CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Thảo luận về giáo lý và hành pháp mật Tông và Mật giáo Tây Tạng.

Điều hành viên: kimcang

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 26/06/15 07:18

    PHỤ LỤC I

    SÁCH ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG PHẨN MỞ ĐÂU
Danh mục dưới đây gồm những bản văn mà dịch giả (bản Anh ngữ) đề cập đến trong phần mở đầu hay trong thông tin bổ túc được bao gồm cùng những chi tiết của chương trình nhập thất.

Cam lồ Xuất hiện trong một Ảo ảnh: Tường thuật về một phần Tiểu sử của Payma Garwang (Nectar Apprearing in a Mirage: A Partial Account of the Story of Payma Garwang - [i]'dus shes gsum ldan spong ba pa'i gzugs bsnyan padma gar gyi dbang phyug phrin las 'gro 'dul rtsal gyi rtogs pa brjod pa'i dumb u smig rgyu'i bdud rtsi]/i]) của Jamgon Kongtrul. [i]Collected Works (Tuyển tập), Quyển 15, trang 261-342. Tựa đề của quyển sách là một ví dụ điển hình về việc Jamgon Kongtrul tự chế diễu mình.

Cẩm nang Nhập Thất của Jamgon Kongtrul (Jamgong Kongtru’'s Retreat Manual - dpal spungs yang khrod kun bzang bde chen 'od gsal gling gi sgrub pa rnams kyi kun spyod bca' khrims blang dor rab gsal phan bde’i 'byung gnas) của Jamgon Kongtrul. Collected Works (Tuyển tập), Quyển 11, trang 257-320.

Công bố các Tiên tri (The Proclamation of the Prophecies - lung bstan mdo byang), có lẽ là một kho tàng do Chok-gyur Daychen Lingpa khám phá.

Danh mục sự Cấu trúc, các Linh Vật, và Đời sống Tâm linh của việc Nhập thất Cô tịch ở Tu viện Palpung (The Catalogue of the Structure, Sacred Contents, and Spiritual Life of the Isolated Retreat of Palpung Monastery - dpal spungs yang khrod kun bzang bde chen 'od gsal gling rten dang brten par bcas pa’i dkar chag zhing khams kun tu khyab pa’i sgra snyan) của Jamgon Kongtrul. Quyển sách này cho ta một bức tranh đầy đủ về lịch sử, đời sống, và nội dung của trung tâm nhập thất của ngài. Collected Works (Tuyển tập), Quyển 11, trang 3-256.

Đáng để Chiêm ngưỡng (Meaningful to Behold - zab lam rdo rje'i rnal 'byor gyi khrid yig mthong ba don ldan) là một bản văn giáo huấn trong Sáu Nhánh Ứng dụng của Taranata. The Treasury of Precious Instructions of Tibetan Buddhism (Kho tàng Giáo huấn Quý báu của Phật giáo Tây Tạng), Quyển 17, trang 133-231.

Lịch sử những Nguồn mạch của các Kho tàng Sâu xa và những vị Khám phá Kho tàng (The History of the Source of the Profound Treasures and the Treasure Revealers – zab mo'i gter dang gter ston grub thob ji ltar byon pa'i lo rgyus mdor bsdus bkod pa rin chen bedurya'i phreng ba) của Jamgon Kongtrul. The Treasury of Precious Instructions of Tibetan Buddhism (Kho tàng Giáo huấn Quý báu của Phật giáo Tây Tạng), Quyển 1, trang 291-760.

Một Bổ túc cho Lịch sử của những Dòng truyền thừa (A Supplement to the History of the Lineages - khrid brgya'i brgyud pa'i lo rgyus kha skong) của Taranata. The Treasury of Precious Instructions of Tibetan Buddhism (Kho tàng Giáo huấn Quý báu của Phật giáo Tây Tạng), Quyển 18, trang 99-116.

Một Cẩm nang Súc tích về Thực hành Cắt đứt (A Concise Manual for the Practice of Severance - lus mchod sbyin gyi zin bris 'sic' mdor bsdus kun dga'i skyed tshal) của Jamgon Kongtrul. The Treasury of Precious Instructions of Tibetan Buddhism (Kho tàng Giáo huấn Quý báu của Phật giáo Tây Tạng), Quyển 16, trang 387-405.

Một Lịch sử Vô tư của những Nguồn mạch Giáo huấn Tâm linh (An Impartial History of the Sources of Spiritual Instruction - ris med chos kyi 'byung gnas mdo tsam smos pa blo gsal mgrin pa'i mdzes rgyan) của Jamgon Kongtrul. Quyển sách này bao gồm một lịch sử ngắn của đạo Bön. Collected Works (Tuyển tập), Quyển
9, trang 69-100.

Một Phân loại Súc tích những Quán đảnh, Gia hộ và Buổi lễ có liên quan (A Concise Classification of Empowerments, Blessings and Related Ceremonies – dbang bskur byin rlabs sogs kyi rab dbye nyung bsdus blo dman nyams dga') của Jamgon Kongtrul. Collected Works (Tuyển tập), Quyển 9, trang 179-196.

Nghi lễ Cúng dường các Đạo sư Tâm linh của Tám Dòng Thực hành Vĩ đại (The Ritual of Offering to the Spiritual Masters of the Eight Great Practice Lineages – sgrub brgyud shing rta chen po brgyad kun 'dus kyi bla ma mchod pa'i cho ga byin rlabs dngos grub yon tan kun gyi 'byung gnas) của Jamgon Kongtrul. The Treasury of Precious Instructions of Tibetan Buddhism (Kho tàng Giáo huấn Quý báu của Phật giáo Tây Tạng), Quyển 16, trang 1-65.

Ngọn Đuốc Xác quyết (The Torch of Certainty - phyag chen sngon 'gro bzhi sbyor dang dngos gzhi'i khrid rim mdor bsdus nges don sgron me) của Jamgon Kongtrul. The Treasury of Precious Instructions of Tibetan Buddhism (Kho tàng Giáo huấn Quý báu của Phật giáo Tây Tạng), Quyển 8, trang 3-124. Judith Hanson dịch sang Anh ngữ (Boulder: Shambhala, 1977).

Những Bài Nguyện được Trì tụng trong các Thực hành Chuẩn bị và Thực sự của
Dòng Giáo huấn Shangpa (The Prayers to be Recited During the Preliminary and Actual Practices of the Shangpa Instruction Lineage - ye shes mkha' 'gro ni gu las brgyud pa'i zab lam gser chos lnga'i sngon rjes ngag ‘don rdo rje’i tsig rkang byin rlabs 'od 'bar) của Jamgon Kongtrul. The Treasury of Precious Instructions of Tibetan Buddhism (Kho tàng Giáo huấn Quý báu của Phật giáo Tây Tạng), Quyển 11, trang 29-45.

Những Ngày cuối cùng của Jamgon Kongtrul (The Last days of the Life of Jamgon Kongtrul - rje kun gzigs ‘jam mgon ngag gi dbang phyug yon tan rgya mtsho'i zhabs kyi 'das rjes kyi rnam par thar pa ngo mtshar nor bu'i snang ba) của Tashi Chöpel tiếp tục tiểu sử của Kongtrul cho tới việc thị tịch và tang lễ của ngài. Collected Works (Tuyển tập), Quyển 16, trang 479-524.

Quán đảnh Nhập vào như một Đứa Trẻ (The Empowement of Entering as a Child - dpal dus kyi ‘khor lo sku gsung thugs yongs rdzogs kyi dkyil 'khor du byis pa 'jug pa'i dbang bskur bklag chog tu bkod pa ye shes rgya mtsho’i bcud 'dren) của Jamgon Kongtrul. Bản văn dài này không được bao gồm trong quyển nào trong Năm Kho tàng ([i]The Five Treasuries).

Sách Hướng dẫn đến Thánh Địa của Tsadra Rinchen Drak (The Guide to the Sacred Ground of Tsadra Rinchen Drak - thugs kyi gnas mchog chen po de vi ko tri tsa 'dra rin chen brag gi rtogs pa brjod pa yid kyi rgya mtsho'i rol mo) của Jamgon Kongtrul. Collected Works (Tuyển tập), Quyển 11, trang 477-546.

Tiên tri của các Dakini trong Ba Cội nguồn (The Prophecy of the Dakinis of the Three Sources - rtsa gsum mkha' 'gro'i lung bstan), có lẽ là một kho tàng do Chokgyur Daychen Lingpa khám phá.

Trang nghiêm Tâm Đạo sư (The Ornament of the Guru’s Mind - rdzogs pa chen po yang zab bla sgrub dkon mchog spyi 'dus kyi khrid yig gu ru'i dgongs rgyan nyin byed snying po[/i]) là một bản văn giáo huấn trong việc thực hành Tích tập các Châu báu của Tsaywang Norbu. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 8, trang 177-280.

Trao truyền Bí mật của các Dakini (The Secret Transmission of the Dakinis - mkha' 'gro'i gsang lung[/i]), có thể là một kho tàng do Chok-gyur Daychen Lingpa khám phá.

Tự điển Bách khoa Phật giáo (The Encyclopedia of Buddhism) có hai phần, một bản văn gốc và một luận giảng. Tất cả những trích dẫn trong bản văn này được rút ra từ luận giảng tên là The Infinite Ocean of Knowledge (Đại dương Tri thức Bao la - shes bya kun la khyab pa'i gzhung lugs nyung ngu'i tshig gis rnam par 'grel ba legs bshad yongs 'du shes bya mth' yas pa'i rgya mtsho) của Jamgon Kongtrul.
Beijing: People’s Press, 1985.

Tự truyện của Jamgon Kongtrul (The Autobiography of Jamgon Kongtrul - phyogs med ris med kyi bstan pa la 'dun shing dge sbyong gi gzugs brnyan 'chang ba blo gros mtha' yas kyi sde'i byung ba brjod pa nor bu sna tshogs mdog can) của Jamgon Kongtrul. Collected Works (Tuyển tập), Quyển 16, trang 59-478.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 26/06/15 07:19

    PHỤ LỤC 2

    SÁCH VÀ LỜI CẦU NGUYỆN ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG CẢM NANG NHẬP THẤT
Kongtrul đã đề cập đến nhiều bản văn trong cẩm nang của ngài, nhưng chỉ có những bản văn được đặt tên bởi tựa đề hay tác giả mới được liệt kê. Chữ [b]K hay T và một con số theo sau tên một vài quyển sách chỉ rõ thứ tự của chúng trong The Collection of the Buddha’s Word (Tuyển tập Pháp ngữ của Đức Phật) (K thay cho tên Tây Tạng Kangyur đối với tuyển tâp này) hay The Collection of Treatises (Tuyển tập các Luận văn) (T thay cho tên Tây Tạng Tengyur) như chúng được liệt kê trong Catalogue of the Tibetan Buddhist Canons (Mục lục Kinh điển Phật giáo Tây Tạng – bK' 'gyur và bs'Tan 'gyur), Giáo sư Hakuju Ui và những người khác biên tập (Sendai, Japan: Tohoku Imperial University, 1934).

Bánh Xe Chói lọi (The Flaming Wheel - phir zlog 'khor lo 'bar ba'i gzhung man ngag dang cas pa'i skor rnams). Bản văn dùng để ngăn ngừa damsi do Tulku Zangpo Drakpa khám phá; được bao gồm trong một bản văn giáo huấn dài hơn của Jamyang Kyentsay Wangpo. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 45, trang 197-228.

"Bảo vệ Giáo lý của Đức Phật" ("[i]Guarding the doctrine of the Buddha" - sangs rgyas bstan srung
) là một lời cầu nguyện được Lạt ma của chùa bảo hộ trì tụng hàng ngày. Không xác định được bản văn.

Bát Nhã Tâm Kinh (The Heart of the Perfection of Wisdom Discourse - bcom ldan 'das ma shes rab rol tu phyin pa'i snying po) (K21). Đã có vô số bản dịch Anh ngữ của bản Kinh này.

Bảy Điểm Tu tập Tâm thức (The Seven Points of Mind Training - blo sbyong don bdun ma) là "bản văn gốc" của The Great Path of Awakening (Con Đường Giác ngộ Vĩ đại) . Xem ở trên.

Bảy Lời Cầu nguyện (The Seven Prayers - o rgyan gu ru padma 'byung gnas kyi rdo rje gsung 'khrul pa med pa'i gsol 'debs le'u bdun ma lo rgyus dang cas pa) được Guru Rinpoche nói ra để đáp ứng những lời khẩn cầu của năm đệ tử của ngài; do Tulku Zangpo Drakpa khám phá, Rikzin Godem Chen sao chép lại. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá, Quyển 5, trang 137-86.

Các Giai đoạn của Con Đường dành cho Ba Loại Người (The Stages of the Path for the Three Types of Individuals - rgyal ba'i bstan pa la 'jug pa'i rim pa skyes bug sum gyi man ngag gi khrid yig bdud rtsi'i nying khu) của Taranata. The Treasury of Precious Instructions of Tibetan Buddhism (Kho tàng Giáo huấn Quý báu của Phật giáo Tây Tạng), Quyển 3, trang 181-273.

Cao lương mỹ vị Như ý: Những Giáo huấn Trọng yếu Chói lọi (Wish-Fulling Ambrosia: The Essential Instructions of Luminosity - bdud rtsi ljon shing 'od gsal gyi gnad yig). Không xác định được bản văn.

Cẩm nang Vĩ đại để Thực hành Thần chú (The Great Manual of Mantra Practice – sgrub chen bka' brgyad bde gshegs 'dus pa'i bsnyen pa'i go don lag len dang cas pa'i yi ge rin chen sgron me) là những giáo huấn cho việc thực hành sự Tụ hội của các Bậc Hỉ lạc trong Tám Đại Bổn Tôn. Của Dharmashri. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 14, trang 1-88.

Cầu Thang dẫn đến Tự do (The Ladder to Freedom - tsogs gsog gi rim pa dang rjes su 'brel pa'i sdom pa gsum gyi gso sbyong rgyas bsdus thar pa'i them skas) là một nghi thức của Jamgon Kongtrul để tịnh hóa và phục hồi ba giới luật. Collected Works (Tuyển tập), Quyển 13, trang 177-226.

Cây Như ý Niềm Tin (The Wish-Fulling Tree of Faith - dpal ldan bla ma dam pa'i rnam par thar pa dad pa'i ljon shing) là tự truyện bằng văn vần về cuộc đời tự do của Taranata. The Treasury of Precious Instructions of Tibetan Buddhism (Kho tàng Giáo huấn Quý báu của Phật giáo Tây Tạng), Quyển 12, trang 449-52.

"Chư Phật Ba Thời" ("The buddhas of the three times' - dus gsum sangs rgyas) là một khẩn cầu dòng truyền thừa của thực hành Thị Kiến Tinh túy của Đạo sư Tâm linh. Tác giả không được nhắc tới. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 9, trang 379-80.

Con Đường Giác ngộ Vĩ đại (The Great Path of Awakening– theg pa chen po'i blo sbyong don bdun ma'i khrid yig blo dman 'jug bder bkod pa byang chub gzhung lam) là một luận giảng về The Seven Points of Mind Training (Bảy Điểm Tu tập Tâm thức). Collected Works (Tuyển tập), Quyển 8, trang 614-60. Ken MacLeod dịch sang Anh ngữ (Boston: Shambhala, 1987).

Cốt lõi của Tantra Hoa Sen (The Heart of the Lotus Tantra - padma'i snying po'i rgyud) được tìm thấy trong The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 42, trang 297-300, được bao gồm trong The Ritual for the Recitation of The Heart of the Lotus Tantra (Nghi thức Trì tụng
Tâm yếu của Tantra Hoa Sen).

Cung điện Sừng sững (The Lofty Palace - dam chos rdzogs pa chen po sde gsum las: gsang skor yi dam bskyed rim dang byang bu khrigs su bsdebs pa) là một giáo lý kho tàng về thực hành Tám Đại Bổn Tôn do Chok-gyur Daychen Lingpa khám phá. Bản văn này do Jamyang Kyentse Wangpo biên soạn. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 58, trang 571-86.

Cúng dường Khói Thơm của Tu viện Gar ([i]The Great Fragrant Smoke Offering of Gar Đại - sgar bsangs chen mo yid bzhin dbang rgyal dngos grub char 'bebs
) của Palden Drakpa Chokyang, được biên soạn từ những tác phẩm của các vị Karmapa thứ hai, thứ ba và thứ chín. Xuất bản tại Tu viện Palpung.

Cúng dường một Tiệc Kim cương cho Thân thể của Ta (Offering a Vajra Feast to One's Own Body - padma'i zhal gdams grol thig mthong ba rang grol las: rang lus a nu'i tshogs mchod) là một sự kết hợp của một giáo lý kho tàng và một bản văn của Longchenpa về thiền định kèm theo bữa ăn. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 41, trang 127-30.

Cúng dường Torma Ba Phần (The Three-Part Torma Offering – gtor ma cha gsum gyi cho ga) là một món cúng dường cho các vị trời thế tục và các tinh linh của Gyurmay Dorjay. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá, Quyển 41, trang 15-22.

Cúng dường Torma Tổng quát cho các vị Bảo hộ đã Cam kết (The General Torma Offering to the Committed Protectors – dam can spyi'i gtor ma'i chog nyung ngur bsdus pa) của Gyurmay Dorjay. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 41, trang 1-14.

Cuộc Đời Giải thoát của Minling Terchen (The Life of Freedom of Minling Terchen - gter chen chos kyi rgyal po'i rnam thar gsol 'debs zhal gsungs ma) của Gyurmay Dorjay (chính là Minling Terchen). The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 3, trang 261-266.

Đại lạc, sâu xa và trong sáng ("Great bliss, profound and clear" – bde chen zab gsal) là một tuyển tập những lời khẩn cầu của Taranata cho chính bản thân.

Đại dương Bập bềnh của sự Thành tựu (The Dancing Ocean of Accomplishment - bstan pa skyong b'’i dam can chen po rnams kyi phrin las dngos grub kyi rol mtsho) là một nghi lễ cúng dường cho các vị bảo hộ của truyền thống Minling. Của Gyurmay Dorjay và Dharmashri. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 39, trang 43-148.

Đại Ấn: Đại dương của sự Xác quyết (Geat Seal: The Ocean of Certainty – lhan cig skyes sbyor gyi zab khrid nges don rgya mtsh'’i snying po phrin las 'od 'phro) là một cẩm nang của một thiền sư của Wangchuk Dorjay, Karmapa thứ chín. Được xuất bản tại các tu viện Palpung và Rumtek.

Đáng được Chiêm ngưỡng (Meaningful to Behold - zab lam rdo rje'i rnal 'byor gyi khrid yig mthong ba don ldan) là một bản văn giáo huấn trong Sáu Nhánh Ứng dụng của Taranata. The Treasury of Precious Instructions of Tibetan Buddhism (Kho tàng Giáo huấn Quý báu của Phật giáo Tây Tạng), Quyển 17, trang 133-231.

"Đấng toàn trí của đời sống tâm linh" ("The omniscient lord of spiritual life" - kun mkhyen chos rje) là một khẩn nài của Dolpo Sang-gyay đối với bản thân ngài và mười ba đệ tử của ngài, là những người ngài nói là ngang hàng với ngài.

"Đạo sư cầm chày kim cương" ("The master who holds the vajra" – bla ma rdo rje 'dzin ma) là một lời cầu nguyện để nhận ra những lỗi lầm trong hành vi của ta. Được bao gồm trong The Book of Common Prayer of the Oral Instruction Lineage of the Karmapas (Sách Lời Cầu nguyện Thông thường của Dòng Khẩu truyền của các Karmapa), trang 12b-13a trong ấn bản Palpung. Tác giả không được đề cập tới.

Hai mươi Bài Kệ về Bồ Tát Nguyện (Twenty Verses on the Bodhisattva Vow - byang chub sems dpa'i sdom pa nyi shu pa/[i]) của Chandragomin (T4081). Mark Tatz dịch sang Anh ngữ trong [i]Difficult Beginnings (Những Khởi đầu Khó khăn) (Boston: Shambhala, 1985).

Hai mươi lăm Giới nguyện (The Twenty-five Vows - sdom pa nyer lnga pa) của Chökyi Wangchuk, được bao gồm trong Practices for Periods Between Meditation Sessions (Các Thực hành dành cho Thời gian Giữa các Thời khóa – thunmtshams rnal ‘byor nye bar mkho ba gsar rnying gi gdams ngag snying po bsdus pa dgos pa kun tshang). Collected Works (Tuyển tập), Quyển 12, trang 303-08.

Hai mươi mốt Kính lễ Tán thán Đức Tara (Twenty-one Homages in Praise of Tara - sgrol ma la phyag tshal nyi shu rtsa gcig gi bstod pa phan yon dang bcas pa) (K438). Martin Willson dịch sang Anh ngữ là The Praise in Twenty-One Homages to Our Lady, the Goddess Arya-Tara, with its Benefits" (Tán thán Thánh nữ Tara bằng Hai mươi mốt Kính lễ, cùng những sự Lợi lạc,) In Praise of Tara (Tán thán Đức Tara) (London: Wisdom Publications, 1986), trang 113-16.

Hoa Đức Tin (The Flower of Faith – rje btsun rin po che'i rnam thar gsol 'debs kha skong dad pa'i me tog) là một phụ lục bằng văn vần cho tiểu sử của Taranata, của Jamgon Kongtrul. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 12, trang 453-56.

"Hóa thân của lòng bi mẫn của tất cả chư Phật" ("The incarnation of the compassion of all buddhas" - rgyal ba yongs kyi) là một lời cầu nguyện trường thọ cho Payma Nyinjay Wangpo, Tai Situpa thứ chín, do Pawo Tsuklak Gawa biên soạn và được Tekchok Dorjay, Karmapa thứ mười bốn sử dụng để cầu nguyện sau khi Payma Nyinjay mất. Tu viện Palpung xuất bản.

Hoạt động Thiết yếu của Đức Phổ Hiền (Ever-Excellent's Essential Activity - kun bzang don phrin). Tôi không tìm được bản văn này; tên của bản văn được dịch theo dự đoán của tôi.

"Hộ trì các giáo huấn của Padmakara" (Upholding the instructions of Padmakara - padmas lung zin) là một lời cầu nguyện trường thọ cho Payma Nyingjay Wangpo, Tai Situpa thứ chín, của Tekchok Dorjay, Karmapa thứ mười bốn, Nó đã trở thành một lời khẩn cầu của tác giả của nó sau khi Payma Nyinjay mất.

Hướng dẫn vào Bồ Tát Hạnh (A Guide to the Bodhisattva's Way of Life - byang chub sems dpa'i spyod pa la 'jug pa) (T3871) của Shantideva. Stephen Batchelor dịch sang Anh ngữ (Dharamsala: Library of Tibetan Works and Archives, 1979).

Kinh Ba Tích tập Thiện Hạnh (The Discourse of Three Clusters - 'phags pa phung po gsum pa zhes bya ba theg pa chen po'i mdo) (K284) Brian C. Beresford dịch là The Sutra of Three Heaps (Sám Hồng Danh) trong Mahayana Purification (Sự Tịnh hóa theo Đại thừa) (Dharamsala: Library of Tibetan Works and Archives, 1980).

Kinh Chấm dứt Suy đồi Đức Hạnh (The Discourse to End Lapses in Ethical Conduct - sangs rgyas kyi sde snod tshul khrims 'chal pa tshar gcod pa'i mdo) (K220).

Kinh Đại Bửu Tích (The Mound of Jewels Discourse – 'phags pa rin po che'i phungpo zhes bya ba theg pa chen po'i mdo) (K88).

Kinh Gây truyền những Nguyện ước Cao quý (The Discourse to Inspire Noble Aspirations - lhag pa'i bsam pa bskul ba'i mdo) (K69).

Kinh Nhớ tưởng Tam Bảo (Remembering the Three Jewels Discourse - 'phags pa dkon mchog gsum rjes su dran pa'i mdo) (K279).

Kinh Sự Hợp nhất của Cha và Con (The Reunion of Father and Child Discourse - 'phags pa yab sras mjal ba zhes bya ba theg pa chen po'i mdo) (K60).

Kinh Thiền định Siêu việt (The Supreme Meditative Absorption Discourse - 'phags pa ting nge 'dzin mchog dam pa) (K137).

Kinh Tiếng Sư tử Hống của Đức Di Lặc (The Lion’s Roar of Venerable LovingKindness Discourse - ‘phags pa byams pa’i seng ge’i sgra chen po bstan pa’i mdo) (K67).

Kính lễ và Cúng dường Mười sáu Trưởng lão (Homage and Offering to the Sixteen Elders - gnas brtan phyag mchod
) của Học giả Shakya Shri. Được bao gồm trong The Book of Common Prayer of the Oral Instruction Lineage of the Karmapas (Sách Lời Nguyện Thông thường của Dòng Khẩu truyền của các Karmapa), trang 32a-33b (ấn bản Palpung).

Lời Cầu nguyện Hoàn thành Tự nhiên các Ước nguyện (The Prayer for the Spontaneous Fulfillment of Wishes - bsam pa lhun grub), một lời cầu nguyện của Guru Rinpoche ban cho Công chúa Mutri Tsenpo, là một bản văn kho tàng do Tulku Zangpo Drakpa khám phá và Rikzin Godem Chen sao chép lại. Mặc dù được khám phá riêng rẽ với The Seven Prayers (Bảy Lời Cầu nguyện), nó được coi là lời nguyện thứ bảy trong những lời nguyện đó và được in cùng với các lời nguyện này trong The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 5, trang 172-86.

Lời Cầu nguyện của Đức Phổ Hiền (The Prayer of Ever-Excellent - kun tu bzang po'i smon lam stobs po che) do Rikzin Godem Chen khám phá. The Treasury ofRediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 60, trang 733-39.

Lời Cầu nguyện của Thiền định Đại Ấn (The Prayer of Great Seal Meditation – phyag chen smon lam) của Rangjung Dorjay, Karmapa đệ tam. Được bao gồm trong The Book of Common Prayer of the Oral Instruction Lineage of the Karmapas (Sách Lời Cầu nguyện Thông thường của Dòng Khẩu truyền của các Karmapa), trang 110a-111b trong ấn bản Palpung.

Lời Cầu nguyện để Ngăn ngừa Cái Chết Non yểu (The Prayers to Prevent Untimely Death – srung 'khor gnam lcags rdo rje'i thog chen log 'dren klad ‘gems zhes bya ba zab mo dag snang gi skor) do Lhatsun Namka Jigmay biên soạn. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 5, trang 229-38.

Lời Cầu nguyện Xua tan Chướng ngại trên Con Đường (The Prayer to Dispel Obstacles on the Path – gsol 'debs bar chad lam sel) là một bản văn kho tàng do Chok-gyur Daychen Lingpa khám phá: The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 10, trang 51-58.

Lời Khẩn nguyện Guru Rinpoche Bảy Dòng (The Seven-Line Invocation of Guru Rinpochay - tsig bdun gsol 'debs): hai bài khẩn nguyện được đề cập trong bản văn này. Lời khẩn nguyện trong truyền thống của Guru Chöwang là một bài cầu nguyện dài hơn; lời khẩn nguyện trong truyền thống của Daychen Lingpa chỉ có bảy dòng.

Màu Đỏ son (Vermillion - mtshal ma). Tựa đề được viết trên bản văn cúng dường cho các vị bảo hộ của Dòng Khẩu Truyền của các vị Karmapa này là A Torma Offering to the Three Roots and the Guardians of the Doctrine (Một lễ Cúng dường Torma cho Ba Gốc và các vị Hộ Pháp - rtsa gsum bka' srung bcas kyi gtor bsngos). Tác giả của bản văn không được nói rõ; Chökyi Jungnay, Tai Situpa thứ tám, đã viết lời khẩn cầu dòng truyền thừa ở đầu bản văn.

Mật điển Bánh Xe Cực Lạc (Tantra Cực Lạc Luân) (The Tantra of Wheel of Supreme Bliss - dpal bde mchog 'byung ba zhes bya ba'i rgyud kyi rgyal po chen po) (K373).

Mật điển Hỉ Kim Cương (Hevajra) (The Tantra of Adamantine Joy - kye'i rdo rje zhes bya ba rgyud kyi rgyal po) (K417).

Mật điển Thời Luân Vinh quang (The Tantra of the Glorious Wheel of Time - mchog gi dang po'i sangs rgyas las phyung ba rgyud kyi rgyal po dpal dus ky'i 'khor lo zhes bya ba) (K362).

Mỏ Báu Hoạt động Giác ngộ (The Treasure Vault of Enlightened Activity - dpal ye shes kyi mgon po phyag drug pa'i sgrub thabs gtor ma'i cho ga dang cas pa phrin las gter mdzod) là nghi lễ cúng dường cho Bảo hộ Sáu Tay của Taranata. The Treasury of Precious Instructions of Tibetan Buddhism (Kho tàng Giáo huấn Quý báu của Phật giáo Tây Tạng), Quyển 12, trang 573-92.

"Mọi sự được thấu biết" (All that is to be known - she bya ma), cũng được gọi là The Aspiration to Travel to the Blissful Pure Land (Khát khao Đi tới Cõi Tịnh Độ Cực Lạc - bde ba can du bgrod pa’i smon lam), do Dayshin Shegpa, Karmapa đệ ngũ, biên soạn. Được bao gồm trong The Book of Common Prayer of the Oral Instruction Lineage of the Karmapas (Sách Lời Cầu nguyện Thông thường của Dòng Khẩu truyền của các Karmapa), trang 108b-110a trong ấn bản Palpung.

Một Trận Mưa Gia trì (A Rain of Blessings - bla ma'i rnal 'byor byin rlabs char 'babs kyi khrid yig) là một cẩm nang giáo huấn cho việc thực hành hợp nhất tâm của hành giả với tâm của Đạo sư tâm linh, của Payma Gyurmay Gyatso. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá, Quyển 5, trang 289-306.

Mười bốn Vi phạm Gốc (The Fourteen Root Downfalls – rdo rje theg pa'i rtsa ba'i ltung ba bcu bzhi pa'i 'grel pa) của Lakshmikara (T2485).

"Nam mô Quán Thế Âm" (Namo Lokeshvara,) cũng được gọi là The Prayer for Rebirth in the Blissful Pure Land (Lời Khẩn cầu Tái sinh trong Cõi Cực Lạc - bde ba can du skye ba 'dzin pa'i smon lam), do Dolpo Sang-gyay biên soạn.

Năm mươi câu Kệ Tán thán Đạo sư Tâm linh (Fifty Verses in Praise of the Spiritual Master – bla ma lnga bcu pa) của Aryasura (T3721). Alexander Berzin dịch sang Anh ngữ và xuất bản như một phần của The Mahamudra Eliminating the Darkness of Ignorance[i] (Đại Ấn Tiệt trừ Bóng tối Vô minh) (Dhramsala: Library of Tibetan Works and Archives, 1978).

Nghi lễ Cúng dường các Đạo sư Tâm linh của Dòng Giáo huấn Shangpa ([i]The Ritual of Offering to the Spiritual Masters of the Shangpa Instruction Lineage - ‘gro mgon shang pa bka' brgyud kyi bla ma mchod pa'i cho ga yid bzhin nor bu
) của Jamgon Kongtrul. The Treasury of Precious Instructions of Tibetan Buddhism (Kho tàng Giáo huấn Quý báu của Phật giáo Tây Tạng), Quyển 12, trang 357-88.

Nghi thức Trì tụng Tâm yếu của Tantra Hoa Sen (The Ritual for the Recitation of The Heart of the Lotus Tantra – bla ma'i thugs sgrub bar chad kun sel las rang byung bklag pas grol ba padma'i snying po'i rgyud bklag thabs dang cas pa) của Jamyang Kyentsay Wangpo. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá, Quyển 42, trang 295-302. Cũng xem: The Vajrasattva Practice of Liberation Through Hearing (Thực hành Vajrasattva Nhờ việc Lắng Nghe).

Ngọn Đèn Dầu Mè (The Sesame Oil Lamp - bka' brgyad bde gshegs 'dus pa bsnyen yig til mar sgron me) là một luận giảng cho thiền định về Tám Đại Bổn Tôn của Jamgon Kongtrul. Collected Works (Tuyển tập), Quyển 4.

Nguyện Ước của Đức Di Lặc (The Prayer of the Aspirations of Loving-Kindness - byams pa'i smon lam) là một đoạn văn nằm trong bốn mươi mốt chương đầu của Pinnacle of Jewels Discourse (Kinh Đỉnh Ngọc - dkon mchog brtsegs pa chen po chos kyi rnam grangs) (K45).

"Người dẫn đạo của ba cõi" (The guide of the three worlds - 'jig rten gsum mgon ma) là một lời cầu nguyện trường thọ cho Jamgon Kongtrul do Jamyang Kyentsay Wangpo biên soạn. Không xác định được bản văn.

Những Đời Quá khứ của Minling Terchen (The Past Lives of Minling Terchen – chos rgyal gter bdag gling pa'i 'khrung rab kyi gsol 'debs ngo mtshar rgyan gyi me tog) của Jamgon Kongtrul. Tu viện Palpung xuất bản.

Những Giáo huấn Khẩu truyền của Padmakara: Một Hướng dẫn Thực hành Thần chú (Padmakara's Oral Instructions: A Guide to Mantra Practice - yang zab dkon mchog spyi 'dus kyi bsnyen yig bklag chog tu bkod pa padma'i zhal lung) là một bản văn giáo huấn trong việc thực hành Tích tập các Châu báu, của Jamgon Kongtrul. Quyển sách này là một phần của Collected Works (Tuyển tập) của ngài nhưng không có mặt trong ấn bản của Kyentsay Rinpochay. Tu viện Palpung xuất bản.

Những Lời Nguyện Mô tả Cuộc Đời Giải thoát của các Đạo sư Tâm linh của Dòng Giáo huấn Shangpa (Prayers Describing the Lives of Freedom of the Spiritual Masters of the Shangpa Instruction Lineage - dpal ldan shangs pa bka' brgyud kyi ngo mtshar rin chen brgyud pa'i rnam thar gsol 'debs u dumba ra'i phreng ba) của Jamgong Kongtrul. The Treasury of Precious Instructions of Tibetan Buddhism (Kho tàng Giáo huấn Quý báu của Phật giáo Tây Tạng), Quyển 12, trang 389-448.

Những Vồng Mây Đức hạnh Tốt lành (Billowing Clouds of Auspicious Virtue – rgyun gyi bsangs mchod dge legs sprin phung) là một món cúng dường cho chúng sinh trong trạng thái giữa sự chết và tái sinh, của Jamgon Kongtrul. Collected Works (Tuyển tập), Quyển 12, trang 487-504.

Núi Những món Cúng dường được Thiêu đốt (The Mountain of Burnt Offerings – rig 'dzin srog sgrub las ri bo bsang mchod) là một bản văn dùng cho những lễ cúng dường để trang trải những món nợ nghiệp, trước tiên được nghe bằng âm thanh của trống tay mà Lhatsun Namka Jikmay đã đánh khi ngài khai mạc một miền đất linh thánh ở Sikkim. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 43, trang 569-72.

Núi Sắt (The Iron Mountain - padma 'od 'bar tse sgrub lcags kyi ri bo gud du phyes nas bskur tshul bltas chog bsdus te byas pa), một thực hành trường thọ của Karma Chagmay. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 8, trang 81-92. Đây là quán đảnh được nối kết với thực hành này; tôi không tìm được bản văn thực hành này.

Pháp Bảo của sự Giải thoát (The Jewel Ornament of Liberation – (dam chos yid bzhin nor bu thar pa rin po che'i rgyan) của Gampopa. H.V. Guenther dịch sang Anh ngữ (Boston: Shambhala, 1959).

Phổ Hiền Hạnh Nguyện (The Prayer of Excellent Conduct - bzang po spyod pa'i smon lam), từ The Flower Ornament Discourse (Kinh Hoa Nghiêm). Thomas Cleary dịch trong The Flower Ornament Scripture (Kinh Hoa Nghiêm) (Boston: Shambhala, 1987), Quyển 3, trang 387-94.

Rắn Hổ mang Như ý (The Wish-Fulling Cobra - klu gtor gdengs can 'dod 'jo) là một món cúng dường cho các vị rồng của Gyurmay Dorjay. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá, Quyển 28, trang 43-52.

Sách Lời Nguyện Thông thường của Dòng Khẩu truyền của các Karmapa (The Book of Common Prayer of the Oral Instruction Lineage of the Karmapas – dpal ldan karma bka' brgyud kyi rjes su 'brang ba'i dge 'dun rnams kyi thun mong tshogs su zhal 'don du bya ba'i chos spyod kyi rim pa legs lam rab gsal) do Chökyi Jungnay, Tai Situpa thứ tám biên soạn. Được xuất bản tại các tu viện Palpung và Rumtek.

Sự Giải thoát Toàn triệt khỏi Ba Cõi (The Complete Liberation of Three Worlds - rdzogs pa chen po yang zab bla sgrub dkon mchog sphyi 'dus las: rdzogs rim khrid yig khams gsum yongs grol) gồm những giáo huấn dành cho các thiền định thuộc giai đoạn toàn thiện được kết hợp với Tích tập các Châu báu. Của Jamgon Kongtrul. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 8, trang 281-362.

"Tất cả các Đấng Chiến Thắng trong ba thời" (All the victors of the three times – dus gsum rgyal kun) là một khẩn cầu do Minling Terchen viết cho bản thân. "Thanh tịnh tự nguyện thủy" (Pure from the origin – gdod nas rnam dag) là một lời khẩn cầu do Payma Nyinjay Wangpo biên soạn cho chính mình. Thực hành Ngắn gọn Hàng ngày về vị Bảo hộ (The Brief Daily Practice of the Protector - mgon po'i rgyun khyer bsdus pa) là một bản văn dùng để cúng dường torma cho các vị bảo hộ Dòng Khẩu Truyền của các vị Karmapa, của Karmapa thứ mười bốn, Tekchok Dorjay.

Thực hành Súc tích Hàng ngày Cúng dường Torma cho các vị Hộ Pháp (The Concise Daily Practice of Offering Tormas to Guardians of the Doctrine - bla ma dgongs 'dus kyi bka' srung chos srung gter srung gi gtor tshogs rgyun khyer bsdus pa) cho thực hành Thị Kiến Tinh túy của Đạo sư Tâm linh. Của Karma Chakmay. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 7, trang 421-40.

Thực hành Vajrasattva Giải thoát Nhờ việc Lắng Nghe (The Vajrasattva Practice of Liberation Through Hearing - bla ma'i thugs sgrub bar chad kun sel las rigs bdag rdo rje sems dpa'i gsang sngags thos pas grol ba) của Jamyang Kyentsay Wangpo. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 42, trang 289-302. Bản văn này bao gồm The Ritual for the Recitation of The Heart of the Lotus Tantra (Nghi thức Trì tụng Cốt lõi của Mật điển Liên Hoa) (trang 295-302).

Tinh túy Bí mật: Tantra Huyễn hóa (The Secret Essence: The Tantra of Illusion - rgyud thams cad kyi rgyal po dpal sgyu 'phrul rtsa ba'i rgyud gsang ba'i snying po), Tarthang Tulku xuất bản, Berkeley, 1969.

Trang nghiêm Tâm Guru (The Ornament of the Guru's Mind - rdzogs pa chen po yang zab bla sgrub dkon mchog spyi 'dus kyi khrid yig gu ru'i dgongs rgyan nyin byed snying po'i) là một bản văn giáo huấn trong việc thực hành Tích tập các Châu báu của Tsaywang Norbu. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 8, trang 177-280.

Tràng Hoa Tuyệt đẹp (The Beautiful Garland of Flowers - bla ma dgongs pa ‘dus pa las phrin las lam khyer bsdus pa me tog phreng mdzes) là nghi lễ hoạt động cho Thị Kiến Tinh túy của Đạo sư Tâm linh, do Sang-gyay Lingpa khám phá. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 7, trang 387-416.

Trận Mưa Trí tuệ (The Rain of Wisdom - mchog gi dngos grub mngon du byed pa’i myur lam bka' brgyud bla ma rnams kyi rdo rje'i mgur dbyangs ye shes char ‘bebs rang grol lhun grub bde chen rang 'bar nges don rgya mtsho'i snying po) do Chökyi 139 Jungnay, Tai Situpa thứ tám biên soạn. Ủy ban Dịch thuật Nalanda dịch sang Anh
ngữ (Boulder: Shambhala, 1980).

Trí tuệ Chói ngời (Radiant Wisdom - rje btsun ras pa chen po la brten pa'i bla ma’i rnal 'byor tshogs mchod dang bcas pa ye shes dpal 'bar) là một thiền định về Milarepa của Jamgon Kongtrul. Collected Works (Tuyển tập), Quyển 1, trang 457-72.

Trì tụng Danh hiệu của Sự Tráng lệ Dịu dàng (Reciting the Names of Gentle Splendor - 'phag pa 'jam dpal gyi mtshan yang dag par brjod pa) (K360). Alex Wayman dịch sang Anh ngữ là Chanting the Names of Manjushri (Hát tụng Danh hiệu của Đức Văn Thù) (Boston: Shambhala, 1985).

"Trước sự hiện diện của chư Phật" (In the presence of the buddhas - rgyal ba mdun ma) cũng được gọi là The Supplication to the Omniscient Father and Spiritual Heirs of the Jonang Lineage (Sự Khẩn cầu Thân phụ Toàn trí và vị Kế thừa Tâm linh của Dòng Jonang - kun mkhyen jo nang pa chen po chos rje yab sras rnams kyi gsol 'debs byin rlabs can) của Nya-Ön Kunga.

Từ Tâm (Loving Mind - sems btse ma) là một lời cầu nguyện rút ra từ một đoạn văn trong The Ornament of the Discourses (Sự Trang nghiêm của Kinh điển) của Bồ Tát Từ Ái (Di Lặc) (T4020).

Vui hưởng Đại Lạc (The Enjoyment of Great Bliss - sgrub chen bka' brgyad bde gshegs 'dus pa'i las byang bde ba chen po'i rnam rol) là nghi lễ hoạt động cho Tập hội các Đấng Hỉ lạc của Tám Đại Bổn Tôn. Của Gyurmay Dorjay. The Treasury of Rediscovered Teachings (Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá), Quyển 14, trang 185-238.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 26/06/15 07:21

    PHỤ LỤC 3

    NHỮNG NHÂN VẬT ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG CẢM NANG NHẬP THẤT
Ananda (kun dga'o, A Nan, A Nan Đà - "Khánh Hỷ") là em họ của Đức Phật và là một trong những đệ tử thân thiết nhất của Ngài. Ananda được coi là một trong những hóa thân đời trước của Kongtrul.

Atisha (982-1054) (A Đề Sa) được nhắc tới trong bản văn này bằng tên riêng Jowo (jo bo, "Ngài"). Là một Đạo sư Ấn Độ, giáo lý của ngài nổi tiếng như là Dòng Giáo huấn Lời Dạy của Đức Phật ở Tây Tạng.

Berotsana (Vairochana, "Bậc Soi Sáng Hình Tướng" (thế kỷ thứ bảy/thứ tám) là một trong những đệ tử chính của Guru Rinpochay. Ngài được coi là một trong những hóa thân đời trước của Kongtrul.

Chetsun Sengay Wangchuk (lche btsun seng ge dbang phyug, "Ngôn ngữ Cao quý, Sư Tử Uy dũng") (thế kỷ mười một/mười hai) là một nhà khám phá các bản văn kho tàng đã nhận các giáo huấn từ Vimalamitra trong các linh kiến trong nửa tháng khi đang nhập thất. Việc ngài xuất hiện trước Jamyang Kyentsay Wangpo trong một linh kiến là sự kiện đã tạo nên các giáo huấn được gọi là Tinh túy Sâu xa của Vimalamitra.

Chökyi Jungnay (chos kyi 'byung gnas, "Nguồn mạch của Giáo huấn Tâm linh") 1700-1775), Tai Situpa thứ tám, đã thành lập Tu viện Palpung.

Chöwang, cũng được gọi là Guru Chöwang; tên đầy đủ là Guru Chökyi Wangchuk (gu ru chos kyi dbang phyug, "Thủ hộ của Đời sống Tâm linh") (1212-1270). Vị khám phá các bản văn kho tàng bao gồm thực hành tên là Bí mật Cốt tủy.

Dakpo Rinpochay (dvaks po rin po che, "Vị Thầy Quý báu xứ Dakpo" là danh hiệu khác của Gampopa.

Daychen Lingpa (bde chen gling pa, "Đại Lạc"), một vị khám phá kho tàng của thế kỷ mười sáu. Được nhắc đến trong bản văn này như Đạo sư chịu trách nhiệm để Lời Khẩn nguyện Guru Rinpochay Bảy Dòng được phổ biến thật rộng rãi.

Dharmashri ("Giáo huấn Tâm linh Vinh quang") (1654-1718) là anh (em) của Terdak Lingpa và tác giả của nhiều bản văn thiền định của truyền thống Minling.

Dolpopa hay Dolpo Sang-gyay (dol po sangs rgyas, "Đức Phật ở Dolpo") (1292- 1361) là một trong những Đạo sư kiệt xuất của Dòng Giáo Huấn Kim Cương Du già.

Drimay Özer (dri med 'od zer, "Ánh sáng Toàn hảo") xem Longchen Rabjam Zangpo.

Düdul Dorjay ([i]bdud 'dul rdo rje
, "Kim cương Chiến Thắng Quỷ ma") (1733-1797) là Karmapa thứ mười ba.

Gampopa (sgam po pa, "Người xứ Gampo") (1079-1153) là đệ tử chính của Milarepa và là vị Thầy chính của Karmapa đệ nhất.

Garwang Chökyi Wangchuk (gar dbang chos kyi dbang phyug, "Đạo sư Vũ điệu, Pháp vương của Đời sống Tâm linh") (1584-1635) là Sharmapa thứ sáu.

Guru Rinpochay (gu ru rin po che, "Đạo sư Cao quý") là Đạo sư Ấn Độ vào thế kỷ thứ bảy/thứ tám, đã thành công trong việc thiết lập thực hành Phật giáo Mật thừa thật vững chắc ở Tây Tạng.

Humkara (thế kỷ thứ bảy/thứ tám) là một trong tám Đạo sư Ấn Độ vĩ đại đã góp phần khiến cho các giáo huấn trở thành Dòng Giáo huấn Cổ truyền ở Tây Tạng.

Jamgon Lama Payma Garwang ('jam mgon bla ma padma gar dbang, "Bậc Bảo trợ Cao quý, Đạo sư Hoa Sen Vũ điệu") (1813-1899) là danh hiệu Kongtrul dùng để ám chỉ bản thân ngài trong bản văn này. Payma Garwang là danh hiệu Mật thừa của ngài.

Jamyang Khyentsay Wangpo ([/i]'jam dbyang mkhyen btse dbang po[/i], "Giai điệu mượt mà, Năng lực Trí tuệ và Từ ái") (1820-1892) là vị Thầy, nguồn cảm hứng, và bạn của Kongtrul.

Jikten Sumgon ('jig rten gsum mgon), "Vị Bảo hộ của Ba Cõi") (1143-1217) là người thành lập hệ thống tu viện của dòng Drikung Kagyu.

Karma Chakmay (karma chags med – "Không Vướng mắc") (1613-1678) là một Đạo sư mà rất nhiều tác phẩm đã trở thành một phần của các Dòng Giáo huấn Cổ truyền và Dòng Giáo huấn Khẩu truyền.

Kasyapa ([i]'od srung
, "Ẩm Quang"; Ca Diếp), một đệ tử thân thiết của Đức Phật, đảm đương trách nhiệm lãnh đạo Tăng Đoàn sau thị Đức Phật nhập Niết Bàn.

Kyungpo Naljor (khyung po rnal 'byor, "Yogi Garuda, Hành giả Kim Xí Điểu") (978- 1127) là người Tây Tạng đã đến Ấn Độ nhiều lần để tìm cầu Phật pháp. Những vị Thầy tâm linh chính yếu của ngài là hai phụ nữ, Niguma và Sukasiddhi; giáo lý của ngài nổi tiếng ở Tây Tạng là Dòng Giáo huấn Shangpa. Ngài được coi là một trong những hóa thân đời trước của Kongtrul.

Longchen Rabjam Zangpo ([i]klong chen rab 'byams bzangpo
, "Tuyệt hảo Rộng lớn Vô hạn", "Bậc Hiền Trí Quảng bác" (1318-1363), cũng được gọi là Longchenpa, là một học giả và thiền sư kiệt xuất của Dòng Giáo huấn Cổ truyền. Ngài được coi là một trong những hóa thân đời trước của Kongtrul.

Marpa (marpa) (1012-1096) là người Tây Tạng đến Ấn Độ để cầu tìm Phật pháp. Giáo lý của ngài nổi tiếng ở Tây Tạng là Dòng Giáo huấn Khẩu truyền của Marpa.

Milarepa (mi la ras pa) (1040-1123) là đệ tử chính yếu của Marpa. Ngài sử dụng phần lớn đời mình để thiền định trong các hang động ở miền tây và trung Tây Tạng và miền bắc Nepal.

Namkay Nyingpo (nam mkha'i snying po, "Tinh yếu của Pháp giới") (thế kỷ thứ bảy/thứ tám) là một trong những đệ tử chính của Guru Rinpochay.

Naropa (thế kỷ mười một), một học giả trở thành hành giả người Ấn Độ, là vị Thầy chính của Marpa.

Niguma (thế kỷ mười một), là em (chị) hay vợ của Naropa, là một vị Thầy chính của Kyungpo Naljor.

Orgyen Laytro Lingpa (o rgyan las phro gling pa, "Oddiyana, Bậc được Tiền Định") (1585-1656) là một nhà khám phá các bản văn kho tàng trong đó có thực hành Tích tập các Châu báu. Cũng được gọi là Jatson Nyingpo ('ja' mtshon snying po, "Trái Tim của Cầu vồng")

Orgyen Terdak Lingpa (o rgyan gter bdag gling pa, "Vị Thủ lãnh các Kho tàng"), cũng được gọi là Gyurmay Dorjay ('gyur med rdo rje, "Kim Cương Bất biến") (1646- 1714), là người sáng lập tu viện Mindrol Ling và vị khám phá nhiều bản văn kho tàng. Ngài được coi là một trong những hóa thân trước đây của Kongtrul.

Payma Gyurmay Gyatso (padma 'gyur med rgya mtsho, "Hoa Sen, Biển Bất biến" (sinh cuối thế kỷ mười bảy) là con trai và đệ tử chính yếu của Orgyen Terdak Lingpa.

Payma Nyinjay Wangpo (padma nyin byed dbang po, "Hoa Sen, Mặt Trời Đầy Năng lực") (1774-1853), Tai Situpa thứ chín, là vị Thầy chính yếu của Kongtrul.

Rangjung Dorjay (rang 'byung rdo rje[/i], "Kim cương Tự Sinh") (1284-1339) là Karmapa thứ ba.

Sang-gyay Lingpa (sangs rgyas gling pa, "Phật") (1340-1396) là một vị khám phá các bản văn kho tàng, bao gồm The Quintessential Vision of Spiritual Master (Thịkiến Cốt tủy của Đạo sư Tâm linh).

Sukhasiddhi ("Thành tựu Hỉ lạc") (thế kỷ mười một), một nữ Đạo sư Ấn Độ, là một trong những vị Thầy chính của Kyungpo Naljor.

Tang Tong Gyalpo (thang stong rgyal po,) "Vua của Phạm vi Tánh Không" (1385-1510) là một nhân vật quan trọng trong nhiều dòng truyền thừa của giáo huấn thiền định. Trong quyển sách này, ngài được nhắc đến như người sáng lập mộtkiểu thực hành của Dòng Giáo huấn Shangpa mà ngài nhận từ Niguma.

Taranata (Phạn: taranatha; Tây Tạng: sgrol ba'i mgon po, "Vị Bảo hộ Giải thoát") (1575-1634) là một trong những nhân vật quan trọng của Dòng Giáo huấn Shangpa và Dòng Giáo huấn Kim cương Du già. Ngài được coi là một trong những hóa thân đời trước của Kongtrul.

Tekchok Dorjay (theg mchog rdo rje, "Kim cương của Con Đường Siêu việt") (1797-1845), Karmapa thứ mười bốn, là một trong những vị Thầy của Kongtrul.

Terchen Rinpochay (gter chen rin po che, "Vị Khám phá Kho tàng Vĩ đại Cao quý") là danh hiệu Kongtrul dùng trong việc ám chỉ Chok-gyur Daychen Lingpa (mchog gyur bde chen gling pa, "Đại Lạc Siêu việt") (1829-1870), một trong những vị Thầy và bạn hữu của Kongtrul.

Vimalamitra (dri med bshes gnyen, "Thiện tri thức Không Lỗi lầm" thế kỷ thứ bảy/tám), một Đạo sư Ấn Độ, một trong những vị Thầy của Guru Rinpochay đến Tây Tạng, là một trong tám Đạo sư Ấn Độ vĩ đại đã đóng góp cho các giáo huấn đã trở thành Dòng Giáo huấn Cổ truyền.

Wangchuk Dorjay (dbang phyug rdo rje, "Kim cương Uy lực") (1556-1603) là Karmapa thứ chín.

Yeshay Tsogyal (ye shes mtsho rgyal, "Nữ Hoàng Biển Trí tuệ") (thế kỷ thứ bảy/tám) là một trong những đệ tử chính yếu của Guru Rinpochay.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: CẨM NANG NHẬP THẤT CỦA JAMGON KONGTRUL

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 26/06/15 07:21

    PHỤ LỤC 4

    CHƯ PHẬT, BỒ TÁT, BỔN TÔN
    VÀ CÁC THỰC HÀNH ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG CẨM NANG NHÂP THẤT
Ba Bổn Tôn Vàng (Serpo Kor Sum, ser po skor gsum) là ba vị trời tài bảo, tất cả đều có màu vàng: Nam tử của Người Nổi tiếng [Vaishravana], Jambhala Vàng, và Thiên nữ Tài bảo Bất tận (Lhamo Nor Gyunma, lha mo nor rgyun ma)

Ba Thiền định trong Hành động (Lam Kyer Nam Sum, lam khyer rnam gsum) là thực hành thiền định theo sau Đại Ấn trong Dòng Giáo huấn Shangpa.

Bạch Thánh Nữ (Karachi Trắng; Kachö Karmo, mkha' spyod dkar mo) là một dakini, thiền định của vị này tạo thành một phần của Dòng Giáo huấn Shangpa.

Bảo hộ Sáu Tay (Mahakala; Chak Drukpa, phyag drug pa) là một vị bảo hộ có những thực hành khởi đầu từ Ấn Độ di chuyển sang những vùng nói tiếng Tây Tạng qua Kyungpo Naljor và Dòng Giáo huấn Shangpa. Từ đó vị này trở thành một trong những bảo hộ được thực hành rộng rãi nhất.

Bảo hộ Hoàn toàn Giác ngộ Hành động Nhanh chóng (Nyur Dzay Yeshay Kyi Gonpo, myur mdzad ye shes kyi mgon po) là tên khác của Bảo hộ Sáu Tay.

Bậc Mặc Áo choàng Đen Kim Cương (Dorjay Bernak Chen, rdo rje ber nag can,) là vị bảo hộ chính của các Karmapa.

Bất tử và Bất Nhập (hoặc hiện hữu sinh tử hoặc an bình viên mãn) (Chimay Chukmay, 'chi med 'chug med) là tột đỉnh của các giáo lý thuộc Dòng Giáo huấn Shangpa.

Bí mật Cốt tủy (Sangwa Dupa, gsang ba 'dus pa), một giáo lý kho tàng do Guru Chöwang khám phá, được Kongtrul xếp loại trong Kho tàng Giáo lý được Tái Khám phá như một thiền định về thân hiển lộ giác ngộ về mặt vật lý thuộc hình tướng an bình của Guru Rinpochay.

Cắt đứt (Chö, gcod) là dòng thực hành duy nhất trong tám dòng thực hành nở rộ trong vùng Hy mã lạp sơn có nguồn gốc ở Tây Tạng. Người phụ nữ đã phát triển pháp thực hành này là Ma Chik Labdron.

Cắt đứt sự Vững chắc của việc Bám chấp (Trek Chö, kregs chod) là một trong hai phần chính yếu của thực hành Đại Viên mãn.

Chakrasamvara (Cực Lạc Luân; Korlo Demchok, 'khor lo bde mchog) là một Bổn Tôn của tantra tối thượng trong những tantra thuộc Tân Dịch.

Cổ Ngựa Đen (Hayagriva Đen; Tamdrin Nakpo, rta mgrin nag po) là một thân tướng phẩn nộ đặc biệt của Cổ Ngựa, Bổn Tôn phẫn nộ của Liên Hoa bộ trong Tám Đại Bổn Tôn.

Cực Lạc Luân (xem Chakrasamvara)

Di Lặc (xem Từ Ái)

Dakini Đầu Sư tử (Singhamukha; Sengay Dongma, seng ge sdong ma) là một biểu lộ phẩn nộ có tính cách nữ của sự giác ngộ, ở đây được đề cập đến như một hình tướng của Guru Rinpochay trong thực hành Tích tập các Châu báu.

Đại Ấn (Mahamudra; Chak-gya Chenpo, phyag rgya chen po) ám chỉ các thiền định tối thượng và trực tiếp nhất về bản tánh của tâm được truyền dạy trong một số dòng giáo huấn.

Đại Ấn của Hộp Linh phù (Chakchen Gau Ma, phyag chen ga'u ma) là tên của một thực hành Đại Ấn trong Dòng Giáo huấn Shangpa. Nó được gọi như vậy là bởi Kyungpo Naljor, người Tây Tạng đã thọ nhận những giáo huấn từ Niguma, giữ gìn chúng trong một hộp linh phù mà ngài đeo ở cổ.

Đại Viên mãn (Mahamudra; Chak-gya Chenpo, phyag rgya chen po) ám chỉ các thiền định tối thượng và trực tiếp nhất về bản tánh của tâm được truyền dạy trong một số dòng giáo huấn.

Đạo sư An bình (Guru Shiwa, gu ru bzi ba) là một thân tướng của Guru Rinpochay trong thực hành Tích tập các Châu báu.

Đạo sư Phẩn nộ (xem Guru Drakpo)

Đức Phật Bất Động (Akshobya; Mitrukpa, mi 'khrug pa) là vị lãnh đạo Kim Cương Bộ.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakya Tupa, shakya thub pa; "Hiền nhân của thị tộc Shakya") và Đức Phật lịch sử.

Đức Phật Toàn Giác (Đại Nhật Như Lai, Tỳ Lô Giá Na - Maha-Vairochana; Kun Rik, kun rig) là một Bổn Tôn thuộc cấp độ đầu tiên của Mật điển trong các Mật điển của Cựu Dịch.

Đức Phật Vô Lượng Quang (Amitabha; Öpakmay, 'od dpag med) là vị lãnh đạo của Liên Hoa Bộ và của Cõi Cực Lạc, nơi các Phật tử thuộc nhiều nền văn hóa, kể cả Tây Tạng, ước nguyện được tái sinh.

Ekajati (xem Nữ Bảo hộ Thần chú)

Giai điệu Dịu dàng (Majugosha; Jampay Yang, 'jam pa'i dbyangs) là danh hiệu khác của Tráng lệ Dịu dàng (Manjushri – Văn Thù), một trong tám đại Bồ Tát.

Guru Drakpo (Guru Phẩn nộ, gu ru drak po) là hình tướng bí mật của Guru Rinpochay trong thực hành Tích tập các Châu báu.

Hayagriva Đen (xem Cổ Ngựa Đen)

Hắc Thủ hộ Sinh mệnh (Tsaydak Nagpo, tshe bdag nag po) là một hình thức của vị Hàng phục Thần Chết (Yamantaka; Shinjay Shay, gshin rje gshed), Bổn Tôn phẩn nộ của Phật bộ, trong Tám Bổn Tôn Vĩ đại.

Hevajra (Hỉ Kim Cương; Gyaypa Dorjay, dgyes pa rdo rje) là một Bổn Tôn của tantra tối thượng trong các tantra của Tân Dịch.

Hỉ Kim Cương (xem Hevajra).

Hồng Thánh Nữ (Karachi Đỏ; Kachö Marmo, mkha' spyod dmar mo) là một dakini, thiền định của vị này tạo thành một phần của Dòng Giáo huấn Shangpa.

Kalachakra (Thời Luân; Dukyi Korlo, dus kyi 'khor lo) là Bổn Tôn mà sự thiền định biểu trưng cho các tantra vô thượng của Tân Dịch.

Karachi Đỏ (xem Hồng Thánh Nữ).

Karachi Trắng (xem Bạch Thánh Nữ).

Kim Cương Phổ Ba (Vajra Kilaya; Dorjay Purba, rdo rje phur ba[.i]) là Bổn Tôn phẩn nộ của nghiệp bộ trong Tám Đại Bổn Tôn. Phổ ba (lưỡi dao) mà ngài cầm có ba cạnh.

Kim Cương Thanh Xuân (Dorjay Shunnu, [i]rdo rje gzhun nu
) là danh hiệu khác của Vajra Kilaya (Kim Cương Phổ Ba).

Kim Cương Trì (xem Vajradhara)

Lokatri (Drangsong Drimay, drang srong dri med) là một hình tướng hung nộ của Bồ Tát Kim Cương Thủ (Vajrapani; Chakna Dorjay, phyag na rdo rje).

Mamo ở Mộ Địa (Dutrö Mamo, dud khrod ma mo) là một nữ bảo hộ của Dòng Giáo huấn Cổ truyền.

Nam tử của Người Nổi tiếng (Vaishravana; Namtosay, rnam thos sras) là một vị trời tài bảo và bảo vệ của phương bắc.

Năm Bổn Tôn Mật thừa (Juday Lha Nga, rgyud sde lha lnga), một thực hành thiền định trong Dòng Giáo huấn Shangpa, tập họp năm Bổn Tôn của Mật điển Du già Tối thượng thành một thiền định.

Nữ Bảo hộ Thần chú (Ekajati; Ngag Sungma, sngag srung ma) là một trong những nữ bảo hộ chính yếu của Dòng Giáo huấn Cổ truyền.

Nữ Hoàng của sự Hiện hữu (Sipa Gyalmo, srid pa rgyal mo) là một nữ bảo hộ của Dòng Giáo huấn Cổ truyền.
Phổ Hiền (Samantabhadra; Kuntu Zangpo, kun tu bzang po) là một danh hiệu của một vị Phật và một Bồ Tát. Trong bản văn này, Kongtrul nhắc đến vị Phật (Đức Phật Phổ Hiền), biểu lộ tối thượng của sự giác ngộ trong hệ thống của Dòng Giáo huấn Cổ truyền.

Sáu Giáo lý của Niguma (Nigu Chö Druk, ni gu chos drug) là môt bộ gồm sáu thiền định mà Niguma đã trực tiếp nhận từ Đức Phật Kim Cương Trì. Những giáo lý này tạo thành cội gốc của Dòng Giáo huấn Shangpa.

Sáu Giáo lý của Sukasiddhi (Suka Chö Druk, su kha chos drug) là một bộ gồm sáu thiền định mà Sukasiddhi đã nhận trực tiếp từ Đức Phật Kim Cương Trì. Các giáo lý này tạo thành một phần của Dòng Giáo huấn Shangpa.

Sáu Nhánh Ứng dụng (Jorwa Yenlak Druk, sbyor ba yan lag drug) là những thiền định thuộc giai đoạn thành tựu của Dòng Giáo huấn Kim cương Du già.

Sinh Lực Bí mật (Sangtig, gsang thig) là một giáo lý kho tàng do Chok-gyur Daychen Lingpa khám phá trong vùng lân cận trung tâm nhập thất của Kongtrul. Ba thực hành chính của chu trình này – Vajrasattva, Yangdak, và Vajra Kilaya (Kim Cương Phổ Ba)

Tara (Drolma, grol ma; "Đức Bà Giải thoát") là một Bồ Tát đã thệ nguyện sẽ luôn luôn sinh làm một nữ nhân và sánh ngang hoạt động giác ngộ của tất cả chư Phật.

Tara Trắng (Drolkar, grol dkar) hay Bánh Xe Như ý (Yishin Korlo, yid bzhin 'khor lo) là hình tướng của Đức Tara, bậc ban sự trường thọ và trí tuệ.

Tám Đại Bổn Tôn (Tám Hình tướng Vĩ đại của các Bổn Tôn - Drubpa Ka Jay, sgrub pa bka' rgyad) là những thiền định về tám hình tướng của các Bổn Tôn phẩn nộ. Những thực hành này là các thiền định chính yếu thuộc giai đoạn phát triển của Dòng Giáo huấn Cổ truyền.

Tâm Yếu của các Bậc Hộ trì Giác tánh (Rikzin Tuktig, rig 'dzin thug thig), giáo lý kho tàng thứ nhất do Orgyen Terdak Lingpa khám phá, được Kongtrul xếp loại trong Kho tàng Giáo lý được Tái khám phá như một thiền định về thân giác ngộ được hiển lộ về mặt vật lý của thân tướng an bình của Guru Rinpochay.

Tâm Yếu của Longchenpa (Longchen Nyingtig, klong chen snying thig) là một giáo lý kho tàng do Jigmay Lingpa khám phá qua ba linh kiến mà ngài có về Longchenpa. Kongtrul đặt bản văn này trong tiết mục Ati Yoga trong Kho tàng Giáo lý được Tái khám phá.

Tâm Yếu của Vimalamitra (Vima Nyingtig, vi ma snying thig) là một tuyển tập về Đại Viên mãn bắt nguồn từ Vimalamitra, một Đạo sư Ấn Độ đã viếng thăm Tây Tạng trong thời của Guru Rinpochay. Giáo trình này được truyền dạy trong Dòng Giáo huấn Cổ truyền.

Tập hội các Đấng Hỉ lạc của Tám Bổn Tôn Vĩ đại (Kajay Daysheg Dupa, bka' brgyad bde gshegs 'dus pa), một giáo lý kho tàng do Nyang Ral Nyima Özer khám phá, là một thiền định bao gồm tất cả các Bổn Tôn của Tám Bổn Tôn Vĩ đại.

Thị kiến Cốt tủy của Đạo sư Tâm linh (Gongdu, dgongs 'dus), một giáo lý kho tàng do Sang-gyay Lingpa khám phá, được Kongtrul xếp loại trong Kho tàng các Giáo lý được Tái khám phá như một thiền định về thân giác ngộ hiển lộ về mặt vật lý của hình tướng an bình của Guru Rinpochay.

Thị kiến Trực tiếp (Tögal, thod rgal) là cấp độ tối thượng của thực hành Đại viên mãn.

Thiên nữ Trường Thọ (Tseringma, tshe ring ma) là một trong những vị bảo hộ chính yếu của vùng Hy mã lạp sơn. Do ảnh hưởng của Guru Rinpochay và Milarepa, bà và bốn thiên nữ trong đoàn tùy tùng đã cam kết bảo vệ Phật giáo.

Thiên nữ Vinh quang (Lhamo Palchenmo, lha mo dpal chen mo) có vẻ là một thiên nữ tài bảo.

Thời Luân (xem Kalachakra).

Thực hành Hợp nhất của Bốn Bổn Tôn (Lha Shi Drildrub, lha bzhi dril sgrub) một thực hành thiền định của Dòng Giáo huấn Shangpa, tập hợp bốn Bổn Tôn thành một thiền định. Bởi Đạo sư tâm linh là nhân vật chính yếu trong hình tướng, thực hành này được coi là một thực hành của sự hợp nhất với tâm của Đạo sư tâm linh.

Tích tập các Châu báu (Könchog Chidu, dkon mchog spyi 'dus), một giáo lý kho tàng do Orgyen Laytro Lingpa khám phá, được Kongtrul phân loại trong Kho tàng Giáo lý được Tái khám phá như một thiền định hiển lộ sự giác ngộ về mặt vật lý của thân tướng an bình của Guru Rinpochay.

Tinh Lực của sự Giải thoát (Drol Tig, grol tig) là một giáo lý kho tàng do Drodul Lingpa khám phá.

Tinh túy Thâm sâu của Đạo sư Tâm linh (Lama Yangtig, bla ma yang thig) là một loạt giáo lý của Longchenpa về Tâm Yếu của Vimalamitra.

Tinh Yếu Sâu xa của Vimalamitra (Vimalay Zabtig, vi ma la'i zab thig) là một giáo lý kho tàng được Jamyang Kyentsay Wangpo nhớ lại vào năm hai mươi bốn tuổi. Chất xúc tác cho việc khám phá là một linh kiến ngài có về Chetsun Sengay Wangchuk. Kongtrul đặt bản văn này trong mục về Ati Yoga trong Kho tàng Giáo lý
được Tái khám phá.

Tráng lệ Dịu dàng (xem Giai điệu Dịu dàng)

Trokma ('phrog ma) là một tinh linh ác hại đã bị Đức Phật buộc phải thệ nguyện. Bởi đã cam kết không làm hại con người, mỗi ngày tinh linh này nhận được một phần ăn từ các tu sĩ.

Tseringma (xem Thiên nữ Trường Thọ).

Từ Ái (Di Lặc; Maitreya; Jampa, byams pa) là một trong tám đại Bồ Tát.

Vaishravana (xem Nam tử của Người Nổi tiếng).

Vajradhara (Kim Cương Trì; Dorjay Chang, rdo rje 'chang) là thân tướng mà Đức Phật xuất hiện khi giảng dạy tantra.

Vajra Kilaya (xem Kim cương Phổ ba)

Vajrasattva (Kim Cương Tát Đỏa, Dorjay Sempa, rdo rje sems dpa') là một trong những vị Phật chính của Phật giáo Mật thừa.

Văn Thù (xem Giai điệu Dịu dàng).

Vị Vua Xuất chúng của các Mamo (Mamo Ngondzok Gyalpo, ma mo mngon rdzogs rgyal po) là một Bổn Tôn phẫn nộ trong Tám Hình tướng Vĩ đại của các Bổn Tôn (Tám Bổn Tôn Vĩ đại)

Yangdak Heruka (yang dag he ru ka) là Bổn Tôn phẫn nộ của Kim cương Bộ trong Tám Bổn Tôn Vĩ đại.

- HẾT -
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)


Quay về “Mật tông”

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách