng tạo tự nhiên của tâm, cách ta liên tục tạo ra điều gì đó – một cái ngã và một thế giới – không hề có gốc gác, căn cứ. Thiền giả cũng học tập để hiểu được cách tâm thức quay trở lại nguồn mạch của nó, sự chói lọi vô biên và không có trung tâm. Trong tiến trình, những khuôn khổ ta người quen thuộc mất đi sự bám chấp kiên cố trước đây của chúng vào tâm của thiền giả.

Giai đoạn cuối cùng của thiền định Mật thừa là thiền định trực tiếp về bản tánh của tâm. Đây là cách đối trị sự ngăn che của vô minh. Các thực hành này không tạo nên bản tánh giác ngộ. Để nhìn thấy gương mặt ta, ta cần một chiếc gương; để thấy được bản tánh thâm sâu của ta, ta cần chiếc gương giáo huấn của Đạo sư tâm linh. Các giai đoạn trước của việc tu tập thiền định quét sạch những đám mây khỏi bầu trời tâm thức. Giai đoạn này không tạo ra một mặt trời nhưng nhận ra rằng nó – một sự tỉnh giác chói lọi – luôn luôn hiện diện, và để cho ánh sáng và hơi ấm của nó tràn ngập toàn thể không gian. Sự tỉnh giác này xua tan mọi dấu vết của việc thiếu hiểu biết về bản tánh của riêng ta.

Bốn giai đoạn thiền định này được lập lại ba lần trong khóa nhập thất của Jamgon Kongtrul; các thực hành chuẩn bị, thiền định thuộc giai đoạn phát triển, thiền định thuộc giai đoạn thành tựu, và thiền định về bản tánh của tâm được giảng dạy và thực hành trong ba cách riêng biệt. Những hình thức và thuật ngữ thay đổi trong các truyền thống khác nhau của Phật giáo Mật thừa, nhưng bốn giai đoạn này được tất cả những truyền thống này chia sẻ.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 24/05/15 17:56

CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM CỦA KONGTRUL LIÊN QUAN VỚI VIỆC NHẬP THẤT

    QUAN ĐIỂM KHÔNG BỘ PHÁI CỦA KONGTRUL VÀ CHƯƠNG TRÌNH NHẬP THẤT CỦA NGÀI
Trong đời ngài, Jamgon Kongtrul đã thành công trong việc đại chúng hóa một cái nhìn hợp nhất của Phật giáo đem lại sức sống mới cho đời sống tâm linh của vùng Hy Mã Lạp Sơn. Xã hội Tây Tạng dần dần quen thuộc với cách suy nghĩ rằng Phật giáo Tây Tạng được phân chia thành bốn truyền thống chính: Nyingma, Kagyu, Sakya, và Gayluk. Sự đơn giản hóa có thể hiểu được này được dựa trên sự kiện là vào thế kỷ mười chín, bốn truyền thống này đã tượng trưng cho những cấu trúc tổ chức tôn giáo vượt trội sau mười thế kỷ của những đấu tranh quyền lực chính trị. Bản liệt kê ngắn này bao gồm những hệ thống tu viện hiện hữu nhưng không bao gồm các truyền thống học thuật và thiền định mang lại hứng khởi cho việc thiết lập của chúng.

Ý định ban đầu của các tu viện là cung cấp nơi trú ngụ cho việc tu tập, cả học thuật lẫn thiền định, trong những hệ thống phát triển tâm linh đã từ Ấn Độ đến vùng Hy mã lạp sơn. Tuy nhiên, trải qua nhiều thế kỷ, một vài tu viện dần dần vượt quá vai trò của các trung tâm tôn giáo đơn thuần: chúng đã trở thành những lãnh địa tầm thường sử dụng quyền lực thế tục và thoái hóa thành những nơi trú ẩn của mưu đồ chính trị và chủ nghĩa bộ phái tư lợi. Việc giải thích lịch sử Phật giáo chủ yếu từ quan điểm phát triển và duy trì những thể chế này được Kongtrul coi là hiểm họa tâm linh.

Kongtrul thích nhìn lịch sử phát triển tâm linh trong vùng Hy mã lạp sơn từ quan điểm thực hành thiền định và nghiên cứu triết học và tâm lý học. Trong tác phẩm của ngài, ngài luôn luôn mô tả Phật giáo Mật thừa từ viễn cảnh của các dòng giáo huấn của nó; ngài chỉ ngẫu nhiên nhắc đến bốn hệ thống tu viện. Là một Đạo sư không bộ phái vĩ đại trong thời hiện đại, Chögyam Trungpa Rinpochay đã diễn tả một cách súc tích rằng Kongtrul đã thay đổi thái độ của các Phật tử "từ mái vàng của các ngôi chùa đến tấm nệm thiền"(1). Ý tưởng này không mới nhưng nó sử dụng thẩm quyền và thiện xảo tâm linh của Kongtrul và những người đương thời với ngài để truyền bá một cách hiệu quả quan điểm nổi danh là rimay (ris med) – quan điểm không bộ phái, không thiên vị, hay chung nhất. Thông điệp của quan điểm này có vẻ là coi bản thân ta và những người khác chính là những thành viên của các thể chế tôn giáo để dẹp bỏ các rào cản giả tạo giữa con người, như thể việc sáp nhập vào một giáo đoàn thì đồng nghĩa với việc thuộc về một đảng chính trị. Thay vào đó, tự coi mình là một hành giả của một hay nhiều hệ thống phát triển tâm linh Phật giáo, tất cả các hệ thống đó chia sẻ những nguồn gốc và mục tiêu, mở thông cho ta để cảm nhận sâu sắc sự cảm hứng từ tất cả những hệ thống đó và vì thế làm cho việc truyền thông và hợp tác giữa các thiền giả Phật giáo được thuận lợi.

Quan điểm không bộ phái này cắt đứt khuynh hướng bộ phái buồn tẻ và thể chế ôn hòa trong hiện tại trong thời đó để vươn tới cốt lõi của thực hành Phật giáo Mật thừa, đó là tám dòng thực hành. Tám truyền thống riêng biệt của thiền định Phật giáo Mật thừa Ấn Độ đến vùng Hy mã lạp sơn trong thời kỳ trao đổi tôn giáo giữa hai miền. Chính tám dòng truyền thừa này đã tạo nên nền tảng của Phật giáo Mật thừa Hy Mã Lạp Sơn(2) Trong tám dòng truyền thừa, chỉ có dòng thứ nhất là chia sẻ danh hiệu của một hệ thống các tu viện hiện hữu:

    1. Dòng Giáo huấn Cổ truyền (Nyingma, rnying ma).
    2. Dòng Giáo huấn Lời Dạy của Đức Phật (Kadampa, bka' gdams pa).
    3. Dòng Giáo huấn Con Đường và Quả (Lam Dray, lam 'bras]/i]).
    4. Dòng Giáo huấn Khẩu truyền của Marpa (Marpa Kagyu, [i]mar pa bka' brgyud
    ).
    5. Dòng Giáo huấn Shangpa (Shangpa Kagyu, shangs pa bka' brgyud).
    6. Những Dòng Giáo huấn Làm An dịu Đau khổ (Sheejay, zhi byed) và Cắt đứt (Chö, gcod).
    7. Dòng Giáo huấn Kim Cương Du Già (Dorjay Naljor, rdo rje rnal 'byor).
    8. Dòng Giáo huấn Thực hành Miên mật của Ba Kim Cương (Dorjay Sum Gyi Nyen Drup, rdo rje gsum gyi bsnyen sgrub).
Chương trình nhập thất ba năm của Kongtrul là một phản chiếu quan điểm không bộ phái của ngài; các giáo lý từ bảy trong tám dòng thực hành được bao gồm trong đó. Trong đoạn sau đây ngài nói như một vị hộ trì của Dòng Giáo huấn Khẩu truyền của các Đức Karmapa và được trang bị một sự biện hộ lưu loát cho chương trình của ngài dựa trên lịch sử thực hành thiền định trong dòng truyền thừa đó. Ngài thảo luận chủ đề - những gì tạo nên một chương trình thực hành thiền định hiệu quả - và nhìn nó từ một số góc độ trước khi trình bày kết luận của ngài: một phô bày bao quát, vô tư nhiều loại thiền định khác nhau tạo nên giải pháp tốt nhất.

Mặc dù ngài nói như thể ngài sẽ chết sớm ("tôi hiện đang ở cuối đời mình"), ngài viết những dòng này năm 1864 (ở tuổi 51), vào cuối khóa nhập thất ba năm lần đầu tiên tại trung tâm của ngài. Ngài đã sống thêm ba mươi lăm năm nữa.

Dường như cách khôn ngoan nhất là tập trung chương trình nhập thất ba năm sáu tuần vào một truyền thống của các thiền định thuộc giai đoạn phát triển và thành tựu, (có những người nhập thất) hết sức nỗ lực để làm cho các giáo lý đó đạt được hiệu quả. Nhìn từ quan điểm đó, dường như tốt nhất là không có quá nhiều bài cầu nguyện và trì tụng phức tạp, như một chương trình đơn giản không đưa ra quá nhiều khó khăn cho những người có năng lực (căn cơ) và khí lực thấp. Tuy nhiên, một vài cá nhân kiệt xuất đã từng thực hành thiền định trong những đời trước dường như không bị ảnh hưởng bởi độ dài của thời gian hay mức độ nỗ lực được đưa ra cho việc thiền định. Những dấu hiệu sâu xa của việc hoàn toàn thấu suốt các phương diện tương đối và tối thượng của tâm giác ngộ (Bồ đề tâm) và thông suốt hai giai đoạn thiền định đã trở thành hiển nhiên nhờ năng lực của sự hiểu biết, lòng từ bi và khả năng giúp đỡ người khác của các ngài. Những phô diễn rõ ràng và công khai khả năng bẩm sinh của các ngài thì vượt quá sự hiểu biết của những cá nhân quy ngã tầm thường.

Do hoàn cảnh sống hư hỏng hiện nay, hầu hết mọi người – kể cả những người đã nhận danh hiệu "bậc chứng ngộ" hay "bậc thành tựu" sau khi đã dành nhiều năm tháng trong đời cho việc thiền định và trì tụng các bài nguyện và thần chú – đã không nhập tâm một cách đúng đắn ngay cả các giáo huấn nền tảng là bốn suy niệm chuyển hóa tâm thành cuộc đời tâm linh(3) và hầu như bận tâm tới các nhu cầu của cuộc đời này. Vì thế thật hiếm khi tìm thấy một người có kinh nghiệm cả hai giai đoạn thiền định Mật thừa như được mô tả trong các bản văn thực hành. Cho dù một ít người đã phát triển một phần nhỏ bé của sự chứng ngộ đó, dường như không thể tìm ra người dồi dào kinh nghiệm siêu vượt giai đoạn này.

Nói chung, thực hành thiền định đơn giản chỉ riêng về tâm thức đòi hỏi ta phải nhận ra bản tánh của nó, dồi dào kinh nghiệm, thành tựu sự kiên định, và hoàn thiện sự tinh thông của ta. Không có đủ bốn điều này, ta sẽ không đạt được mục đích. Ngày nay, các thiền giả không vượt qua được sự nhận thức hết sức lập lờ về tâm thức; thực hành của họ không có hiệu quả trong lúc khó khăn, khi họ thấy mình tìm kiếm sự an toàn trong sự tiên tri, nghi lễ, và những việc tương tự như vậy. Đây là một ví dụ về việc làm thế nào ta có thể dần dần đánh mất sự quyết tâm kiên định sau nhiều năm thực hành mãnh liệt một thiền định riêng rẽ. Sự thiền định và chú tâm của ta đi theo những con đường riêng biệt của chúng và ta hoàn toàn mê mãi trong sự xao lãng vô ích và những trò tiêu khiển tiêu cực. Hơn nữa kinh nghiệm mà ta có trong thiền định, ngay cả niềm tin và nhiệt tâm chân thành mà ta có lúc bắt đầu thực hành thiền định đã bị mất đi. Ta xuất hiện trước công chúng như một kẻ kiêu ngạo và khoác lác không thể chịu đựng nổi. Dường như thực hành như thế khó mang lại được điều gì ngoại trừ những người có cái thấy thanh tịnh và sự ràng buộc với những bận tâm thế tục dần dần giảm bớt.

Ngay cả những cá nhân đặc biệt, nổi tiếng là những vị lãnh đạo của các truyền thống tâm linh cũng có phần giống như các thiền giả được mô tả ở trên theo cách riêng của họ. Họ chỉ bận tâm đến việc nghiên cứu, thiền định, giảng dạy, và đẩy mạnh những truyền thống của riêng họ mà không tìm kiếm việc giáo dục ở truyền thống nào khác. Cho dù họ cố gắng học một chút về truyền thống khác, chẳng bao giờ họ trợ giúp cho hoạt động giác ngộ của truyền thống đó được tiếp tục. Những người bị thu hút vào việc truyền bá những truyền thống của riêng họ trải nghiệm sự thành công giống như một vụ thu hoạch ngũ cốc chín muồi, nhưng trong lúc đó một vài dòng truyền thừa thiền định vô cùng cao cấp gần như biến mất vào hư không.

Trái lại, dòng thực hành thiền định tôn quý của Dòng Giáo huấn Khẩu truyền của các vị Karmapa trong vùng này là một sự hòa hợp trọn vẹn các suối nguồn của hai dòng truyền – dòng của Gampopa và dòng Giáo huấn Cổ truyền. Sự hợp nhất này được bắt đầu bởi Đạo sư thành tựu Karma Pakshi và Rangjung Dorjay toàn trí (Karmapa thứ hai và thứ ba). Đặc biệt là Đức Rangjung Dorjay tôn quý được Vimalamitra gia trì trong một linh kiến và sau đó truyền bá Tâm Yếu của Karmapa, một thiền định vẫn còn được thực hành. Các bản văn kho tàng của các vị khám phá kho tàng vĩ đại của truyền thống chúng ta cũng dần dần trở thành một phần của Dòng Giáo huấn Khẩu truyền này. Các bản văn kho tàng này bao gồm các kho tàng được khám phá của Sang-gyay Lingpa vĩ đại; Pháp Vương Rinchen Phuntsok; Jatson Nyingpo; Chöjay Lingpa; Mingyur Dorjay; Rolpay Dorjay; Dorjay Drakpo; Chok-gyur Daychen Lingpa, và những vị khác. Hơn nữa, Karmapa và những vị thừa kế tâm linh của ngài đã gánh vác việc bảo vệ và đã thiết lập những hệ thống thực hành cho các giáo lý kho tàng của hầu hết những nhà khám phá kho tàng vĩ đại, trong đó có Pháp Vương Ratna Lingpa; Shikpo Lingpa; và Taksham Samten Lingpa, và đây mới chỉ liệt kê một số vị.

Đặc biệt là Karma Chakmay, hiện thân của Bồ Tát Thấu suốt Mọi sự Đầy Năng lực (Avalokiteshvara; Chen-ray-zee, spyan ras gzigs dbang phyug, Quán Thế Âm), đã đặc biệt quan tâm đến việc đẩy mạnh sự hợp nhất truyền thống lâu đời với các Dòng Giáo huấn Cổ truyền và Khẩu truyền. Những năm sau này, Đức Karmapa thứ mười bốn Tekchok Dorjay và Đức Tenpa Nyinjay (cũng được gọi là Tai Situpa Chökyi Jungnay), hiện thân toàn trí của Bồ Tát Từ Ái (Maitreya; Jampa, byams pa, Di Lặc), qua những loạt hóa thân của ngài, thậm chí đã truyền bá truyền thống này xa rộng hơn nữa. Kết quả là nguồn mạch trông thường của thị kiến triết học, sự hoạt động, và thiền định của các Dòng Giáo huấn Cổ truyền và Khẩu truyền tiếp tục không đứt đoạn cho tới ngày nay.

Theo một cách thế tương tự, vị y sĩ vô song xứ Dakpo (Gampopa) lúc ban đầu là một môn đồ của Dòng Giáo huấn Lời Dạy của Đức Phật (Kadampa). Từ thời đại của ngài, nền tảng căn bản của thiền định trong Dòng Giáo huấn Khẩu truyền là Các Giai đoạn của Con Đường cho Ba Loại Người của Dòng Giáo huấn Lời Dạy của Đức Phật (Kadampa). Xin đưa ra ví dụ khác, Đức Phật thứ hai, Đức Rangjung Dorjay tôn kính, là vị thừa kế chính của những trao truyền Sáu Nhánh Ứng dụng (từ Dòng Giáo huấn Kim cương Du già), Dòng Giáo huấn Làm Nguôi dịu Đau khổ, Dòng Giáo huấn Cắt đứt và những dòng khác. Kết quả là sự tương tục của truyền thống đặc biệt được gọi là Dòng Giáo huấn Khẩu truyền Cắt đứt tiếp tục không đứt đoạn cho đến ngày nay. Kunga Namgyal, vị Trungpa vĩ đại của Tu viện Zurmang(4), đã đẩy mạnh sự tiến bộ của Dòng Giáo huấn Làm An dịu Đau khổ, như đấng thấu biết mọi sự Chökyi Jungnay đã làm cho Sáu Nhánh Ứng dụng của Dòng Giáo huấn Kim Cương Du Già. Đức Karmapa thứ tư Dzamling Rolpay Dorjay làm cho giáo thuyết của Dòng Giáo huấn Shangpa trở thành cốt lõi của việc thiền định và giáo lý của ngài. Kể từ thời ngài, một loạt Karmapa toàn trí đã duy trì và bảo hộ một cách kiên định Dòng Giáo huấn Khẩu truyền của Dakpo (Gampopa) và Dòng Giáo huấn Shangpa cùng một lúc. Sự Thực hành Miên mật Ba Dòng Giáo huấn Kim Cương tự nó là một truyền dạy riêng biệt của Orgyenpa, một thành tựu giả vĩ đại, một thành viên của chuỗi hạt vàng các vị hộ trì dòng truyền thừa của truyền thống chúng ta.

Các vị hộ trì trước đây của Dòng Giáo huấn Khẩu truyền của các Karmapa kể cả Pháp Vương Rangjung Dorjay tôn kính (Karmapa thứ ba), Karmapa thứ bảy (Chödrak Gyatso); Kachö Wangpo chứng ngộ (Sharmapa thứ hai); Sokon Rikpa Raldri; Goshri Paljor Döndrub (Gyaltshab Rinpochay thứ nhất); Karma Trinlaypa; Chökyi Döndrub vĩ đại, vinh quang (Sharmapa thứ tám); Chökyi Jungnay toàn trí (Tai Situpa thứ tám) và những vị khác đã nghiên cứu và thiền định mọi giáo huấn tâm linh có thể tìm được ở Tây Tạng. Hơn nữa, trong khi mỗi vị phụng sự như vị lãnh đạo của Dòng Giáo huấn Khẩu truyền của chúng ta (trong thời của các ngài), các ngài đã truyền bá không chút phân biệt những truyền thống giảng dạy và thực hành thiền định này. Theo cách này, các ngài mang lại lợi lạc vô song cho giáo lý của Đức Phật.

Làm thế nào những người như chúng ta, những kẻ không thể nắm bắt ngay cả một phần của con đường tâm linh, có thể duy trì khuôn mẫu của những cuộc đời giải thoát như thế? Đây là lúc tôi phải đi theo vết chân các ngài, ước muốn chân thành học tập một cách tôn kính công hạnh của các ngài trong tôi không suy giảm. Nhờ sức mạnh bẩm sinh của thái độ chân chính này, tôi không bao giờ cảm thấy mình đã sử dụng đầy đủ chất cam lồ giáo huấn tâm linh; tôi không bao giờ có đủ xác tín để phán đoán những giáo lý của Đức Phật mà tôi đã coi là hoàn toàn như nhau là đúng hay sai, tốt hay xấu; và chẳng bao giờ tôi tự trói mình trong những gông cùm chật hẹp của sự đua tranh ích kỷ. Vì thế, mặc dù giờ đây tôi đang ở cuối cuộc đời, tôi vẫn tìm kiếm những giáo huấn tâm linh với thái độ vô tư, không thiên vị. Năng lực tốt lành của động lực cao quý này, được củng cố bởi áo giáp nhiệt tâm của tôi, và sức mạnh mãnh liệt của chút ít thiện hạnh trong nhiều đời trước đã có kết quả. Đặc biệt là năng lực không lỗi lầm của thị kiến giác ngộ của các Đạo sư tâm linh và Tam Bảo đã bảo đảm rằng những ước nguyện của tôi hoàn toàn được chấp nhận nhờ lòng đại bi toàn khắp của các Đạo sư lẫy lừng của tôi, các Đức Phật Kim Cương Trì thứ hai. Các ngài đã chấp nhận những ước nguyện của tôi bằng cách ban những giáo huấn sâu xa và rộng lớn của các con đường thuộc tám dòng thực hành vĩ đại của vùng Hy mã lạp sơn. Những hệ thống thiền định này hoàn toàn không bị ô nhiễm bởi ảnh hưởng của những cam kết Mật thừa bị vi phạm, không bị lu mờ bởi những lời dối trá lọc lừa, và không bị suy giảm năng lực đối với việc gây truyền kinh nghiệm và sự chứng ngộ. Những dòng truyền kinh nghiệm thiền định này tiếp tục không bị đứt đoạn và cường độ gia trì của chúng không bị tiêu mòn.

Tôi đã trở thành người vẫn còn giữ được vài mẩu nhỏ xíu dòng truyền các giáo huấn làm thuần thục và giải thoát, nhưng tôi không bị vinh danh bởi những cái tên nghe thật dễ chịu là "thành tựu giả" hay "bậc chứng ngộ", tôi cũng không trở thành một bậc lão thông hay một người có thẩm quyền về các thực hành của một dòng giáo huấn tâm linh nào. Tuy nhiên, giờ đây khi mọi tâm thức của các Đạo sư vĩ đại trong quá khứ đã hoàn toàn thị tịch trong cõi vô cùng, tôi hy vọng mang lại một ít lợi lạc để giáo lý được tương tục và là một mẫu mực tốt lành cho thế hệ kế tiếp của những Đạo sư hữu duyên và thông tuệ. Sự may mắn của riêng tôi thì hết sức giới hạn vì thế có lẽ tôi không thể giúp đỡ bất kỳ ai, nhưng như Dolpopa toàn trí đã nói:

    Mặc dù bạn không thể gánh vác
    Những vật nặng nề hay phiền toái,
    Ít nhất hãy cảm thấy lo âu
    Về sự suy tàn của Phật giáo!
Tôi không lãnh đạm ruồng bỏ tâm yếu sâu xa của Phật giáo và tôi hy vọng rằng ý hướng giúp đỡ người khác của tôi sẽ không vô dụng. Vì thế, tôi đã tạo một nối kết tích cực với các thiền định thuộc giai đoạn phát triển và các thiền định thuộc giai đoạn thành tựu Mật thừa sâu xa cho những người an trú trong hai trung tâm nhập thất Palpung(5) bằng cách giới thiệu với họ các kiểu mẫu nói chung trong tất cả tám dòng thực hành thiền định, ngoại trừ thực hành của Dòng Giáo huấn Con Đường và Quả. Những giáo huấn sâu xa của truyền thống đặc biệt này khó có thể giảng dạy và thực hành một cách đúng đắn cùng rất nhiều điều nữa trong chương trình. Nhưng bởi nửa vùng Hy Mã Lạp Sơn tràn ngập những vị hộ trì truyền thống này nên tôi cảm thấy an tâm là giáo huấn (Con Đường và Quả) này có thể vắng mặt trong các chương trình nhập thất.

Hiện nay, trong một thời gian nào đó, chương trình của trung tâm nhập thất rộng lớn đã tập trung vào các thiền định thuộc giai đoạn phát triển và thành tựu sâu xa và rộng lớn của Dòng Giáo huấn Khẩu truyền của Đạo sư Marpa, và thực hành Cắt đứt. Tôi đã lập ra tục lệ bổ túc chương trình này bằng các thực hành làm thuần thục và giải thoát của Dòng Giáo huấn Làm An dịu Đau khổ. Ở đây trong trung tâm nhập thất này, chúng tôi duy trì các truyền thống của toàn bộ giáo khóa thiền định từ Dòng Giáo huấn Shangpa; Sáu Nhánh Ứng dụng của Dòng Giáo huấn Kim Cương Du già (được bổ túc bằng giáo huấn trong) Thực hành Miên mật của Dòng Giáo huấn Ba Kim Cương; và Đại Viên Mãn [Dzok Chen, rdzogs chen], cốt tủy sâu xa của Dòng Giáo huấn Cổ truyền, cùng với bí mật sâu xa của nó, các thực hành Tâm Yếu. Trong cả hai trung tâm nhập thất, cẩm nang được gọi là Các Giai đoạn của Con Đường cho Ba Loại Người tạo thành nền tảng cho các thực hành chuẩn bị. Như vậy, giữa hai trung tâm này, bảy hay tám hệ thống thực hành thiền định được trình bày đầy đủ. (Danh mục, trang 94b-97b).

    CHÚ THÍCH:
(1) Trang 89-91 của Journey Without Goal (Hành trình Không Mục đích - Boston: Shambhala, 1981) của Chögyam Trungpa Rinpoche là sự quan tâm đặc biệt liên quan đến Kongtrul và phong trào không-bộ phái.

(2) Tám dòng thực hành (drub gyu shing ta gyay, sgrub brgyud shing rta brgyad) theo nghĩa đen là tám cỗ xe hay tám thừa của các dòng thực hành. Bản liệt kê được đưa ra ở đây do Kongtrul cung cấp trong Tự điển Bách khoa Phật giáo và những tác phẩm khác. Các bản liệt kê của những vị Thầy khác có thể khác biệt đôi chút.

(3) Bốn suy niệm chuyển hóa tâm thành đời sống tâm linh là suy niệm về sự vô cùng may mắn mà ta có khi được sinh làm người có đầy đủ sự tự do và thuận lợi, về lẽ vô thường và sự không thể tránh khỏi của cái chết, về những hậu quả của các hành động của ta, và về sự bất lợi của việc sống trong những trói buộc của những điều được gọi là "hiện hữu luân hồi", thị kiến Phật giáo về thế giới như một trận quyết đấu lớn lao.

(4) Zurmang (zur mang, "Nhiều Góc") là một tổ chức tu viện ở miền Đông Tây Tạng. Dòng hóa thân của vị sáng lập tổ chức đó, các Trungpa Rinpochay, là các bậc lão luyện trong các thực hành Cắt đứt và Làm An dịu Đau khổ.

(5) Tu viện Palpung (dpal spungs, "Đồi Vinh quang"), trụ xứ chính của dòng hóa thân Tai Situpa, được Tai Situpa thứ tám, Chökyi Jungnay, thành lập vào cuối thế kỷ mười tám. Ở đó có một trung tâm nhập thất ba năm; Kongtrul gọi nó là trung tâm nhập thất lớn. Trung tâm nhập thất riêng của Kongtrul cách trung tâm này một quãng ngắn. Palpung ở gần thành phố Dergay trong vùng Kham, ngày nay là một phần của Tỉnh Sichuan (Tứ Xuyên), Trung quốc. Nó tiếp tục đóng vai trò của một tổ chức tu viện.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 26/05/15 03:12

    CUỘC ĐỜI CỦA KONGTRUL VÀ QUAN ĐIỂM KHÔNG - BỘ PHÁI
Kongtrul nổi danh là một trong những Đạo sư lỗi lạc của quan điểm không-bộ phái; tuy nhiên ngài nói rõ trong tiểu sử của ngài rằng ngài sẽ không có được cái nhìn này nếu trước tiên ngài không kinh nghiệm một cách nhìn hạn cục thật đáng tiếc.

Kongtrul sinh trong một gia đình không theo Phật Giáo: cha mẹ ngài là tín đồ của đạo Bön. Mặc dù ngay từ khi còn bé, Kongtrul đã cảm thấy một mối quan hệ mạnh mẽ với các Đạo sư Phật Giáo đến nỗi bị những người bạn theo đạo Bön chọc ghẹo là "thầy tu Phật giáo", ngài đã được dạy dỗ trong truyền thống của đạo Bön trong thời thơ ấu. Đây là lần đầu nhưng không phải là lần cuối cùng Kongtrul đã để cho những cảm xúc riêng tư của mình bị áp đảo bởi những người có tính quyết đoán hơn ở quanh ngài (trong trường hợp này là cha dượng của ngài). Như ngài nhận xét:

    Khoảng thời gian này (khoảng mười tuổi), tôi cảm thấy hết sức ngưỡng mộ những người được cho là đã chứng ngộ bản tánh của tâm. Giống như một người khát thèm nước, tôi khao khát được gặp một Đạo sư có thể ban cho tôi giáo huấn liên quan đến tâm, nhưng tôi còn quá trẻ và yếu đuối. Cha mẹ tôi không giúp tôi tìm kiếm một vị Thầy, vì thế tôi đã từ bỏ ý tưởng này.

    Nói chung, cha tôi rất nghiêm khắc. Khi tôi học đọc và viết, tham dự một buổi lễ, hay trong những dịp khác, ông đánh tôi dữ dội nếu tôi xử sự còn trẻ con, bởi thế tôi không thể làm điều gì trừ việc cư xử cho phải phép. Thậm chí tôi không thể đi ra ngoài nếu không xin phép ông trước. Ông kể lại nhiều tấm gương của những người đánh nhau, ăn uống quá độ, ăn cắp, nói dối v.v.. và cuối cùng bị loại trừ khỏi xã hội và ông bảo chúng tôi: "Lũ trẻ các con sẽ trở nên giống như họ!" Ông luôn luôn là một người độc đoán và lúc đó tôi đau khổ, buồn bã và tuyệt vọng. Khi nhớ lại về thời thơ ấu, tôi cho rằng nhờ thiện tâm của người cha đáng kính của tôi nên tôi mới có thể bước chân vào xã hội con người. Ông vô cùng tử tế với tôi và tôi nghĩ ngày nay thật khó tìm được một người trung thực và tận tâm như thế. (Autobiography - Tự truyện - trang 9b-10a).
Kongtrul giảng nghĩa bản tánh dễ thương nhưng dễ bị tác động của ngài như sau:

    Ngay từ khi còn rất nhỏ tôi đã có tánh e thẹn và hiền lành. Bất cứ ai yêu cầu tôi làm điều gì đó, tôi cũng chú tâm đến những ước muốn của họ cho dù tôi có khả năng làm điều họ yêu cầu hay không. Vì thế, mọi người trong bất kỳ địa vị xã hội nào cũng đều cảm kích và đối xử tử tế với tôi. (Sách đã dẫn, trang 12b).
Người cha nghiêm khắc và độc đoán của Kongtrul bị tống giam vì dính dáng đến một cuộc tranh luận ở địa phương khi Kongtrul đang tuổi thiếu niên. Ngài rời khỏi nhà với sự khuyến khích của mẹ và cuối cùng một tu sĩ Phật giáo, người trở thành cố vấn và có lẽ là một người lãnh đạo của ngài, đã mướn ngài làm thư ký. Nhờ vị Thầy này ngài gặp một Lạt ma của một tu viện Phật giáo:

    Jikmay Losal, một Lạt ma ở Shaychen (một tu viện Nyingma) đến và yêu cầu tôi thuật lại những câu chuyện về đạo Bön. Vị Lạt ma nói tôi có một tâm thức trong trẻo và có biện tài. Vị Thầy cố vấn của tôi nhận xét rằng tôi thông minh và thầy cho rằng tôi nên học các khoa nghệ thuật và nghiên cứu Phật giáo. Thầy hỏi Lạt ma điều gì là tốt nhất cho tương lai của tôi và vì thế đã đi đến quyết định là tôi nên ở với Öntrul Rinpoche của Tu viện Shaychen. (Sách đã dẫn, trang 13a).
Cuộc gặp gỡ này đã đánh dấu việc Kongtrul đi vào Phật Giáo. Năm mười sáu tuổi, ngài đi cùng với Lạt ma đến tu viện và gia nhập tu viện năm 1829. Ngài có thể tiếp tục cuộc sống ở đó thật hạnh phúc nhưng bởi vị Thầy cố vấn của ngài quá tham vọng đối với Kongtrul và nằng nặc yêu cầu ngài phải rời Shaychen để đến Palpung, một tổ chức tu viện Kagyu. Cuộc di chuyển này vào năm 1833 khi Kongtrul hai mươi tuổi nhanh chóng dẫn đến kinh nghiệm tiêu cực đầu tiên của Kongtrul về các tổ chức tôn giáo, bởi ngài đã bị ép buộc phải thọ lại giới nguyện tu sĩ:

    Thầy cố vấn nói với tôi rằng khi vị nương tựa và bảo hộ của chúng tôi (Tai Situpa, Payma Nyingjay Wangpo) đến, điều hết sức quan trọng là tôi phải khẩn cầu được thọ Cụ túc giới. Cùng với lời khuyên này, thầy cho tôi mọi vật phẩm cần thiết của một tu sĩ. Tôi giải thích với thầy là tôi đã thọ giới tại Shaychen. Thầy rầy la tôi bằng những lời lẽ nặng nề và nói rằng tôi phải thọ giới nguyện tu sĩ từ đấng chiến thắng và những vị thừa kế tâm linh của ngài (ám chỉ Karmapa và các Đạo sư hóa thân chính yếu của truyền thống này). (Sách đã dẫn, trang 18a).
Khi vấn đề lại được đặt ra, Kongtrul cố gắng một lần nữa để tác động đến tình huống, với những kết quả có thể tiên đoán được:

    Thầy cố vấn lại bảo rằng tôi phải thọ Cụ túc giới. Tôi thuật lại cách thức tôi đã thọ những giới nguyện này tại Tu viện Shaychen từ Öntrul Rinpochay và những giáo huấn của Lạt ma này dành cho tôi, tuy nhiên thầy đã trả lời: "Con bắt buộc phải nhận những giới nguyện ở đây. Nếu ngài Öntrul nghe nói con đã hoàn trả những giới nguyện trước đây thì như thế cũng đủ rồi". Vì thế tôi không bao giờ chính thức hoàn trả những giới nguyện của tôi. Sau đó, bởi các ngài ban một vài điều quan trọng ở đây cho những bằng hữu tâm linh nên tôi không có sự chọn lựa nào khác ngoài việc gia nhập hàng ngũ (các tu sĩ tương lai) khi có một vài hóa thân quan trọng cùng nhận giới nguyện. Vào lúc thọ giới, tôi quá bận tâm với những tư tưởng về các giới nguyện trước đây đến nỗi tôi không bao giờ có cảm tưởng là mình đã thực sự thọ các giới nguyện mới. (Sách đã dẫn, trang 18b-19a).
Tuy nhiên điều tệ hại đã xảy ra: để có thể ở lại tu viện, Kongtrul được "thừa nhận" là một hóa thân của một Đạo sư của tu viện này trong quá khứ. Theo Tiến sĩ Gene Smith trong dẫn nhập tuyệt hảo cho ấn bản Tây Tạng Tự điển Bách khoa Phật Giáo của Kongtrul, một tu viện có thể được yêu cầu gởi bất kỳ ai trong các tu sĩ có nhiều triển vọng của họ vào lúc nào đó để phục vụ trong tổ chức tu viện hay chính trị khác cao cấp hơn. Có một ngoại lệ là các Đạo sư hóa thân của tu viện thì được miễn việc tập trung như thế. Palpung đã sử dụng chỗ sơ hở đó để bảo vệ Kongtrul thoát khỏi những kẻ quan liêu săn người ở Dergay, thủ phủ hành chính của quận. Những thủ đoạn chính trị này được thầy cố vấn của Kongtrul xúi dục:

    Thầy rất yêu mến tôi và rất hy vọng ở sự nghiệp của tôi. Vì thầy sợ tôi bị lạc vào tổ chức khác nên thầy nói với Pháp Vương của sự quy y (Tai Situpa) rằng bởi tôi có thể thình lình được lệnh phải rời tu viện do những hoàn cảnh không thể tránh khỏi, như bị mời làm thư ký cho ban quản trị Dergay, điều cần yếu là tôi phải được ban danh hiệu của một trong những Đạo sư hóa thân của tu viện. Bởi điều này được cho là thích đáng, tôi được ban cho danh hiệu của một Lạt ma hóa thân từng là đệ tử của Tai Situpa quá cố. Tuy nhiên, Pawo Tsuklak Gawa và Kardruk Rinpochay tích cực phản đối, tranh cãi rằng nếu tôi được ban các danh hiệu của bất kỳ vị nào trong ba Đạo sư trước đây – Alo Kunkyen, Tsewang Kunkyab hay Tamdrin Gonpo – và nếu tôi được tu viện khẳng định trên căn bản đó, điều này là sai lầm dù có bào chữa thế nào chăng nữa và sẽ gây ra những vấn đề lớn hơn sau này. Mặc dù sự phản kháng này,... người ta quyết định rằng nếu tôi được ban cho danh hiệu hóa thân của Kongpo Vamteng Trulku, một thị giả và đệ tử của Tai Situpa cuối cùng trong thời niên thiếu của đời ngài, điều đó sẽ tạo nên một nối kết tốt lành với vị Đạo sư này. Tin tức được loan báo trong nội bộ rằng tôi là hóa thân này vì thế từ giờ trở đi tôi được gọi là "Kongtrul" (những âm đầu và thứ hai cho tới âm cuối cùng của danh hiệu). (Sách đã dẫn, trang 19a-b).
Những thủ tục như thế hẳn là một sự thức tỉnh khiếm nhã và làm nản lòng đối với Kongtrul. Mặc dù ngài nổi danh là "Kongtrul", ngài không hề sử dụng danh hiệu đó trong bất kỳ tác phẩm nào của ngài. Trong cẩm nang nhập thất của ngài, ngài nhắc đến bản thân ngài là "Jamgon Lama", và ký tên đó khi sử dụng một trong bốn danh hiệu khác ngài thường dùng để nhận mình là một tác giả. "Kongtrul" không phải là một danh hiệu trong số này.

Chẳng bao lâu vị tu sĩ rụt rè và hiền lành nhận thấy những thái độ của mình bị định hình bởi các thành kiến bè phái phổ biến trong tu viện mới của ngài. Ngài đưa ra một phác họa ngắn gọn về điều này trong quyển tự truyện. Đó là năm 1836, ngài hai mươi ba tuổi:

    Có lần tôi đi lên đỉnh một ngọn núi, sau đó nhận ra rằng tôi đang mơ. Tiếp tục giấc mơ, tôi ước muốn đi đến cõi thuần tịnh của Guru Rinpochay, Đảo Tail-Fan, và sau đó bay qua không trung. Phía sau nhiều ngọn núi tạo thành một vòng tròn giống như những ngọn núi sắt ở bên rìa thế giới, tôi thấy một ngọn núi giống như viên ngọc màu đỏ tía chỉ nhìn thấy một nửa. Chỗ thắt lại của nó có thể thấy được một phần nhưng đỉnh thì bị mây bao phủ. Khi tiếp tục đến gần tôi nghĩ rằng mình nên cầu nguyện. Vào lúc đó, tôi cảm thấy như thể có một lượng nước khủng khiếp đổ xuống phía trên tôi và tôi quên là mình đang mơ. Tôi hoảng sợ và tỉnh dậy.

    Vào lúc đó lòng kính ngưỡng của tôi đối với Dòng Giáo huấn Cổ truyền hơi lơi lỏng và suy giảm bởi tôi cảm thấy "tôi thuộc về Dòng Giáo huấn Khẩu truyền". Tôi tin chắc rằng các nghiệp chướng của tôi là do bởi thái độ này và về sau do ân hận nên tôi đã sám hối lỗi lầm này. (Sách đã dẫn, trang 23b).
Trong quyển sách khác Kongtrul đưa ra một tường thuật dài và chi tiết hơn về chứng bệnh tâm linh và thể xác của ngài mà ngài cho là do thành kiến bộ phái và về việc hàn gắn dần dần mối quan hệ của ngài với các bản văn kho tàng. Tường thuật lên đến cực điểm với việc ngài được chính thức xác nhận là một vị khám phá những bản văn kho tàng được ẩn dấu:

    Năm mười lăm tuổi, tôi gặp Guru Rinpoche trong một giấc mộng và nhận sự gia hộ của Ngài. Sau đó, tôi nghĩ đến việc biên soạn nhiều quyển sách, trong đó có những bản văn thực hành. Đặc biệt là khi đang sống trong Tu viện Shaychen, tôi đã biên soạn các nghi lễ làm nguôi dịu Thiên nữ Vinh quang (Lhamo Palchenmo, lha mo dpal chen mo và các bản văn khác... Sau khi hoàn tất các bản văn này, tôi soạn một bản văn thực hành cho Vajra Hammer (Búa Kim cương - Dorjay Bay-chon, rdo rje be con)... (và các bản văn khác liên quan đến quỷ ma và các vị bảo hộ). Tôi cho Öntrul Rinpochay xem các bản văn này(6). Cái nhìn thiêng liêng của ngài vô cùng rộng rãi: ngài tán thán công trình của tôi. Ngài khẩn cầu việc truyền đọc (khẩu truyền) bản văn đó, thực hành các bản văn trong một thời gian ngắn và đã nhìn thấy những dấu hiệu rõ ràng về kết quả tốt lành của chúng. Ngài bình luận rằng việc Thiên nữ Vinh quang nguôi dịu sẽ làm giảm bớt bệnh tật của con người cũng như thú vật của họ trong hiện tại, trong khi thực hành Búa Kim cương thì rất hữu hiệu để làm suy giảm tác dụng che chướng do các cam kết Mật thừa bị vi phạm trong thời đại suy hoại này.

    Trong thời kỳ này của đời tôi, tôi đã nỗ lực để đẩy mạnh việc nghiên cứu và tinh tấn tu tập tới độ vứt bỏ mọi chuyện khác. Bởi thực hành thiền định là phương diện quan trọng nhất của việc tu tập này, tất cả thời giờ của tôi được dùng vào việc thiền định. Tôi thấy rất rõ một nơi cất dấu các bản văn kho tàng trong vùng đó; tuy nhiên tôi không làm gì hết.

    Sau này tôi đi tới Tu viện Palpung, ở đó tôi nhận giới nguyện xuất gia. Có lần tôi đi qua cánh cửa dẫn tới các giáo huấn tâm linh của Dòng Giáo huấn Khẩu truyền cao quý, tôi đi đến chỗ chấp nhận lời khuyên dạy của các Đạo sư của dòng đó và các thiện tri thức của tôi thì có giá trị hơn tất cả những người nào khác. Kết quả là sự thiên vị và dính mắc của tôi đối với Phái Tân Dịch đã phát triển mạnh mẽ và tôi trải nghiệm điều gì đó giống như sự nhàm chán đối với các bản văn kho tàng hão huyền và những gì thuộc loại đó. Hơn nữa, một vài Lạt ma cao cấp đọc các bản văn tôi biên soạn trước đó đã công khai chỉ trích chúng. Sau đó tôi đốt tất cả những quyển sách của mình và soạn một bản văn ngắn về khát khao và các giới nguyện.

    Những sự kiện này đã làm cho những giấc mơ và những biểu hiện hiển nhiên của tôi mỗi lúc một rối loạn hơn và tôi bị một cơn sốt trầm trọng không có ở trong ba mươi loại được biết vào thời đó(7). Mỗi ngày tôi đều nghĩ là mình sắp chết. Một đêm trong thời gian đó tôi có một kinh nghiệm mà tôi không thể xác định được là thực hay mơ: tôi đã chết và gặp Đức Guru Rinpochay cùng vị phối ngẫu của ngài. Sau khi tôi nhận được lời đáp cho vài câu hỏi, các ngài ban cho tôi một mệnh lệnh mạnh mẽ là phải tái sinh một lần nữa và tôi thấy mình xuất hiện trong giường tôi. Kết quả là trong vài ngày sau đó có những lúc tôi đoan chắc rằng tôi đang ở trong thời kỳ giữa cái chết và sự tái sinh.

    Tôi bán toàn bộ của cải ít ỏi mà tôi có và làm những biểu tượng của thân, ngữ, và tâm Phật. Những biểu tượng chính yếu trong số này là mười ba bức tranh quán tưởng dành cho Thị kiến Tinh túy của Đạo sư Tâm linh (những thiền định xuất phát từ các bản văn kho tàng). Điều này làm cho sức khỏe của tôi dần dần khá hơn. Sau đó tôi nhập thất để thực hành thiền định. Mặc dù thể xác tôi yếu ớt do một chứng bệnh về khí lực bên trong, những kinh nghiệm và giấc mơ của tôi thật tốt.

    Vào thời điểm sức khỏe của tôi bị rối loạn nhất, Đạo sư tôn quý Jamyang Kyentsay Wangpo đã nhận xét (trong một lá thư?) từ Dzongsar rằng sự nguôi dịu của Thiên nữ Vinh quang được viết ra trước đây dường như là điều then chốt cho việc hồi phục của tôi. Hơn nữa, trong một giấc mơ, đệ tử trung thành của tôi là Karma Nyi Ö đã nói với tôi rằng tôi sẽ khó hồi phục nếu không cử hành nghi lễ làm nguôi dịu thiên nữ mà tôi đã biên soạn. Tuy nhiên, bản văn làm nguôi dịu đó đã vĩnh viễn biến mất. Một bản văn tên là Một Lễ Cúng dường cho Thiên nữ Tốt lành xuất hiện trong tâm tôi. Vào ngày tôi viết bản văn này, biểu hiện hết sức kiết tường là cầu vồng giống như chiếc lều hình tròn đã xuất hiện chói lọi trên bầu trời xanh thẳm. Sau khi tôi tụng bài nguyện cúng dường ít phút, sức khỏe của tôi dần dần tốt hơn.

    Sau này vị khám phá kho tàng Kundrol Sangwa Tsal (thường được gọi là Tsewang Drakpa) xuất hiện trong vùng lân cận. Bởi chúng tôi cùng quê hương, tôi tự hỏi không biết có nên đến gặp ngài không. Tôi khẩn cầu Jamyang Kyentsay Wangpo làm một tiên tri để giúp tôi quyết định. Ngài trả lời: "Vị khám phá kho tàng này chân chính nhưng bởi sự cuồng nhiệt thái quá của ngài, ngài chỉ có phẩm chất trung bình. Mặc dù điều đó, nếu ông gặp ngài, điều này sẽ hàn gắn sự nối kết đã bị tổn hại trước đây của ông với các bản văn kho tàng". Tuy nhiên tôi không thể gặp ngài vào lúc đó.

    Năm tôi ba mươi bảy tuổi là một thời điểm đặc biệt đầy những chướng ngại và tôi đã mắc phải vài chứng bệnh. Tôi đã thực hiện nhiều thực hành miên mật. Trong thời gian tôi đang tu tập thực hành miên mật về Thị kiến Tinh túy của Đạo sư Tâm linh thì tôi mơ thấy được gặp Guru Rinpochay. Với sự vô cùng tôn kính, tôi lễ lạy và khẩn cầu ngài gia hộ. Ngài đã ban sự gia trì cùng một vài thần chú và Pháp ngữ. Sau đó ngài nói: "Ta sẽ quét sạch những chướng ngại cho đời con trong năm nay. Trong ít năm kể từ bây giờ con sẽ thực sự gặp ta trong cuộc đời và vào lúc đó con có thể dần dần hiểu được những điều con cần biết". Sau này, năm bốn mươi tuổi, khi tôi gặp vị khám phá kho tàng vĩ đại Chok-gyur Daychen Lingpa lần đầu tiên, tôi có cảm tưởng như một đứa con được hợp nhất với cha nó(8).

    Từ lúc đó trở đi, vị khám phá kho tàng lừng danh và chân thực thật hiển nhiên này đã hướng dẫn cho tôi về nhiều phương diện dựa trên các bản văn kho tàng mà ngài đã tìm được trước và sau cuộc gặp gỡ của chúng tôi. Vào lúc ấy, mặc dù tôi đã bắt đầu công việc biên soạn Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá, có một nguyên nhân chính đáng để quan tâm về những trở ngại cho cuộc đời tôi. Ngài đã tiên tri rằng nếu những bữa tiệc kim cương cho một tập hội càng đông càng tốt được cúng dường không trì hoãn.., thì cuộc đời tôi sẽ đi đến những giới hạn của nó. Tôi đã làm điều này không chút do dự.

    Đặc biệt là vào lúc thánh địa tại Dzong Shö được khám phá, Jamyang Kyentsay Wangpo toàn trí, vị khám phá kho tàng vĩ đại Chok-gyur Daychen Lingpa, tôi và những người khác đã thực hiện thực hành vĩ đại của Tám Đại Bổn Tôn. Tại Chitta Sang Puk ("Hang động Tâm yếu Bí mật"), ngay sau khi chúng tôi chấm dứt thực hành, hai vị khám phá kho tàng đã làm được một Pháp tòa cao bằng đá và được phủ bằng một chiếc nệm. Các ngài tặng cho tôi những biểu tượng của thân, ngữ, và tâm Phật cũng như vật cúng dường tượng trưng của vũ trụ trong hình thức của viên ngọc nguyên sơ. Kế đó các ngài ban cho tôi danh hiệu Orgyen Chimay Tennyi Yungdrung Lingpa ("Ấn Kiên cố Bất tử của Hai Giáo lý") do Guru Rinpochay ban tặng. Các ngài nhấn mạnh rằng từ lúc đó trở đi tôi nên sử dụng danh hiệu và sửa chữa mối liên hệ bị tổn hại với những bản văn kho tàng sâu xa. Kế đó các ngài cử hành một buổi lễ để tăng trưởng sự trường thọ của tôi. (Cam lồ Xuất hiện trong một Ảo ảnh, trang 32b-34b).
Tường thuật này kể lại việc Kongtrul đi nghịch lại cảm xúc của chính mình và việc ngài dần dần quay về mái nhà của đời sống tâm linh của riêng ngài. Ngài đã học tập bằng những kinh nghiệm gian khổ để liên tục mở rộng những chân trời của ngài mà không loại bỏ những gì đã từng quan trọng đối với ngài trong quá khứ. Câu chuyện này không phải là một chuyện kể về việc Kongtrul từ bỏ Dòng Giáo huấn Khẩu truyền để theo dòng khác. Ngài thường viết về bản thân ngài như một thành viên của dòng truyền thừa đó và luôn luôn coi Đạo sư tâm linh chính yếu của ngài là Tai Situpa, Payma Nyinjay Wangpo, vị lãnh đạo Tu viện Palpung và một Đạo sư hóa thân của Dòng Kagyu của các vị Karmapa.

Theo Kongtrul, hậu quả trầm trọng nhất của sự thành kiến bộ phái là nó tạo nên hành vi hết sức tiêu cực của việc bác bỏ giáo lý của Đức Phật. Mặc dù mỗi Phật tử phải quyết định xem các phương pháp phát triển tâm linh nào là có ý nghĩa cho bản thân mình trong đại dương giáo lý được Đức Phật ban cho, việc bác bỏ hay xem thường những chọn lựa riêng tư hết sức khác biệt từ cùng một giáo lý của những Phật tử khác thì đồng nghĩa với việc bác bỏ lời Phật dạy. Kongtrul hết sạch những dấu vết cuối cùng của thành kiến bộ phái của ngài vào năm bốn mươi tuổi (1853) như kết quả của việc ngài tiếp xúc với Jamyang Kyentsay Wangpo, một Đạo sư hóa thân của hệ thống tu viện Sakya, là vị Thầy mà cái nhìn không bộ phái rộng rãi đã có một ảnh hưởng sâu xa đến Kongtrul. Sau khi cung cấp một liệt kê dài những quán đảnh mà ngài đã nhận từ Kyentsay vào thời gian đó, ngài bình luận như sau:

    Ngày nay, các Lạt ma, học giả, và các tu sĩ nổi tiếng chỉ đánh giá cao truyền thống thực hành của riêng họ và một ít bản văn gốc Phật giáo căn bản. Cái nhìn thiêng liêng của họ đối với sự toàn vẹn của Phật pháp bị giới hạn và quan điểm của họ hết sức hạn hẹp. Những người thuộc mọi tầng lớp thường thiếu sự hiểu biết và kinh nghiệm về giáo lý của Đức Phật.

    Đặc biệt là mới đây, những người thiếu sự trung thực và một cái nhìn thuần tịnh đối với Phật giáo hành xử như thể họ có một vài quyền lực. Họ bày tỏ nhiều điều liên quan đến phẩm tính của các truyền thống tâm linh và sự thanh tịnh của các dòng truyền thừa. Hơn nữa, ngoài việc không quan tâm đến những dòng giáo huấn khác, họ có sự đối kháng vô cùng mạnh mẽ hay tránh né việc thực hành một cách vô lý, ngay cả trong truyền thống của riêng họ. Họ tràn đầy hoài nghi như một con yak mù chạy trốn những nỗi sợ hãi do chính nó tưởng tượng ra.

    Đối với bản thân tôi, tôi chân thành ước muốn thực hành các giáo huấn để phát triển tâm linh; tuy nhiên bởi tôi không bao giờ đạt được sức mạnh tinh thần đến từ cam kết kiên cố, ý chí của tôi yếu ớt và tôi không thành tựu các ước muốn của mình. Tuy nhiên, từ bây giờ trở về sau, đóa hoa đức tin vô phân biệt đối với tất cả các giáo lý và Đạo sư của Phật pháp đã dần dần nở rộ trong tôi ở muôn phương. Hơn nữa, kinh nghiệm của tôi trong việc thực hành các giáo lý đã trở nên càng lúc càng tốt đẹp hơn. Như vậy sự kiện tôi tránh không phạm vào việc bác bỏ giáo lý của Đức Phật - một hành vi vô cùng nghiêm trọng - chính là nhờ thiện tâm của vị Đạo sư tôn quý này. (Tự truyện, trang 66b-67a).
    CHÚ THÍCH:
(6) Có hai vị Öntrul Rinpochay trong đời Kongtrul. Đây là lần đề cập cuối cùng tới vị thứ nhất, một Đạo sư của Tu viện Shaychen. Tất cả những lần đề cập sau này về Öntrul Rinpochay ám chỉ một Đạo sư cư trú ở Tu viện Palpung.

(7) Trong bản văn viết là bro nad; có vẻ là một lỗi in của từ dro nad, cơn sốt.

(8) Văn cảnh của phát biểu này và sự khiêm tốn tự nhiên của Kongtrul làm tôi tin rằng trong trường hợp này ngài cảm thấy bản thân ngài là đứa con, và Chokling là người cha. Một người quan sát cuộc gặp gỡ này giữa một người bốn mươi (Kongtrul) và một thanh niên hai mươi bốn tuổi (Chokling) có thể dễ dàng hiểu sự việc theo cách khác.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 26/05/15 19:31

    SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG TÂM NHẬP THẤT CỦA KONGTRUL
Lúc đầu Kongtrul không có ý định trở thành nhà sáng lập của một trung tâm nhập thất; ngài chỉ muốn thực hành thiền định. Trước tiên, năm hai mươi hai tuổi, ngài dự một khóa nhập thất dài hạn. Ngài bắt đầu khóa nhập thất ba năm, sáu tuần của Tu viện Palpung trong tháng mười âm lịch năm 1835. Tuy nhiên ngài không thể nhập thất trọn thời gian:

    (Cuối năm 1836), Karmapa thứ mười bốn Tekchok Dorjay đến miền này và gởi một lá thư cho bậc thủ hộ của sự quy y (Tai Situpa), yêu cầu phái tôi đến dạy văn phạm Phạn ngữ cho ngài. Tai Situpa nói rằng tôi không thể không đi, vì thế tôi đã rời khóa nhập thất. (Tự truyện, trang 25b-26a).
Trước khi Kongtrul đi tới trụ xứ của Karmapa, Tai Situpa ban cho ngài một số giáo huấn trong đó có một giáo huấn mà sau này Kongtrul đã nhận ra là tiên tri việc ngài trở thành vị hộ trì chính yếu của Dòng Giáo huấn Khẩu truyền của các vị Karmapa:

    Ngài giảng rằng giáo huấn độc nhất vô nhị này bao gồm yếu nghĩa của hàng trăm và hàng ngàn giáo huấn do Guru Rinpochay giảng dạy liên quan đến bản tánh của tâm. Trong quá khứ đấng tôn quý Tai Situpa thứ tám Chökyi Jungnay đã ban nó cho đấng chiến thắng đầy uy lực Düdul Dorjay, như một giáo huấn chỉ thẳng bản tánh của tâm, và sau đó phó chúc dòng truyền thừa của ngài cho vị này. Vị Đạo sư này, Karmapa thứ mười ba tôn quý, tiếp tục ban giáo huấn trực chỉ này và sau đó phó chúc dòng truyền thừa cho ngài (Tai Situpa thứ chín Payma Nyinjay Wangpo). Dường như có một lý do (khiến ngài ban cho tôi giáo huấn này). (Tự truyện, trang 26a).
Sáu năm sau, ở tuổi hai mươi chín, cuối cùng Kongtrul quyết định rời tu viện để nhận một trụ xứ cô tịch tại một địa điểm nhập thất bị bỏ quên. Mặc dù ngài không nhắc đến cái chết của Thầy cố vấn của ngài vào đầu năm đó (1842) đối với quyết định rời Palpung của ngài nhưng dường như có một sự tương quan nào đó. Tất cả những gì ngài cần vào lúc này để có thể nhập thất là được phép của Payma Nyinjay Wangpo, Đạo sư của ngài:

    Tôi đã xin bậc thủ hộ của sự quy y cho phép tôi sống ở nơi nhập thất (của Tai Situpa đời trước) và thỉnh thoảng ở lại trong ẩn thất ở đó. Lúc đầu có vẻ là ngài khó có thể đồng ý; cuối cùng ngài hứa là tôi có thể ở đó trong ba năm.

    Sau đó tôi vứt bỏ mọi của cải lớn hay nhỏ mà tôi có được, đổi chúng thành vật liệu cần thiết để làm những biểu tượng của thân tướng giác ngộ - mười một bức tranh Thị kiến Tinh túy của Đạo sư Tâm linh lớn và đẹp, kể cả những vị bảo vệ giáo lý đó; các biểu tượng của ngữ giác ngộ - một quyển sách Sự Toàn thiện của Trí tuệ trong Tám Ngàn Dòng được viết bằng vàng; và những biểu tượng của tâm giác ngộ - một trăm ngàn tsatsa (những kiểu mẫu bảo tháp nhỏ).

    Dường như trong thời đại của Chökyi Jungnay một trung tâm nhập thất và tu viện thực hành đã tồn tại ở địa điểm ẩn thất của tôi. Tuy nhiên, về sau nơi này trở thành vô chủ và bị bỏ phế sau khi Öntrul Wanggi Dorjay thành lập trung tâm nhập thất thấp hơn ở Palpung. Giờ đây không còn sót lại điều gì ngoại trừ những khu nhà hư nát, vì thế một hôm vào cuối thu tôi đi khảo sát và cúng dường khói thơm cho các vị trời. Vào lúc đó không có con đường riêng dẫn đến địa điểm nhưng khi tôi đến phía sau trung tâm nhập thất (thấp), một con chim kên kên bay lên ở đó và tôi đi theo hướng của nó... Nó quay về hướng đông và bay vút lên: tôi nhìn bao quát theo hướng đó và thấy địa điểm nhập thất. Khi lên đến đó, tôi đã cử hành lễ cúng dường khói thơm; những dấu hiệu và điềm báo tốt lành cho tương lai đã xuất hiện. Về sau hai tu sĩ ở nơi khác nhận thức sâu sắc điều tôi đang làm đã giúp tôi xây dựng một công trình giống như một ngôi nhà nhỏ trong đống đổ nát của nơi từng là trụ xứ của các Lạt ma lãnh đạo. (Tự truyện, trang 41a-b).
Chuẩn bị cuối cùng của Kongtrul cho ẩn thất là khẩn cầu Đạo sư của ngài ban quán đảnh cho thiền định mà ngài sắp làm. Đồng thời ẩn thất của ngài được ban danh hiệu, nhờ đó nó trở nên nổi danh:

    Tôi đã nhận quán đảnh Tích tập các Châu báu nhiều lần nhưng tôi muốn nhận lãnh dòng truyền thừa đặc biệt của các vị Tai Situpa vì thế tôi đã khẩn cầu và thọ nhận quán đảnh từ bậc thủ hộ tôn quý của sự quy y. Vào lúc đó ngài đặt tên cho ẩn thất là "Trụ xứ Phổ Hiền của Đại Lạc Chói lọi" (Kunzang Daychen Ösel Ling). Khi đến ẩn thất tôi chẳng sở hữu điều gì ngoại trừ những bộ quần áo rách rưới, một phần tư bánh trà, và năm phần lúa mạch và sữa chua; tuy nhiên, vào ngày mười lăm của tháng Đức Phật từ các cõi trời trở về (sau khi giảng dạy cho thân mẫu của Ngài ở đó, có nghĩa là tháng chín âm lịch năm 1842), tôi bắt đầu nhập thất. (Tự truyện, trang 44a).
Lần này Kongtrul có thể an trụ trong thất và sống độc lập. Ngài đã chấm dứt ba năm trong thất như đã dự định nhưng không trở lại tu viện sau thời gian đó: ẩn thất nhỏ bé mà ngài xây dựng đã trở thành trụ xứ của ngài. Hai mươi năm sau, ngài nhìn lại:

    Ngay khi tôi đã nhận quán đảnh và sự truyền đọc từ bậc thủ hộ của sự quy y, trước hết tôi trải qua ba năm để thiền định về toàn bộ phạm vi các thực hành chuẩn bị và chính yếu của Tích tập các Châu báu. Tiếp theo việc này, tôi đã thực hiện những thực hành khác nhau từ Các Kho tàng Mới và Cũ của Dòng Giáo huấn Cổ truyền, chẳng hạn như Bí Mật Cốt tủy (thiền định về Đạo sư tâm linh), Thị kiến Tinh túy của Đạo sư Tâm linh, và Tập hội các Đấng Hỉ lạc của Tám Bổn Tôn Vĩ đại; và những thực hành từ các tantra cao và thấp của Tân Dịch; chẳng hạn như Cực Lạc Luân (Chakrasamvara), Hỉ Kim Cương (Hevajra), và Đại dương các Đấng Chiến Thắng (Gyalwa Gyatso, rgyal ba rgya mtsho). Tôi đã thực hiện thực hành miên mật của mỗi tantra này, cùng với thiền định thuộc giai đoạn thành tựu tương ứng. Đặc biệt là khi nghỉ ngơi trong bản tánh của tâm, cốt lõi của thiền định Đại Ấn (Mahamudra), tôi đã vay mượn từ các tác phẩm của những vị khác để biên soạn bất kỳ luận thuyết nào thích hợp(9).

    Đã hai mươi mốt năm từ khi tôi đến đây. Trong thời gian này, mọi bệnh tật họa hại tôi trải nghiệm do hậu quả của những hành vi tiêu cực trong quá khứ của tôi phát khởi hay bởi hậu quả tối ám của việc tiếp xúc với những người vi phạm các cam kết Mật thừa v.v... đã hoàn toàn được chữa lành nhờ lòng bi mẫn của Đạo sư tâm linh và Tam Bảo. Ngoài bệnh tật, không có bất hạnh nào xảy ra; trái lại, khía cạnh tích cực trong việc thực hành của tôi đã tăng trưởng.

    Đặc biệt là tôi đã cảm thấy lòng kính ngưỡng đối với Guru Rinpochay từ thời thơ ấu và niềm tin đối với các thực hành đó là những gì bao gồm tinh túy của một triệu thiền định mà ngài đã giảng dạy. Thực hành tinh tấn của tôi về các thiền định này đã mang lại những dấu hiệu đáng tin và cụ thể: Đấng toàn trí Dorjay Ziji Tsal (Jamyang Kyentse Wangpo), là Vimalamitra xuất hiện trong thân tướng của một thiện tri thức, và Orgyen Chok-gyur Daychen Lingpa, đại diện của Đạo sư vĩ đại xứ Oddiyana, sứ giả của ngài hiện thân cho hòa bình thế giới, đã cùng thường xuyên đến nơi này, trong quá khứ và mới đây, để khai mở kho tàng bí mật của một đại dương các giáo lý Mật thừa. Các ngài đã ban cho tôi nhiều chất liệu được hiến cúng và những vật vô cùng linh thiêng như các pho tượng, giấy da vàng (của các bản văn kho tàng), v.v... và các ngài đã tạo ra vô số những nối kết tốt lành tích cực. (Danh mục, trang 11a-b).
Từ tường thuật của ngài, dường như Kongtrul đảm đương trụ xứ trong một trung tâm nhập thất bị bỏ phế là bởi nó đã được thành lập bởi Chökyi Jungnay, một trong những Đạo sư mang lại cảm hứng cho ngài. Khi thời gian trôi qua, ngài bắt đầu hoài nghi và nhận những chỉ dẫn từ những người khác rằng địa điểm thì còn quan trọng hơn là ngài tưởng.

Khắp Ấn Độ và vùng Hy mã lạp sơn có những vùng thánh địa, những nơi được các Đạo sư vĩ đại trong quá khứ hiến cúng cho việc thiền định. Một số vùng đó rất nổi tiếng: chẳng hạn như những nơi được Guru Rinpochay gia hộ và những nơi Đức Milarepa đã thiền định. Những địa điểm khác được Guru Rinpochay hiến cúng và để lại một kho tàng được cất dấu sẽ được khám phá khi vùng đất trở nên vô cùng lợi lạc cho thế giới. Kongtrul thấy mình ở một nơi như thế: nó hoàn toàn có thể sử dụng được và mọi người có thể nhìn thấy nhưng không ai biết là nó có một ý nghĩa đặc biệt. Chính Kyentsay là người đầu tiên xác nhận cho trực giác của Kongtrul về trụ xứ của ngài và Chokling đã chính thức công khai tuyên bố nó là một thánh địa:

    Năm 1856, Kyentsay tuyên bố rằng địa điểm tuyệt vời này là Devitroki thứ ba, một biểu lộ bên ngoài của con mắt trí tuệ ở tột đỉnh của kinh mạch trung ương. Tôi ngạc nhiên về lời tuyên bố này bởi không ai biết tên gọi đó (của địa điểm này). Sau này tôi hỏi ngài vì sao ngài nói thế. Ngài trả lời rằng vào lúc đó ngài có một kinh nghiệm thiền định trong trẻo, trong đó ngài nghe nhắc đến cái tên này trong một bài ca bí mật của các dakini trí tuệ(10). (Tự truyện, trang 82a).
Devikotri có nghĩa là "Cung điện Thiên nữ"; Devikotri thứ nhất ở Ấn Độ, Devikotri thứ hai ở miền trung Tây Tạng. Cả hai đều nổi danh là các thánh địa.

Sau này nhận xét của Kyentsay đã gợi ý cho Kongtrul về năm tháng để yêu cầu Chokling mô tả những đặc điểm của vùng đất trụ xứ của ngài. Chính sau sự kiện này mà Chokling bắt đầu gọi vùng đất là Tsadra Rinchen Drak, hiện nay là tên thông dụng nhất. Tsa là một phát âm sai trong tiếng Tây Tạng âm đầu tiên của từ Phạn ngữ Charitra ("Bốn nơi Nương tựa")(11) tên của một trong những vùng quan trọng nhất của thánh địa ở phía đông nam của miền Trung Tây Tạng. Dra (tiếng Tây Tạng) có nghĩa là "tương tự như" hay "giống như". Như thế tên Tsadra ngụ ý rằng miền ẩn thất của Kongtrul thì tương đương với Charitra về ảnh tưởng tâm linh. Rinchen Drak có nghĩa là "vách ngọc". Trong hai mươi lăm thánh địa ở miền đông Tây Tạng, nó tượng trưng cho cốt lõi của các phẩm tính giác ngộ.

Kongtrul mô tả các giai đoạn của việc tiết lộ thánh địa của Chokling và những sự kiện đã đưa Kongtrul đến việc chuyển hóa cuộc đời ngài từ một thiền giả và tác giả cô tịch trong một ẩn thất nhỏ xíu thành một nhà xây dựng và Đạo sư của một trung tâm thiền định:

    Tôi đã khẩn cầu Chokling biên soạn một bản chỉ dẫn những đặc điểm linh thánh trong vùng đất của quê hương tôi. Ngài trả lời rằng vùng đất là một trong hai mươi lăm thánh địa của miền Do-Kham: vì thế không cần phải soạn một hướng dẫn như thế bởi trước đây rất lâu nó đã được cất dấu như một kho tàng. (Tự truyện, trang 85b).
Năm 1857 khi Kongtrul bốn mươi tư tuổi, cố gắng đầu tiên của Chokling nhằm tiết lộ về vùng đất đã kết thúc trong sự thất bại:

    Ngài bắt đầu đi bộ, định giới thiệu với chúng tôi những đặc điểm của trung tâm của vùng đất; tuy nhiên vị bảo hộ của vùng đất, Nữ Bảo hộ Thần chú [Ekajati], xuất hiện thật rõ ràng trước ngài. Đối với những người khác thì ngài có vẻ ngất đi. (The Guide to the Sacred Ground of Tsadra Rinchen Drak - Cẩm nang Hướng dẫn đến Thánh Địa Tsadra Rinchen Drak, trang 15a).
Trong tường thuật khác về cùng sự kiện này, Kongtrul thuật lại rằng Chokling "ngất đi nhiều lần" bởi những thị kiến mãnh liệt về Nữ Bảo hộ Thần chú(12). Kongtrul tiếp tục tường thuật:

    Trong giấc mơ và những tư tưởng lan man của tôi, tôi tự hỏi địa điểm này có phải là một vùng thánh địa không. Cũng thế, khi tôi đang cử hành các buổi lễ cúng dường dành cho các thực hành của các tantra cũ và mới,
    chẳng hạn như Thị kiến Cốt tủy của Đạo sư Tâm linh, tôi không biết có nên xây một ngôi chùa nhỏ ở đây không bởi không gian sử dụng trong nhà tôi quá nhỏ. Tuy nhiên tôi hiểu rằng bất kỳ việc xây dựng nào được thực hiện vào lúc này cũng sẽ bị phí phạm sau thời gian tôi cư trú ở đây. Vì thế tôi đã chấp nhận lối sống đơn giản.

    Một thời gian sau, nơi nương tựa và bảo hộ của chúng tôi, Đức Phật Kim Cương Trì (Tai Situpa) nói: "Đấng tôn quý trước đây (Tai Situpa) đã rất bận tâm về địa điểm nhập thất này nhưng từ đó đến nay nó đã bị hư hỏng. Bây giờ thật là tốt nếu nó được tái thiết bằng việc xây dựng một ngôi chùa và một trung tâm nhập thất. Chắc hẳn dự án này sẽ được thực hiện thật sôi nổi!" Mặc dù ngài ra lệnh như vậy, tôi không làm được điều gì cụ thể để hoàn thành dự án đó bởi một trong những lý do là Đạo sư sắp viên tịch(13).

    Năm 1859 (khi hóa thân mới của Tai Situpa, Payma Kunzang, đã xuất hiện)... tôi nguyện rằng cho dù tôi có làm điều gì khác, tôi bảo đảm là sẽ xây dựng một ngôi chùa nhỏ tại địa điểm này. Đạo sư, vị khám phá kho tàng vĩ đại (Chok-gyur Daychen Lingpa), đã xuất hiện vào thời điểm đó... Ngài thốt ra những lời kim cương: "Nếu một ngôi chùa và trung tâm nhập thất được xây dựng tại mỗi một trong hai mươi lăm thánh địa vĩ đại ở DoKham (miền đông Tây Tạng), điều này sẽ làm yên dịu mọi điều rắc rối, đặc biệt là những cuộc chiến tranh biên giới, trong vùng Hy Mã Lạp Sơn nói chung và vùng Do-Kham nói riêng, và đặc biệt là ở riêng từng địa hạt. Những vùng thuộc thánh địa này là các địa điểm(14) năng lực làm an bình này. Một người xây dựng những tòa nhà này sẽ xuất hiện trong sự nối kết với mỗi một vùng thánh địa. Ở địa điểm này thì ông sẽ là người làm việc đó. Để bắt đầu, điều thiết yếu là ông thực hiện một pho tượng của Yangdak Heruka vinh quang. Vật liệu để tạo nên hình thể và những vật liệu đặt ở trong đó để hiến cúng có lẽ được cất dấu như những kho tàng trong vùng lân cận này". Mặc dù tôi không có của cải để tạo nên những tòa nhà vĩ đại, tôi nhận thức sâu sắc những hoàn cảnh đặc biệt và hứa sẽ làm đúng y theo lệnh của ngài.

    Cùng với Öntrul Rinpochay của Tu viện Palpung, một lần nữa tôi khẩn cầu ngài Chokling tiết lộ kho tàng của thánh địa này. Chúng tôi nhận được lá thư trả lời sau đây, có đóng dấu ấn riêng của ngài: Để đáp lại việc ông thỉnh cầu vùng thánh địa Tsadra Rinchen Drak tại Palpung được tiết lộ, tôi yêu cầu ông làm như được giải thích trong:

    Tiên tri của các Dakini về Ba Cội nguồn:

      Tsadra, thánh địa siêu phàm này, tâm giác ngộ,
      Được thiết lập giống như tám nan kinh mạch của trái tim.
      Khi ngôi chùa của heruka(15) vinh quang ở cổng phía đông được bắt đầu.
      Và điện thờ và pho tượng của vị bảo hộ địa phương đã hoàn tất,
      Thì thánh địa có thể được tiết lộ: hãy nhập tâm điều này!
    và trong Công bố các Tiên tri:

      Một ngôi chùa trong Thung lũng Uk(16)
      sẽ được xây dựng bởi hiện thân này.
      Là người sẽ đi đến Mi-go Tsek ở phía đông.
      Shakya và Lodru, các hiện thân của Bero,
      Sẽ xây dựng một ngôi chùa tại Tsadra, đồi ngọc;
      Một pho tượng của Heruka vinh quang
      Là pho tượng giải thoát nhờ thấy, nghe, nghĩ tưởng hay xúc chạm;
      Một ẩn thất cho ba tantra nội
      Nơi người tinh tấn sẽ bảo đảm đạt được giải thoát.
    và trong Sự Trao truyền Bí mật của các Dakini:

      Lửa chắc chắn sẽ làm tu viện bị hủy hoại:
      Hãy xây dựng ngôi chùa của heruka vinh quang ở phương bắc!
    Như có nói trong các bản văn, một người có tâm linh ưu việt sẽ xuất hiện tại trung tâm của mỗi một trong hai mươi lăm vùng thánh địa, những vùng đất thiêng liêng chính yếu của miền này. Nếu mỗi người trong những vị này xây dựng tu viện, sẽ không cần làm gì thêm để bảo đảm cho hạnh phúc của Tây Tạng và Kham.

    Trong trường hợp này, một ngôi chùa của heruka phải được xây dựng ở phía đông của thánh địa, tượng trưng cổng phía đông dẫn vào kinh mạch trí tuệ. Gốc của cây như ý là vật hỗ trợ cho Nữ Bảo hộ Thần chú. Trong sự nối kết với điều này, một điện thờ dành cho nữ bảo hộ này nên được thiết lập tại cổng phía đông. Bởi những chuẩn bị này cần thiết cho việc tiết lộ thực sự vùng đất thiêng, xin thảo luận với các huynh đệ tâm linh [của Tai Situpa], những người giữ kho tàng và những vị tổng thư ký quản lý tu viện để xem những điều này có thể thực hiện được hay không. Xin gởi cho tôi một phúc đáp rõ ràng về điều này.

    Ngài cũng tuyên bố rằng giấy da vàng (các bản văn kho tàng) và những tiên tri bí mật nói rõ ràng rằng trung tâm tu viện này (Palpung) đang có nguy cơ bị lửa hay kẻ thù tiêu hủy. Giải pháp để đối phó với điều này là xây dựng một ngôi chùa được hiến dâng cho đấng vinh quang vĩ đại (Yangdak Heruka) ở phía bắc của ngọn đồi. Nếu điều này được thực hiện, sẽ không có tai họa nào xảy đến cho Palpung. Ngài cảnh báo rằng lúc này nếu không tận dụng được hoàn cảnh tốt lành và nếu công việc bị chậm trễ thì sẽ chẳng ích lợi gì: ngôi chùa phải được hoàn tất trong năm nay!

    Trước đây tôi không thu thập gỗ và những vật liệu khác có thể dùng cho việc xây dựng và tôi sống nhờ việc khất thực trong vùng: tôi không có gì trong tay để xây tu viện. Vì thế tôi đã hỏi Öntrul Rinpochay, một cột trụ của giáo lý dòng thực hành, là ban quản trị tu viện có bảo trợ cho việc xây dựng bên ngoài tu viện không. Nếu họ làm điều đó thì tôi sẽ bán mọi vật có giá trị mà tôi có để dần dần hoàn thành các khu nhà khác và những pho tượng lớn nhỏ ở bên trong. Bởi rất quan tâm đến Phật giáo nên ngài đã đồng ý. Ngay khi ngài cho phép bằng cách chỉ dẫn cho các thành viên của ban quản trị, mọi người quyết định rằng ngôi chùa sẽ được xây dựng.

    Mối bận tâm của tôi vào lúc này là mặc dù tự thân ngôi chùa được hoàn thành, nếu nó không có sở hữu chủ cụ thể thì người sở hữu nói chung, ban quản trị tu viện, sẽ khó có thể bảo quản địa điểm trong thời gian dài. Vì thế tôi tự hỏi liệu có phải là một ý tưởng hay không khi bắt đầu một trung tâm nhập thất nhỏ được nối kết với ngôi chùa ở đây. Tôi khẩn cầu Dabzang Rinpochay, một Đạo sư vô cùng uyên bác, thực hiện một tiên tri về vấn đề này. Ngài đã thông báo những giấc mơ hết sức tốt lành cho thấy một trung tâm như thế sẽ mang lại lợi lạc cho Phật giáo. Tôi cũng khẩn cầu Đạo sư toàn trí Dorjay Ziji Tsal (Kyentsay): ngài đã cho biết là ngài có một linh kiến đặc biệt báo trước sự thành công. Dựa trên sự tái cam đoan của ngài, tôi đã thực hiện đầy đủ việc xây dựng các nhà nhập thất và nhà phụ cận. (Danh mục, trang 11b-14a).
Năm 1859 một lần nữa Chokling cố gắng khánh thành thánh địa và thành công. Sự kiện này dọn đường cho việc thành lập trung tâm nhập thất ba năm tại Tsadra Rinchen Drak.

Kalu Rinpochay đã thuật lại về sự thôi thúc lúc ban đầu của Kongtrul nhằm tìm kiếm một trung tâm thiền định, được Lạt ma Drubgyu Tenzin ở Canada phiên dịch:

    Có lần, Jamgon Kongtrul vĩ đại, một Lạt ma quan trọng của Tu viện Palpung, đã tu tập trong một ẩn thất được niêm kín. Trong khóa nhập thất này ngài nghe nói Lạt ma Norbu (Shenpen Özer), vị hộ trì chính của Dòng Giáo huấn Shangpa viếng thăm Tu viện Palpung. Kongtrul đã quen thuộc với truyền thống Shangpa và có sự tôn kính sâu xa đối với những giáo lý này. Ngài cảm thấy đây là cơ hội để nhận sự trao truyền trực tiếp từ vị hộ trì thực sự của dòng truyền thừa này, là một bậc vô cùng hiếm có, và vì thế đã quyết định dừng khóa nhập thất để gặp vị Thầy này.

    Khi nghe Lạt ma Norbu đến, Kongtrul rời ẩn thất và đi tới nhà khách để đảnh lễ và xem có thể nhận sự trao truyền từ vị Thầy này không. Khi đến phòng của Lạt ma Norbu, Kongtrul nhận thấy mình hoàn toàn không được để ý tới. Mặc dù là một trong những Lạt ma chính của tu viện, nhưng ngài như thể không hề hiện hữu! Trước sự hoàn toàn sửng sốt của Jamgong Kongtrul, chừng nào ngài còn ở lại, chẳng có dấu hiệu nào cho thấy ngài từng hiện diện.

    Hết sức bối rối trước diễn biến này, Kongtrul trở về phòng riêng. Ngài quán chiếu về sự bất hạnh của mình, và tự hỏi chắc là trước đây ngài đã phạm vào những hành động tiêu cực đến độ bẻ gẫy mối nối kết của ngài với truyền thống Shangpa và vị hộ trì dòng truyền thừa. Ngài không hề nuôi dưỡng tư tưởng phê phán Lạt ma Norbu mà liên tục quán sát bản thân để thấy rõ những lỗi lầm của riêng mình. Ngài lo lắng đến nỗi cả đêm đó ngài không ngủ mà thức trắng để quán chiếu về những khiếm khuyết của mình, sám hối và tịnh hóa, và trì tụng thần chú của Đức Vajrasattva.

    Khi trời sắp rạng đông thì một ý tưởng xuất hiện trong tâm Kongtrul. Có lẽ bằng cách đề nghị thiết lập một trung tâm nhập thất được dành riêng để truyền bá giáo lý của truyền thống Shangpa, ngài có thể chuộc lỗi và như thế có thể tạo lập một nối kết riêng thật tốt đẹp với những giáo lý này! Càng nghiền ngẫm về ý tưởng này ngài càng trở nên xác quyết về sự thích đáng của nó.

    Sau đó, vào lúc sáng sớm, một lần nữa ngài đến phòng của Lạt ma Norbu với ý tưởng này trong tâm. Khi ngài bước vào phòng, trước khi ngài có thể nói một lời, Lạt ma Norbu nói với ngài: "Đó là một ý tưởng tuyệt vời! Vào lúc này tôi không có thời gian để ban cho ngài mọi trao truyền, nhưng ngài nên tiến tới với dự án này và tôi sẽ trở lại càng sớm càng tốt để trao truyền toàn bộ giáo khóa Shangpa".
Mặc dù câu chuyện này không xuất hiện trong tự truyện của Kongtrul, ngài thuật lại là đã gặp vị Lạt ma này lần đầu tiên năm 1840 (năm hai mươi bảy tuổi) và chỉ được ban một ít giáo huấn trong dịp đó. Ngài đã nhận sự trao truyền đầy đủ của Dòng Giáo huấn Shangpa từ Lạt ma Norbu vào năm 1843.

    CHÚ THÍCH:
(9) Việc đạo văn đã và đang phổ biến trong học thuật Tây Tạng, là nơi điều đó có vẻ được nhìn một cách thiện cảm như cách biểu lộ lòng tôn kính của một tác giả đối với các Đạo sư trong quá khứ. Dẫn giải này của Kongtrul chắc là được viết trong một thái độ khiêm tốn hơn là một thú nhận về hành vi sai trái.

(10) Trong bản văn này, dakini (Phạn ngữ) ám chỉ một phụ nữ giác ngộ, là một người đã đạt được thành tựu siêu việt hoặc là một thiên nữ ở một cõi Phật thuần tịnh.

(11) Cách dịch Charitra là "Bốn nơi Nương tựa" phù hợp với Kunkyen Payma Karpo trong tác phẩm Guide Book of Holy Place Charitra (Cẩm nang Hướng dẫn đến Thánh Địa Charitra) (Darjeeling: Lama Sherab Gyatso, 1982).

(12) Trong tuyển tập các bức họa của các Đạo sư thuộc Dòng Giáo huấn Khẩu truyền, bức họa của Kongtrul cho thấy Kyentsay và Chokling ngồi ở phía trước Kongtrul. Đức Phật Kim Cương Tát Đỏa bay trong không trung phía trên ba người, bên cạnh phác họa của các nghệ sĩ về ngôi chùa chính và các khu nhà phụ cận tại Tsadra Rinchen Drak. Vị bảo hộ này, Nữ Bảo hộ Thần chú, được vẽ ở dưới ngai của Kongtrul.

(13) Ở đây Kongtrul sử dụng một cách thức lịch sự khi nói tới việc Đạo sư của ngài viên tịch: "Ngài đang tiến gần đến thời điểm ngài quyết định để giúp đỡ chúng sinh". Nói cách khác, tái sinh trong những hoàn cảnh khác.

(14) Trong trường hợp này, từ được sử dụng trong tiếng Tây Tạng để chỉ "địa điểm" (may tsa, me btsa') thì tương đương về mặt địa lý với một vị trí châm cứu trên thân thể.

(15) Heruka (một từ Phạn ngữ) ám chỉ các Bổn tôn Mật thừa phẫn nộ hay bán phẫn nộ nói chung. Đặc biệt là trong văn cảnh này, một pho tượng của Yangdak Heruka, một trong những Bổn Tôn chính yếu của các Tantra thuộc Cựu Dịch, là pho tượng chính trong ngôi chùa được xây dựng tại Tsadra Rinchen Drak.

(16) Ở đây ám chỉ Shakya Jungnay (1002-1062), một Đạo sư vĩ đại của Dòng Giáo huấn Cổ truyền, người đã xây dựng một ngôi chùa trong Thung lũng Uk. Kongtrul được coi là một hóa thân của Đạo sư này cũng như Berotsana và nhiều vị khác. Khi tôi phàn nàn với Tsa-tsa Drubgen Rinpochay ở Kanding, Trung quốc, rằng đoạn kệ này khó hiểu, ngài đã nhận xét: "Đây là một bài kệ tiên tri: các tiên tri được cho là tối nghĩa!"
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 27/05/15 19:55

    KHÓA NHẬP THẤT BA NĂM TẠI TSADRA RINCHEN DRAK VÀ PHẦN ĐỜI CÒN LẠI CỦA KONGTRUL
Khóa nhập thất ba năm sáu tuần đầu tiên tại Tsadra Rinchen Drak bắt đầu năm 1860; Kongtrul bốn mươi bảy tuổi. Tám người sống trong một cộng đồng nhỏ: một Đạo sư kim cương, năm người nhập thất (trong đó một người là Lạt ma của ngôi chùa bảo hộ), một người nấu bếp, và một người đốn củi. Các khóa nhập thất trong tương lai trong đời của Kongtrul cũng có từng đó người tham dự.

Việc bắt đầu khóa nhập thất đã đánh dấu sự khởi đầu của một thời kỳ vô cùng hữu ích trong đời của Kongtrul. Trước tiên ngài ban những quán đảnh và giáo huấn vào lúc bắt đầu khóa nhập thất và biên soạn cẩm nang nhập thất mà ở đây dịch là Cẩm nang Nhập Thất của Jamgon Kongtrul. Trong những năm tiếp theo ngài đã sử dụng hầu hết thời gian để sống trong vùng Palpung và sắp xếp để hoàn tất một số lượng sách thật đáng kinh ngạc. Chính trong thời gian này Jamyang Kyentsay Wangpo đã tiên đoán rằng Kongtrul sẽ hoàn tất tác phẩm mà Kyentsay gọi là "Năm Kho tàng". Kongtrul đã hoàn thành Kho tàng những Giáo huấn Mật thừa của Dòng Giáo huấn Khẩu truyền, một tác phẩm bắt đầu vào năm 1853 và hoàn thành năm 1855, và ngài đang bận rộn biên soạn Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá. Chính trong thời gian của khóa nhập thất đầu tiên ngài đã biên soạn tác phẩm khác của những kho tàng, đó là Tự điển Bách khoa Phật giáo. Tác phẩm này đáng lưu ý trong bối cảnh này bởi Kongtrul đã làm cho nó trở thành bản văn mà những người nhập thất sau này bắt buộc phải đọc. Năm 1862, Kongtrul bốn mươi chín tuổi:

    Vào lúc này Lạt ma Ngaydon nài nỉ tôi viết một luận thuyết cho ba giới luật(17). Ngài hứa rằng nếu tôi viết bản văn gốc, ngài sẽ biên soạn một luận giảng cho nó. Tuy nhiên tôi quán chiếu rằng các luận thuyết về ba giới luật thì rất phổ thông và thêm vào một luận thuyết như thế, một giải thích đầy đủ về con đường Phật giáo sẽ lợi lạc cho những người không quen thuộc với nó. Với tư tưởng đó trong tâm, tôi đã soạn một bản văn gốc mô tả ba sự tu tập được gọi là Hoàn thiện Mọi Tri thức trong thời gian rảnh rỗi giữa các khóa thiền(18). Sau này tôi đưa bản văn này cho Đạo sư tâm linh tôn quý của tôi (Jamyang Kyentsay Rinpoche) xem, ngài kêu lên: "Đúng là nhờ những gia hộ của Đạo sư tâm linh và nhờ các dakini khai mở các kinh mạch bên trong của ông mà có tác phẩm này! Nó phải được coi là quyển đầu trong Năm Kho tàng. Ngài phải bảo đảm là sẽ soạn một luận giảng cho tác phẩm này. Thật là tuyệt vời". (Tự truyện, trang 100b-101a).
Một năm sau, Kongtrul biên soạn luận giảng cho bản văn:

    Từ lúc này (gần cuối tháng tư năm 1863) cho đến cuối tháng bảy, tôi có thể viết luận giảng cho bản văn gốc Tự điển Bách khoa Phật giáo nhờ sự trợ giúp hữu hiệu của Đạo sư uyên bác Tashi Özer như người thư ký. (Tự truyện, trang 105a)
Quyển Tự điển Bách khoa Phật giáo này mà Jamgon Kongtrul đề cập được biên soạn không đầy bốn tháng, gồm có hai phần: toàn bộ một bản văn gốc gồm 160 trang viết bằng văn vần được gọi là Hoàn thiện Mọi Tri thức và một luận giảng 2.000 trang được gọi là Đại dương Tri thức Bao la. Đối với hầu hết học giả, để hoàn tất một tác phẩm sâu rộng như thế có thể phải mất phần lớn đời người.

Vào lúc kết thúc khóa nhập thất đầu tiên, Kongtrul khuyên các người nhập thất sau này đọc luận thuyết trước khi khóa nhập thất bắt đầu:

    Trước khi bước vào một trong hai khóa nhập thất (có nghĩa là khóa nhập thất của riêng ngài và khóa nhập thất tại tu viện Palpung), những người nhập thất nên nghiên cứu toàn bộ Tự điển Bách khoa Phật giáo, hay nếu nhiều việc nghiên cứu và quán chiếu không thực hiện được thì ít nhất họ nên hiểu biết về mục thứ năm của quyển sách, trong đó giải thích những đặc tính của Đạo sư và đệ tử và cách nương tựa Đạo sư, và cung cấp
    đầy đủ chi tiết của ba giới luật. (Danh mục, trang 97b).
Những dòng này được viết năm 1864 khi thời gian của khóa nhập thất ba năm sáu tuần đầu tiên sắp kết thúc. Vào cuối đời ngài, ít nhất là bảy và có thể là tám khóa nhập thất như thế đã hoàn tất trong Trụ xứ Phổ Hiền của Đại Lạc Chói lọi. Kongtrul đã soạn hầu hết các tác phẩm của ngài ở đó, và xem xét từ số bản văn mà ngài nói là được soạn vì lợi lạc của những người nhập thất, ngài đã tìm thấy ở khóa nhập thất một suối nguồn cảm hứng không vơi cạn cho việc biên soạn của ngài.

Mặc dù trở thành giám đốc của một trung tâm nhập thất và một Đạo sư mỗi lúc một quan trọng hơn, Kongtrul không theo phong cách của các Lạt ma cao cấp. Ngài thích sống đơn giản, không có đồ chúng hay thị giả vây quanh, như ngài nhận xét trong tự truyện của ngài khi hối tiếc về căn bệnh trầm trọng của cô cháu gái Rigdzin Drönma, vào năm 1870:

    Từ khi tôi sống trong ẩn thất nghiêm ngặt, tôi không giữ thị giả ngoại trừ khi hết sức cần thiết. Không có tu sĩ nào thường xuyên ở đây để làm nhiệm vụ đó. Sau này, ngay cả khi công việc xây dựng [ngôi chùa và các pho tượng] phát triển mạnh mẽ, thân mẫu tôn quý của tôi đã chăm sóc những nhu cầu nhỏ bé của những người trong nhà. Ngoại trừ bà, ở đây chưa có ai được gọi là người giữ kho hay tổng thư ký, như tục lệ dành cho các Lạt ma cao cấp hay trong việc quản trị tu viện. Nếu vị tu sĩ đang ở địa vị đó là một Lạt ma cao cấp hơn tôi, tôi sẽ thấy mình bị ông sai sử; nếu ông ta có đẳng cấp thấp hơn, ông sẽ phải tính đến việc ăn cắp hay nói dối v.v... và vì thế không thích hợp. Các vị tu sĩ ngang hàng với tôi không thể thận trọng do bởi tánh khí của thời đại và chẳng bao giờ tôi tìm được người nào có thể là một bạn đồng hành lâu dài có thể tin cậy. Tôi không tìm kiếm tu sĩ thị giả nào; sau khi thân mẫu tôi qua đời, cháu gái tôi thay thế vị trí của bà. (Tự truyện, trang 119a-b)
Năm 1870 hẳn là một năm khó khăn đối với Kongtrul: Chok-gyur Daychen Lingpa, một trong những Đạo sư tâm linh và nguồn cảm hứng chính yếu của ngài, đã qua đời vào năm bốn mươi mốt tuổi. Kongtrul phải chứng kiến sự hoàn thành lời tiên tri của ngài là Kongtrul sẽ sống lâu hơn Chokling và Kyentsay. Có lần các ngài đã tranh đua với nhau trong một cuộc đua ngựa mà Chokling thắng, Kyentsay về thứ nhì và Kongtrul về cuối. Kongtrul bắt đầu kêu lên ở vạch kết thúc, điều đó làm các khán giả nói: "Thật không! Đó chỉ là trò chơi!" Kongtrul đáp lại câu nói đó: "Không! Đó là dấu hiệu cho thấy ai sẽ đến Núi Màu Đồng Đỏ (cõi thuần tịnh của Guru Rinpochay) trước nhất. Tôi sẽ phải trơ trọi ở đây một mình!"

Niềm vui mà Kongtrul được hưởng với cuộc đời ngài ở Tsadra Rinchen Drak và ẩn thất được biểu lộ rõ ràng trong một vài quyển sách ngài biên soạn vào đầu thập niên 1860, cuối cùng đã bị phai tàn. Tuy nhiên, sự thay đổi thái độ này không dính dáng gì đến việc nhập thất. Bắt đầu vào năm 1873, một nhóm tu sĩ ở Palpung đã om sòm kiện tụng ngài và Öntrul Rinpochay, đặc biệt là Öntrul Rinpochay. Có lẽ Tai Situpa tái sinh còn quá nhỏ nên không tác động được gì cho hoàn cảnh. Ở tu viện, tình trạng của vấn đề trở nên kích động đến nỗi Öntrul Rinpochay thình lình viên tịch năm 1874. Kongtrul bị suy sụp. Ngài thận trọng giải thích rằng ngài biết là chỉ có một ít tu sĩ chịu trách nhiệm về thảm kịch, trong khi những người còn lại hoàn toàn không có lỗi. Nhưng tự thân việc rắc rối và sự ngoan cố khước từ của các tu sĩ trong việc chấp nhận sai lầm và mở lời xin lỗi đã ảnh hưởng sâu xa đến ngài:

    Việc họ đáp lại lòng tốt của Öntrul Rinpochay bằng một cách thế lầm lạc như thế khiến tôi cảm thấy khiếp sợ tất cả các Lạt ma và tu sĩ ở đó. Trong mười bốn năm sau thảm kịch này, tôi không bao giờ đến tu viện. Ngay cả việc ban các giáo huấn v.v... của tôi tại trung tâm nhập thất Palpung cũng bị cắt giảm bởi những cảm xúc mạnh mẽ của tôi. Trong khi tôi có thể đi đến bất kỳ tu viện lớn hay nhỏ nào của các Trường phái Cựu và Tân, tôi đã quyết định ở đây để đáp lại những cam kết mà tôi đã lập ra một cách riêng tư với Payma Nyinjay Wangpo và các huynh đệ tâm linh của ngài. (Tự truyện, trang 133a-b).
Ngay cả trong những năm sau đó, năm 1892, khi ngài suy niệm về cuộc đời và cái chết của Namgyal Dorjay, một trong những hành giả nhập thất trẻ tuổi của ngài, nỗi buồn của ngài về sự việc vẫn còn tồn tại:

    Lần đầu tiên cậu ta đến thăm tôi khi cậu vừa mới bắt đầu biết nói; cậu học cách tụng đọc cho đúng Lời Khẩn nguyện Guru Rinpoche Bảy Dòng. Về sau cậu tỏ ra sáng dạ và có khuynh hướng thực hành thiện hạnh một cách tự nhiên. Cậu đã hoàn tất bốn trăm ngàn tích tập các thực hành chuẩn bị đối với thiền định Đại Ấn và đã tu tập một vài thiền định. Cậu đã hoàn tất những thực hành miên mật của thiền định Kim Cương Phổ Ba của Ratna Lingpa, cũng như các thực hành thiền định Bí Mật Cốt tủy về lòng Đại Bi. Cậu đã nhập thất khi dự kiến tiếp tục thực hành và tôi đã hy vọng cậu sẽ là người mang lại lợi lạc cho bản thân và những người khác. Nhưng bởi ảnh hưởng tiêu cực của việc vi phạm những cam kết Mật thừa trong tu viện này trước đó và tánh khí nói chung của thời đại, tất cả chúng tôi, kể cả bản thân tôi, đã không chống cự nổi sức mạnh của các chướng ngại, cho dù chúng tôi có tốt lành đến đâu chăng nữa. Điển hình là cậu thanh niên này đã không thể sống hơn hai mươi ba tuổi. (Tự truyện, trang 184b-185a).
Năm 1892 cũng là năm Kyentsay viên tịch ở tuổi bảy mươi hai. Giờ đây Kongtrul bảy mươi chín tuổi và vẫn còn rất nhanh nhẹn, vì thế ngài đã soạn một tiểu sử tráng lệ của Đạo sư và các bạn hữu của ngài. Tự truyện của ngài hoàn tất năm 1894 nhưng ngài tiếp tục biên soạn những quyển sách ngay cả trong năm 1899, là năm cuối cùng của đời ngài, trong thời gian đó sức khỏe của ngài chỉ cho phép ngài đọc cho người khác chép. Mặc dù thế, ở tuổi tám mươi sáu, tâm ngài vẫn đủ sáng suốt để sáng tác những luận thuyết dài và chi tiết cũng như những mô tả về các thiền định phức tạp bằng văn vần. Cho đến cuối đời, cốt lõi của đời sống tâm linh và mối quan tâm chính yếu của ngài là thiền định. Những lời sau đây được viết ở gần cuối tự truyện của ngài:

    Về cuộc đời tôi nói chung, trước tiên tôi có được hoàn cảnh đặc biệt này – cuộc đời làm người quý báu và phong phú, có đầy đủ những tính chất đặc biệt của bảy phẩm tính của các hiện hữu cao cấp và bốn chu trình vĩ đại(19). Tôi đã mang lại cho cuộc đời tôi ý nghĩa đích thực của nó bằng cách bước vào cánh cổng dẫn đến giáo lý quý báu của Đức Phật. Hơn nữa, tôi đã gặp được Con Đường Kim cương của Mật Chú là điều chưa từng xuất hiện trước đó, không xuất hiện trong hiện tại và sẽ chẳng bao giờ xuất hiện một lần nữa(20) Cuộc đời tôi giống như một cuộc hành trình đến một hòn đảo đầy vàng và châu báu, ở đó tôi có thể lấy bất kỳ thứ gì tôi chọn, một cơ hội dường như không thể có trong thế gian này. Tuy nhiên bởi thế lực áp đảo của nghiệp chín muồi(21) và bởi tôi mất đi sự độc lập trong việc hướng dẫn người khác, tôi đã trắng tay với những gì tôi mong muốn – dấn mình vào cốt tủy của thực hành thiền định – và tôi đã bị xao lãng bởi công việc mà tôi không có trong tâm – những chu trình hoạt động bất tận. (Tự truyện, trang 189a).
Sự khiêm tốn sâu xa thường xuyên hiện diện trong những quyển sách của ngài có vẻ chân thật, nhưng theo sau những lời này là một bản tóm tắt đầy đủ và chính xác việc nghiên cứu, giảng dạy, biên soạn, và thiền định mà ngài đã thực hiện trong đời ngài. Nó khiến cho người đọc nín thở. Như Tashi Chöpel, một trong những đệ tử thân thiết nhất của ngài, đã nhận xét thật xác đáng:

    Đạo sư cao quý này nỗ lực nghiên cứu mọi chủ đề. Ngài bắt đầu bằng một nền giáo dục trong việc đọc và viết trong bối cảnh của việc nghiên cứu những nghệ thuật và khoa học thông thường, và ngài tiếp tục theo đuổi một nền giáo dục cao hơn (trong Phật giáo). Không có điều gì ngài không học: từ ba tuyển tập (Tam Tạng) Phật giáo cho đến Con Đường Kim cương phi thường, các việc nghiên cứu của ngài bao gồm ngay cả những quán đảnh, truyền dạy, giáo huấn thiền định, những cách giải thích, và các phương pháp thực tiễn nhỏ bé nhất của bốn cấp tantra. Hồ sơ đầy đủ về việc giáo dục của ngài kéo dài đến hai quyển sách. Việc nghiên cứu điều này cho ta cảm tưởng là ngài đã sử dụng toàn bộ cuộc đời để nghiên cứu. Phạm vi của việc ngài ban truyền những quán đảnh, truyền đọc, và những giáo huấn từ những giáo lý Kinh điển và kho tàng của các Trường phái Cựu và Tân cho ta cảm tưởng là ngài dùng trọn đời mình để giảng dạy. Đạo sư này không giống như những người chấm dứt việc nghiên cứu và quán chiếu của mình bằng một sự hiểu biết thô thiển về các chủ đề. Kế đó họ muốn biên soạn và sáng tác, và gọi một ít từ ngữ mà họ viết bằng một tinh thần tranh đua và khao khát tiếng tăm là "Tuyển tập Tác phẩm của tôi". Không như những người này, tác phẩm của vị Đạo sư này đẩy mạnh sự liên tục của toàn bộ giáo lý của Đức Phật vào lúc nó sắp kết thúc. Phạm vi của những giáo huấn tâm linh của ngài chủ yếu được bao gồm trong tác phẩm kỳ diệu Năm Kho tàng, chứa đầy chín mươi quyển sách(22). Khi ta nghĩ về phương diện này của cuộc đời giải thoát của ngài, ta có cảm tưởng là ngài đã dùng trọn cuộc đời để biên soạn. Một khảo sát về cách ngài đã thực hiện những thực hành miên mật một đại dương các thiền định từ những Kinh điển và tantra (Mật điển) của các Trường phái Cựu và Tân cho ta cảm tưởng là toàn bộ cuộc đời ngài được dùng để thiền định trong một phòng thiền được niêm phong nghiêm ngặt. Chỉ có những bậc giác ngộ mới có thể hiểu được cuộc đời giải thoát(23) của Đạo sư này; còn đối với những người như chúng ta thì đó là điều không thể nghĩ bàn. Tường thuật này không phải là một sự thổi phồng thiếu trung thực được biên soạn theo ký ức của Đạo sư của tôi; mà nó là một tường thuật phản ánh toàn bộ chân lý. Tính chân thực của nó sẽ thật hiển nhiên đối với người minh triết. (Những Ngày Cuối cùng, trang 6a-b).
Để kết luận, Kongtrul không bao giờ quan tâm đến việc trở thành một thế lực chính trị qua việc tích lũy đất đai, dinh thự, và các môn đồ. Ngài không có bất kỳ nỗ lực nào để phá hủy những thể chế (tổ chức) hiện hữu hay tạo lập những thể chế mới, ngoại trừ trung tâm nhập thất nhỏ bé của ngài. Các ý tưởng và việc biên soạn của ngài là sự giải thoát cho những ai ước muốn cùng chia sẻ một cách tự do mọi sự phong phú của các truyền thống kinh viện và thiền định Phật giáo. Bản thân ngài đã trải qua một cuộc đời lâu dài trong việc thực hành và nuôi dưỡng những điều này bằng cách từ bỏ mọi sự một cách phi thường và nhất tâm.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 28/05/15 20:54

    TRUNG TÂM NHẬP THẤT CỦA KONGTRUL SAU KONGTRUL
Như Kongtrul đã hy vọng, trung tâm nhập thất của ngài tiếp tục hoạt động sau khi ngài mất. Trách nhiệm của việc dẫn dắt trung tâm được những người khác gánh vác, mặc dù khó tìm được một ghi chép về danh tánh các Đạo sư đã làm việc đó. Năm 1920, Norbu Döndrub là Đạo sư nhập thất đã đón chào một thiếu niên vào thất. Đó là con trai của Ratok Tulku, một Đạo sư hóa thân từng là đệ tử của Kongtrul. Norbu Döndrub đã xác nhận Karma Drubgyu Tenzin, cậu bé mười sáu tuổi đó, trở thành vị hộ trì các giáo huấn mà ông đã nhận từ Kongtrul và hai vị trong những đệ tử chính của Đạo sư này (Tashi Özer và Tashi Chöpel, đã được đề cập ở trên). Khi kết thúc khóa nhập thất thật mỹ mãn, cậu thiếu niên, bây giờ được gọi là Lạt ma Kalu (một cách rút gọn tên ngài) đã ra đi để theo đuổi việc nghiên cứu xa rộng hơn và sau này nhập thất trong mười hai năm.

Norbu Döndrub tiếp tục là Đạo sư nhập thất cho đến giữa thập niên 1940, khi ngài quyết định lui về. Từ ẩn thất, Lạt ma Kalu được mời đến để thay thế Đạo sư của ngài, theo lệnh của Tai Situpa, Norbu Döndrub, và Đức Karmapa thứ mười sáu, khi đó đang viếng thăm tu viện Palpung. Theo một thành viên của cộng đồng tôn giáo Palpung vào lúc đó là Lạt ma Tsondru, sự chọn lựa này gây nên sự sửng sốt giữa các Lạt ma tại Palpung: với rất nhiều Lạt ma trong số họ để chọn lựa, vì sao một người ngoài lại được bổ nhiệm làm Đạo sư nhập thất? Đức Karmapa đã tuyên bố rằng thực ra Lạt ma Kalu là một hóa thân của Jamgon Kongtrul nhưng việc ban cho ngài sự xác nhận chính thức sẽ tạo ra các chướng ngại cho sự hoạt động và trường thọ của ngài. Tuy nhiên Đức Karmapa đã thừa nhận không chính thức nhân thân của Lạt ma này, là người sẽ nổi danh là Kalu Rinpochay. Trong một bài cầu nguyện trường thọ cho Kalu, Đức Karmapa viết: "Ngài tiếp tục cuộc đời giải thoát của Lạt ma Jamgon trong thời hiện đại".

Kalu Rinpochay sống tại trung tâm nhập thất với Kyentsay Özer, hóa thân khác của Jamgon Kongtrul. Các ngài thường cùng nhau thiền định trong một khu vườn nhỏ phía trên trung tâm nhập thất, ở đó mỗi ngài trồng một cây thông. Những cây này vẫn còn đứng vững đến ngày nay. Sau khi khóa nhập thất đầu tiên hoàn tất dưới sự hướng dẫn của ngài, Kalu Rinpochay quyết định xây dựng lại và mở rộng trung tâm nhập thất. Trung tâm mới có đủ phòng cho hai mươi lăm người. Giữa thập niên 1950, Kalu Rinpochay đã rời trung tâm nhập thất đi Lhasa và sau đó đi Bhutan và Ấn Độ. Trung tâm bị bỏ phế và bị phá hủy trong thập niên 1960. Theo phác họa của Kalu Rinpochay, một cấu trúc mới được xây dựng giữa thập niên 1980. Giữa năm 1991, một khóa nhập thất ba năm sáu tuần đã hoàn tất tại trung tâm mới và một khóa khác sắp bắt đầu. Hiện khóa nhập thất nằm dưới sự hướng dẫn của một người cháu lớn tuổi của Norbu Döndrub, Đạo sư tâm linh chính yếu của Kalu Rinpochay.

    CHÚ THÍCH:
(17) Ba giới luật (dompa sum, sdom pa gsum) ám chỉ các giới nguyện giải thoát cá nhân, các cam kết của con đường Bồ Tát, và những bắt buộc của thực hành Mật thừa.

(18) Kongtrul đã bao gồm một giải thích dài và triệt để về ba giới luật trong Tự điển Bách khoa Phật giáo – Phần Năm của tác phẩm đó. Mặc dù việc nghiên cứu vấn đề của Kongtrul, chính Lạt ma Ngaydon đã soạn một bản văn gốc cho một luận thuyết về ba giới luật và Tashi Chopel, một trong ba đệ tử chính của Kongtrul, đã soạn một luận giảng cho bản văn. Ba sự tu tập là là tu tập giới hạnh, thiền định và trí tuệ.

(19) Bảy phẩm tính của các hiện hữu cao cấp là một gia đình tốt lành, hình tướng dễ ưa, trường thọ, không bị bệnh tật, gặp may mắn, giàu có, và thông tuệ. Bốn chu trình vĩ đại là sống trong một miền đất an hòa, nương tựa một bậc có tâm linh cao cấp, tạo nên những khát khao tích cực, và vun trồng công đức.

(20) Con Đường Kim cương của Mật chú (Sang Ngak Dorjay Tekpa, gsang sngags rdo rje theg pa) là hệ thống cao nhất trong ba hệ thống của sự phát triển tâm linh do Đức Phật giảng dạy – Con Đường Thấp, Con Đường Lớn, và Con Đường Kim cương. Trong tất cả chư Phật, rất ít vị Phật nào được nói là giảng dạy Con Đường Kim cương. Một chày kim cương tượng trưng cho tánh Không và sự bất khả phân (không thể phân chia); việc trì tụng các thần chú tạo nên một phần chính của nhiều thiền định trong hệ thống này.

(21) Bản văn ở đây viết là smon (khát khao); tôi tin rằng chữ đó là smin, chín muồi.

(22) Ấn bản hiện đại của Năm Kho tàng, được xuất bản dưới sự đỡ đầu của Dingo Khyentse Rinpochay, trải rộng hơn một trăm quyển sách. Ngoài ra, một số luận thuyết lớn của Kongtrul không được bao gồm trong ấn bản này.

(23) Cuộc Đời giải thoát (nam tar, rnam thar) là một thuật ngữ được dùng để mô tả cuộc đời của một Đạo sư vĩ đại hay để chỉ câu chuyện được ghi lại về cuộc đời đó. Kongtrul đưa ra định nghĩa giáo khoa của thuật ngữ vào lúc bắt đầu nam tar, có nghĩa là tự truyện của ngài:

Nam tar trong Phạn ngữ là vimoksha, có nghĩa là sự hoàn toàn tự do hay giải thoát toàn triệt. Đó là việc thuật lại câu chuyện về sự thành tựu tự do viên mãn. Trong trường hợp của một người bình thường, đó là việc hoàn toàn thoát khỏi những hiện hữu khốn khổ nhờ niềm tin thuần tịnh. Trong trường hợp của một người trên mức trung bình, đó là việc hoàn toàn vượt thoát đại dương luân hồi nhờ sự giải thoát thanh tịnh khỏi những bận tâm thế tục. Trong trường hợp của một người phi thường, đó là sự hoàn toàn thoát khỏi những cực đoan của hiện hữu luân hồi và sự an bình viên mãn nhờ động lực thanh tịnh cao cả để giúp đỡ những người khác. Tóm lại, nam tar là câu chuyện kể về tiểu sử tuyệt vời nhất – câu chuyện về việc hoàn toàn thoát khỏi đau khổ và những nguyên nhân của nó và những hành động theo sau, đó là giải thoát chúng sinh khỏi những giới hạn của họ. (trang 4a).
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)


Quay về “Mật tông”

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách