Thức Ăn Của Bồ Tát

Thảo luận về giáo lý và hành pháp mật Tông và Mật giáo Tây Tạng.

Điều hành viên: kimcang

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Thức Ăn Của Bồ Tát

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 07/11/14 20:27

thucanbotat.jpg
thucanbotat.jpg (105.42 KiB) Đã xem 1253 lần

Food of Bodhisattvas
THỨC ĂN CỦA BỒ TÁT
Giáo Lý Của Đạo Phật Về Việc Từ Bỏ Ăn Thịt
Shabkar Tsogdruk Rangdrol
Diệu Nguyệt
Tâm Bảo Đàn
Konchog Sherab Droma
Chuyển ngữ

Việt Nalanda Foundation ấn tống 2012


    Nguyện hồi hướng tất cả công đức
    đến quả vị Giác Ngộ của tất cả chư Đạo Sư
    của tất cả các dòng truyền thừa
    cùng toàn thể
    pháp giới chúng sinh...


    Lời Giới Thiệu
    Pema Wangyal
Tôi thật vô cùng vui sướng khi Nhóm Dịch Thuật Padmakara (Padmakara Translation Group) đã hoàn thành công việc chuyển ngữ những trang sách quý báu này. Đại sư Shabkar đã vạch rõ cho chúng ta thấy rằng thú vật, côn trùng, và ngay cả loài tôm cua, sò hến cũng chính là pháp giới chúng sinh. Vì tất cả các loài này cũng biết trân quý mạng sống và có nhiều xúc giác, nên chúng ta phải hết sức tôn trọng chúng, không khác gì tôn trọng loài người.

Nếu chúng ta tự coi chúng ta là những người Phật tử đang bước đi trên con đường tu theo truyền thống Đại Thừa... Nếu chúng ta có ước nguyện sống xứng đáng với những giáo huấn của đức Phật thì bằng mọi giá, chúng ta phải nhất quyết tránh xa việc hãm hại bất cứ một chúng sinh nào, dù là trực tiếp hay gián tiếp. Điều này đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong những trang sách quý báu này (của đại sư Shabkar). Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta không thể tự tay sát hại hay hành hạ những chúng sinh này, mà cũng không thể xúi đẩy người khác tham dự vào việc sát hại hay hành hạ chúng.

Khi chúng ta bước chân vào con đường Đạo, chúng ta nguyện xin quy y Tam Bảo, ngưỡng mong chư Phật và Shabkar Tsogdruk Rangdrol chư Bồ Tát chứng giám cho chúng ta. Chúng ta đã lập đi lập lại các giới nguyện và nói rằng, "Nương nơi Tam Bảo, con nguyện không bao giờ hãm hại bất cứ một chúng sinh nào". Thật là vô cùng khó khăn nếu chúng ta giả vờ không biết là mình đã thốt lên lời nguyện như vậy, mà cũng thật khó khăn vô cùng nếu chúng ta cố tình diễn giải một cách sai lạc những ngôn từ vốn quá rõ ràng minh bạch của lời nguyện kia.

Và do đó, ước nguyện của tôi không gì khác hơn là cầu xin cho chúng ta phát khởi được lòng yêu thương và từ bi đối với tất cả chúng sinh, đối với bất cứ chúng sinh nào cũng giống như đối với những đứa con yêu mến của chính mình.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: Thức Ăn Của Bồ Tát

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 08/11/14 22:07

    Lời Giới Thiệu của
    Nhóm Dịch Thuật Padmakara

    (Padmakara Translation Group)
Có những người tuy không hiểu biết nhiều về Phật Giáo nhưng lại có phần nào quen thuộc với giáo lý bất bạo động và từ bi của đạo Phật, những người này thường hay lầm tưởng rằng giới Phật tử đều ăn chay. Họ có phần nào ngạc nhiên pha chút thất vọng khi khám phá ra rằng rất đông Phật tử ở cả phương Đông lẫn phương Tây vẫn thường ăn thịt (ăn mặn), cho dù không nhất thiết là tất cả Phật tử ai ai cũng ăn thịt như vậy. Bỏ qua bên lề vô số những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định ăn thịt của người Phật tử, dù riêng tư hay liên quan đến hoàn cảnh xã hội, thì thái độ chung chung của giới "Phật tử ăn mặn" đều nằm dưới sự chi phối của những yếu tố văn hóa và lịch sử, mỗi quốc gia một khác biệt, không quốc gia nào giống quốc gia nào. Một ví dụ điển hình là giới Phật tử tu theo Đại Thừa tại hai quốc gia Trung Hoa và Việt Nam, sống một nếp sống cổ truyền, giới Phật tử này thường thường là những nguời ăn chay thuần thành. Ngược lại, tại Nhật Bản chẳng hạn, không có gì lạ lùng khi thấy Phật tử ăn mặn, và hơn thế nữa, tại Tây Tạng, chuyện Phật tử ăn mặn gần như luôn luôn là chuyện đương nhiên. Khi Phật Giáo bắt đầu lan truyền qua Âu Châu, Mỹ Châu và nhiều nơi khác, những người Phật tử mới tại các nơi này tự động áp dụng thái độ và các pháp tu tiêu biểu của truyền thống tu nào mà họ đang noi theo. Điều này thật ra cũng là điều rất tự nhiên.

Tây Tạng là một quốc gia tại châu Á mà toàn bộ giáo huấn Phật Giáo đã được truyền thẳng từ Ấn Độ vào Tây Tạng (không đi qua một trung gian nào). Bắt đầu từ thế kỷ thứ tám trở đi cho đến nay, người dân Tây Tạng đã một lòng gắn bó với giáo pháp cao sâu của truyền thống Đại Thừa, dưới cả hai dạng Kinh điển lẫn Mật điển, qua công phu nghiên cứu, chiêm nghiệm và thực hành giáo pháp này trong đời sống hằng ngày, một giáo pháp nghiêng về trí tuệ và phát triển tâm từ bi hoàn vũ. Hơn thế nữa, điều mà ai cũng thấy rõ là chính giáo pháp và thái độ sống phổ thông trong mọi tầng lớp của người dân Tây Tạng nói chung, đã tạo được một ảnh hưởng rất sâu sắc trong mối liên hệ giữa người dân Tây Tạng và môi trường thiên nhiên chung quanh. Trước ngày Tây Tạng bị Trung Cộng xâm lăng, khi những người khách du lịch từ châu Âu lần đầu đặt chân đến Tây Tạng và toàn vùng Hy Mã Lạp Sơn, họ đều sửng sốt khi nhìn thấy cảnh sống vô cùng ôn hoà và rực rỡ của chim muông, dã thú. Trong một quốc gia mà săn bắn là một hoạt động rất hiếm hoi, hầu như đều bị mọi người lên án, thì dã thú, chim muông chẳng còn chút gì phải sợ hãi loài người. Tuy là như thế, nhưng sự thật hiển nhiên là người dân Tây Tạng nói chung, từ ngàn xưa cho đến tận bây giờ, vẫn luôn luôn là những người ăn rất nhiều thịt. Lý do chính yếu (đưa tới tình trạng ăn nhiều thịt này) có liên hệ đến hai yếu tố thời tiết và địa dư. Tại Tây Tạng, phần lớn đất đai nằm trên một độ cao mà mọi việc trồng trọt, canh nông đều là việc bất khả.

Lẽ dĩ nhiên, thói quen lâu đời thường mọc rễ, trở thành điều ưa chuộng đặc biệt không thể thiếu, và ngay cả đã có sẵn một niềm tin vững chắc vào đạo pháp thì rất nhiều người Tây Tạng hiện đang sinh sống tại nhiều vùng đất khác nhau trên quả địa cầu vẫn chưa thay đổi được cách thức ăn uống dinh dưỡng của họ. Điều này tự nó cũng không phải là điều gì đáng ngạc nhiên. Phải từ bỏ những thói quen lâu đời là một việc làm rất khó, và việc đầu tiên mà khách du lịch hay dân di tản khắp nơi trên thế giới thường làm một cách thôi thúc là nhập cảng và cố tìm mua cho bằng được đủ mọi loại thực phẩm của riêng xứ họ. Cũng giống như những người còn lại trong cộng đồng nhân loại, người dân Tây Tạng thấy thịt là thức ăn rất ngon miệng, và họ thường thưởng thức với tất cả sự hào hứng thích thú. Nhưng ngay cả nếu chuyện ăn thịt đã và đang là một tập quán bình thường đối với người dân bên trong xứ Tây Tạng cũng như đối với cộng đồng lưu vong bên ngoài Tây Tạng, thì phương pháp tu tập hằng ngày của truyền thống Đại Thừa, chẳng hạn như sự thường xuyên quán chiếu về tâm từ bi và ước nguyện làm Bồ Tát giải thoát tất cả chúng sinh khỏi đau khổ − phương pháp tu tập này làm cho ta không thể nào không lên tiếng đặt câu hỏi về việc ăn thịt (của người Phật tử). Theo mẫu mực bình thường thì người Phật tử Tây Tạng, ngay cả những người công nhận mình thuộc dân ăn mặn chính cống, cũng không hoàn toàn vô cảm trước vấn đề ăn thịt này. Nhiều người công nhận một cách thẳng thắn là việc ăn thịt không thể nào không liên hệ đến hành động sát hại thú vật một cách có tính toán, và cũng thẳng thắn công nhận là việc ăn thịt là một chuyện thiếu lý tưởng, không thích hợp chút nào cho những người Phật tử đang thực hành theo Phật pháp. Có nhiều người Tây Tạng cũng cố gắng tránh ăn thịt trong những ngày lễ, cũng như trong những thời điểm thiêng liêng trong năm. Nhiều người tỏ vẻ kính phục truyền thống ăn chay; và rất hiếm có một vị lạt ma nào không ca ngợi và cổ võ những ai có thể ăn chay cho dù chính vị lạt ma đó vẫn đang ăn mặn vì lý do này hay lý do khác.

Trong cộng đồng lưu vong Tây Tạng tại hai xứ Ấn Độ và Nepal, có nhiều thay đổi về phong tục tập quán đang từ từ thành hình, nhất là trong giới trẻ, bởi vì việc ăn thịt không bắt rễ một cách sâu xa đến vậy trong khung cảnh văn hóa của hai quốc gia này. Một số tu viện, kể cả tu viện Namgyal Dratsang, tu viện gốc của đức Đạt Lai Lạt Ma (tại Ấn Độ), đã không cho phép việc nấu nướng thịt thà trong nhà bếp của tu viện nữa. Và ngay cả khi việc chọn lựa ăn chay ăn mặn của mỗi tu viện là một chọn lựa có tính cách độc lập, thì tại ngay những tu viện này, số các vị tu sĩ và nữ tu sĩ bắt đầu hoàn toàn từ bỏ ăn thịt ngày càng đông.

Đối với riêng những hành giả tại phương Tây, hoàn cảnh của chúng ta có nhiều điểm dị biệt. Khác với người Tây Tạng, chúng ta có thể dễ dàng tìm ra được đủ loại rau trái bổ dưỡng ở những nơi mà chúng ta đang sinh sống. Cho dù như vậy, (điều đáng tiếc là) chúng ta lại đến từ một nền văn hóa mà cả hai truyền thống tôn giáo lẫn đạo lý đều cho phép và khuyến khích việc ăn thịt. Cái nhìn từ bi đối với thú vật là một cái nhìn vốn sẵn có trong tư tưởng Phật giáo và đã thấm nhuần trong tâm thức của người dân Tây Tạng cho dù cách thức ăn uống dinh dưỡng của họ không thực sự đi sát với cái nhìn từ bi này. Ngược lại, xã hội mà chúng ta đang sinh sống hoàn toàn không có được cái nhìn từ bi như vậy. Phần lớn, trong thế giới ngày nay, cách đối xử nhân đạo của chúng ta với những con thú nuôi trong nhà chịu ảnh hưởng của tâm lý tình cảm và những cân nhắc liên quan đến tiền bạc, vật chất. Cách đối xử nhân đạo của chúng ta với những con thú nuôi trong nhà này không phát mầm từ sự hiểu biết rằng thú vật là những sinh vật cũng được thọ hưởng trí óc và xúc cảm không khác gì chúng ta, và tự bản chất, chúng cũng đang phải trải qua những cảnh khổ luân hồi không khác gì chúng ta. Dù sao đi nữa, đối với những người Phật tử ở phương Tây, những người do thói quen lẫn ham muốn đã trở thành "dân ăn thịt", thì sự thử thách dựa trên câu hỏi nêu ra về vấn đề "ăn mặn" của Phật giáo nói chung, và của truyền thống Đại thừa nói riêng, có chiều hướng bị ủ dột, trì trệ thêm. Bởi vì, như những lý do đã được nêu ra ở trên, người Tây Tạng cho dù có thành tâm đến mấy chăng nữa thì họ cũng chẳng giúp được gì nhiều cho các bạn đồng tu ở phương Tây (trên vấn đề này), ngoại trừ một số hướng dẫn lý thuyết suông.

Tình trạng này còn trở nên rắc rối hơn nữa chính vì sự thâm nhập của một số lý lẽ biện minh theo truyền thống xưa cũ, được đưa ra cốt để tha thứ cho việc ăn thịt của giới Phật tử. Những lý lẽ biện minh này đã được nhiều người ở phương Tây chấp nhận quá mức dễ dàng, thiếu óc phê phán. Có lẽ vì chính những người này đã không đủ khả năng hoặc không đủ ý chí để cân nhắc và lựa chọn một lối sống khác. Những lý lẽ biện minh này gồm có:

    1. Ý niệm về ba loại thịt thuần tịnh (tam tịnh nhục).
    2. Tư tưởng rằng con vật nối được liên hệ tâm thức với Phật pháp (và từ đó được nhiều lợi lạc) khi thịt của chúng được chính các hành giả nhai ăn, và
    3. Còn nhiều ý niệm khác nữa, đến từ cái nhìn lệch lạc gom góp từ trong kinh điển đã đọc.
Như đại sư Shabkar đã trình bày cho chúng ta thấy, những tranh luận này hoàn toàn sai lạc, hoặc sai lạc quá nửa, và đòi hỏi một lối diễn giải nghiêm túc, trung thực hơn. Thật ra việc này cũng dễ hiểu bởi vì những lý lẽ biện minh trên được nêu lên với chút ân hận trong lòng; đây là những cố gắng rất "người" (rất "gượng ép nhân tạo") để cứu vãn lương tâm ray rứt khi việc từ bỏ ăn thịt trở nên quá khó. Nhưng trong một hoàn cảnh bình thường, với những người bình thường (muốn tìm hiểu về vấn đề này một cách nghiêm chỉnh), thì thật là một sai lầm nếu ta cho rằng những lý lẽ biện minh đó là những diễn đạt nguyên lý rốt ráo.

Dù sao đi nữa, điều quan trọng cần biết là tại Tây Tạng, hiện nay, cũng như trong quá khứ, đã luôn luôn có một quan điểm hoàn toàn khác biệt với những lý lẽ biện minh kia. Điều này đã hiện diện ngay từ những ngày đầu tiên nhất của lịch sử Phật giáo tại Tây Tạng. Quan điểm này đã được xác nhận một cách vô cùng cương quyết trong những giáo huấn của đại sư Atisha và của những đệ tử thuộc dòng truyền thừa Kadampa của ngài. Quan điểm này cũng được một số nhỏ các cá nhân anh hùng tiếp tục ủng hộ và chứng thực trong từng thế hệ nối tiếp. Những trang sách được chuyển ngữ sau đây sẽ cho chúng ta thấy rằng đại sư Shabkar chính là một người thuộc trong "pháp hội vinh quang" này − pháp hội bao gồm những vị Bồ Tát thực hành theo cả Kinh điển lẫn Mật điển. Nương vào tình thương của họ đối với chúng sinh, và sự quán chiếu của họ về sự đau khổ chúng sinh phải hứng chịu mà những vị Bồ Tát này đã quyết định từ bỏ ăn thịt cho dù có phải chịu đựng tất cả những thử thách to lớn, trong một hoàn cảnh sống vô cùng khó khăn, khắc nghiệt. Trong những thảo luận của đại sư Shabkar về vấn đề ăn chay ăn mặn, ngài đã nêu ra những câu hỏi vô cùng sâu sắc liên quan nhiều khía cạnh khác nhau của đạo Phật, ngang tầm vóc với các giáo huấn thuộc Ba La Đề Mộc Xoa, Đại Thừa và Kim Cang Thừa. Và như một người đang quan sát nhân loại với một tấm lòng từ bi rất sáng suốt, đại sư Shabkar đã chiếu một luồng ánh sáng vô cùng rực rỡ sắc sảo lên trên nền tảng xã hội và tôn giáo của thời đại của ngài.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: Thức Ăn Của Bồ Tát

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 09/11/14 20:50

    TIỂU SỬ ĐẠI SƯ SHABKAR
Đại sư Shabkar Tsogdruk Rangdrol (1781-1851) đã để lại nhiều pho văn tự đồ sộ, trong số đó có hai tài liệu viết về tiểu sử của chính ngài, là một trong những tài liệu được yêu chuộng và gây nhiều nguồn cảm hứng nhất trong văn chương Tây Tạng. Ngoài kho tàng thi ca gồm những bài thơ và đạo ca trong hai văn kiện tiểu sử này, đại sư Shabkar đã kể lại cho chúng ta nghe về sự nghiệp tâm linh của ngài, khởi đầu bằng sự phát tâm từ bỏ thế gian ngay trong thời thơ ấu, để cuối cùng dẫn đến thành đạt trọn vẹn quả vị giác ngộ. Ngài đã bỏ gần như trọn cuộc đời trong động thất, hoặc vân du đây đó khắp nơi như một kẻ hành hương, thăm viếng rất nhiều những địa điểm linh thiêng tại Tây Tạng và toàn vùng Hy Mã Lạp Sơn − từ Amdo và vùng biên giới Mông Cổ ở phía bắc nơi ngài đã chào đời, cho đến rặng núi hùng vĩ ở Amnye Manchen, và từ đó, ngang qua hai tỉnh U và Tang ở miền trung, cho đến những khe núi ở Tsari, rồi đến Kailash, đỉnh núi linh thiêng ở miền tây, và sau đó, xuôi nam xuống thung lũng Kathmandu ở xứ Nepal. Ngài là một người tột cùng tự do, sống bên lề xã hội. Phần lớn cuộc đời, ngài đã sống ẩn dật, trên những rặng núi cao, không có ai bên cạnh chăm lo cho cả, ngoại trừ, nếu có, một số rất ít những đệ tử tâm truyền nhất. Những đệ tử này là những người có đủ khả năng và ý chí để chịu đựng những khó khăn thử thách gây ra bởi cảnh sống khắc nghiệt, và đã nếm được vị tự do tuyệt hảo đến từ sự hoàn toàn từ bỏ những lo lắng tầm thường thế gian. Đại sư Shabkar không hề bị lệ thuộc vào khuôn mẫu mực thước của xã hội hay của tăng đoàn, và tuy là một vị tỳ khưu thọ đủ tất cả các giới, ngài chưa hề bao giờ liên kết mật thiết với một hệ thống tăng già có thế lực nào cả, cho dù bất cứ khi nào có dịp là ngài cũng đến thăm viếng và gia ơn (cho chư tăng tại các tu viện), nhiều khi với một tấm lòng quảng đại tuyệt vời. Rất yêu mến giới luật của đời sống tu viện, nhưng cũng hoà mình thể nhập trong cách sống tự do và cách hành pháp của những đạo sư Du già tu theo Mật điển, chắc chắn ngài đã hiện ra như một mẫu người lập dị trong những chuyến hành hương liên tiếp của ngài, mặc y vá đụp của một vị tỳ khưu, với giải khăn choàng màu trắng khoác vai và với mái tóc dài không cắt tỉa của một đạo sư Du già.

Y phục bất thường của đại sư Shabkar đã phản ảnh hết sức trung thực nhân cách và những nỗ lực tâm linh của ngài. Là một vị tỳ khưu mà cũng là một đạo sư Du già, trong khi hành pháp, ngài đã phát triển pháp tu của Tiểu Thừa bằng tâm đoạn tuyệt thế gian, pháp tu của Đại Thừa bằng tâm đại từ bi đối với tất cả chúng sinh, và pháp tu Du già tối mật của Mật Thừa. Cả ba thừa này đều hiện diện trong Phật giáo Tây Tạng, được áp dụng từng giai đoạn trên con đường tu, và có liên hệ rất nhiều với dòng truyền thừa Kadampa. Cho dù vào thời đại của đại sư Shabkar thì Kadampa không tồn tại như một dòng phái độc lập riêng rẽ nữa, nhưng những giáo pháp của truyền thống Kadampa về Lamrim (những giai đoạn trên con đường tu) đã tỏa ảnh hưởng vô cùng rộng lớn lên tất cả bốn tông phái chính của Phật giáo Tây Tạng, tạo nguồn cảm hứng cho những luận giải và trước tác tuyệt vời. Những trước tác này là hạt mầm nuôi lớn đời sống tôn giáo tại Tây Tạng cho đến tận ngày hôm nay: chẳng hạn như luận giải "Khi Tâm An Tĩnh" (The Mind at Rest) của đại sư Gyalwa Longchenpa, "Bảo Châu Trang Sức Của Giải Thoát" (The Jewel Ornament of Liberation) của đại sư Je Gampopa, "Kho Tàng Của Những Đức Hạnh Cao Quý" (The Treasure of Precious Qualities) của đại sư Vidyadhara Jigme Lingpa, và chính đại sư Je Tsongkhapa cũng đã viết "Đại Luận Giải Về Những Giai Đoạn Trên Con Đuờng Tu" (The Great Exposition of the Stages of the Path). Dựa trên lời huấn thị của đại tôn sư Atisha, hình thái sinh hoạt bề ngoài của đại sư Shabkar được tô đậm bằng những giới luật thuần khiết của một nhà tu, trong khi đó, sâu bên trong, suốt cuộc đời ngài luôn luôn là một hành giả chuyên quán chiếu về Lojong, cổ võ phương cách luyện tâm dựa trên tâm Bồ Đề tương đối (relative bodhicitta) và tâm Bồ Đề viên mãn (absolute bodhicitta). Sau rốt, trong hình thái sinh hoạt ẩn mật, ngài lại là một đạo sư Du già chứng đắc, đã thành tựu giác ngộ nhờ vào những pháp tu Mật điển, nhất là nhờ vào những giáo pháp mật truyền tối thượng của hai pháp Đại Viên Mãn (Dzogchen) và Đại Thủ Ấn (Mahamudra). Cả ba truyền thống Tiểu Thừa, Đại Thừa và Mật Thừa đều được kết hợp trong cách ngài hành pháp, và chính ngài đã làm cho cách ngài hành pháp trở nên một thành tựu toàn bích, viên mãn.

Thái độ của đại sư Shabkar đối với những truyền thống khác nhau của Phật giáo Tây Tạng hoàn toàn không bị bất cứ một đám mây thành kiến nào che mờ. Điều chắc chắn là bởi vì ngài đã sống một cuộc đời tự do độc lập tuyệt đối, không phải vướng mắc và trung thành với bất cứ tổ chức nào cũng như không phải bị lệ thuộc vào bất cứ một vị thí chủ nào. Cả cuộc đời ngài đã sống một đời sống "từ tay đưa lên đến miệng", (theo kiểu ai cho gì thì ăn nấy). Ngài không có một mái chùa làm nơi tá túc cố định, và mọi nhu cầu cần thiết được thu gọn thành tuyệt đối tối thiểu. Nhiều đệ tử hết sức tin tưởng sùng bái ngài, đã cúng dường cho ngài rất nhiều tịnh tài, phẩm vật, nhưng ngài luôn luôn mau chóng chia sẻ, phân phối tất cả những thứ này cho người khác dưới hình thức cúng dường tôn giáo, hay bố thí từ thiện. Đạo pháp đối với ngài là việc phải huấn luyện và quán chiếu bản thân, không phải là chuyện liên kết với một dòng truyền thừa nào cả. Ngài rất yêu mến những giáo pháp của đức Phật dưới bất cứ hình dạng nào, và thái độ của ngài đối với tất cả các truyền thống tu học của đạo Phật là sự kính ngưỡng sùng bái chân thành.

Một lần nọ, khi còn trẻ, trong lúc đang viếng thăm đại tu viện Labrang Tshikhyil của dòng Gelugpa tại tỉnh Amdo, đại sư Shabkar đã cầu nguyện xin cho ngài được đủ túc duyên để thực hành Phật pháp một cách tuyệt vời trong sáng, không bị thành kiến làm cho hoen ố. Khi nhắc lại câu chuyện này trong tiểu sử của ngài, ngài đã ghi lại nguyên văn một câu nói của đức Ban Thiền Lạt Ma (Panchen Lama), hoá thân đời thứ 5, minh xác về sự đáng tin cậy của tất cả các dòng phái khác nhau của Phật giáo Tây Tạng. Đức Ban Thiền Lạt Ma đã phát biểu rằng, "Dựa trên những lời nói này, tôi luôn luôn phát triển lòng kính ngưỡng và sùng bái đối với tất cả các vị thầy và các giáo huấn của các ngài, tôi nhìn thấy tất cả đều vô cùng thuần khiết". Điểm nổi bật nhất trong con người tôn giáo của đại sư Shabkar là mức độ kết hợp mà ngài đã vận dụng được giữa những giáo huấn của giòng Nyingma và những giáo huấn của dòng Gelugpa, hai dòng phái này trước giờ vẫn thường được coi là cách xa nhau như hai thái cực. Chuyện này xảy ra có lẽ cũng là nhờ vào ảnh hưởng xã hội, vì vùng đất đại sư Shabkar lớn lên nằm rất xa các trung tâm chính trị và quyền bính; nơi đây, các hành giả thuộc tất cả các tông phái khác nhau đều sống gần gũi và tự do trò truyện, trao đổi với nhau.

Gốc gác của đại sư Shabkar thuộc về dòng truyền thừa của những đạo sư Du già Nyingma ở Rekong, tỉnh Amdo. Giòng truyền thừa này rất nổi tiếng nhờ vào những lời nguyện cam kết (samaya) vô cùng trong sạch, và nhờ vào năng lực thần thông mà họ đã đạt được qua những chứng đắc tâm linh. Chính ở vùng đất Rekong này mà đại sư Shabkar đã khởi sự được rèn luyện về tôn giáo, và điều rất hiển nhiên là tất cả những hướng dẫn mà ngài nhận được trong thời gian này, từ lời giảng cho đến những tấm gương sáng trước mắt, đã để lại một dấu ấn không gì tẩy xóa được trên nhân cách của ngài. Vào năm hai mươi tuổi, ngài thọ giới tỳ khưu với đại sư Arik Geshe Jampel Gyaltsen Oser, là vị trụ trì và nhà Phật học của một đại tu viện thuộc dòng Gelugpa. Chính đại sư Arik đã khuyên ngài nên đi tìm ngài Chogyal Ngakyi Wangpo, vị đại tôn sư lừng lẫy thuộc dòng Nyingmapa mà cũng chính là bổn sư của ngài. Từ đại tôn sư Chogyal Ngakyi Wango, ngài đã thọ lãnh tất cả những giáo pháp của dòng Nyingmapa Cổ Mật (Old Translation school), trong đó có cả những hướng dẫn về trekcho và thogal thuộc pháp tu Đại Viên Mãn (Dzogchen); pháp Đại Viên Mãn sau này trở thành cốt lõi trong công phu tu luyện của riêng ngài.

Cho dù như thế, như đã được kể lại trong tiểu sử của ngài, đại sư Shabkar cũng thường xuyên nhận được những mật truyền và lễ quán đảnh từ các tân phái, chẳng hạn như pháp Migtsema mà ngài rất yêu chuộng, tức là bài khẩn nguyện nổi tiếng dâng lên đại sư Tsongkhapa, viên bảo ngọc trân quý của Xứ Tuyết Tây Tạng. Về sau, trên những chuyến hành trình đăng đẳng của ngài, ngài rất hoan hỉ được thăm viếng những cơ sở tu viện vĩ đại của dòng Gelug tại hai vùng U và Tsang ở trung phần; nơi đây ngài đã phát tâm cúng dường hết sức rộng rãi, và đã xin được thọ thêm nhiều giáo pháp tại đây. Ngoài ra, ngài cũng hành hương đến đại tu viện của dòng Sakya và thọ lễ gia lực với những người con trai của Wangdu Nyingpo, là vị nối dõi đời thứ 33 của dòng truyền thừa Sakya. Rồi nhân thể đang ở trong vùng lân cận, ngài không quên đến viếng tu viện Jonang Ganden Puntsoling, tu viện gốc của ngài Taranatha Kunga Nyingpo, nơi đây vẫn còn lưu giữ một tập tài liệu ghi lại những lời giảng dạy (của ngài Nyingpo) do chính đại sư Shabkar cho in lại từ một bản khắc bằng gỗ. Cuối cùng, ngài hoàn toàn như người trở lại về mái nhà xưa khi sống giữa những vị đạo sư Du già thuộc dòng Kagyu ở đỉnh núi Kailash, và ở nhiều nơi khác nữa. Khi đọc lại tiểu sử cuộc đời đại sư Shabkar, trong không khí tĩnh lặng sùng bái và trong niềm kính ngưỡng tỏa khắp các dòng truyền thừa, người ta khó có thể đoán được chiều sâu của những tranh chấp thù nghịch giữa các dòng phái với nhau, và khó đoán được rằng chính những tranh chấp này đã từng là bóng đen phủ lên lịch sử xã hội Tây Tạng qua nhiều thế hệ.

Đối với tất cả các dòng truyền thừa của Phật giáo Tây Tạng, lòng tôn sùng của đại sư Shabkar mãnh liệt và chân thành đến nỗi chính ngài đã được tán dương như là ứng thân của những nhân vật khác nhau trong tất cả các dòng phái này. Ngài được kính trọng như là hiện thân của Manjushrimitra, một trong những vị khai sáng ra dòng truyền thừa Đại Viên Mãn (Dzogchen) của dòng phái Cổ Mật Nyingma. Ngài còn được công nhận là hoá thân của đại sư Ngulchu Gyalse Thogme, vị thầy mà dòng phái Sakya vô cùng kính ngưỡng, và là tái sanh của đại sư Chengawa Lodro Gyaltsen (thuộc dòng Nyingma), một đệ tử tâm truyền của đức Je Tsongkhapa. Nhưng, hơn hết cả, chính dưới bóng của Milarepa, vị đại tôn sư lừng lẫy nhất của dòng phái Kagyu và nhân vật được yêu mến nhất trong truyền thống Tây Tạng, đại sư Shabkar đã được sùng kính và tán dương vì đã thể nhập trọn vẹn con người của đạo sư Milarepa. Từ cách sống, tài năng, lòng kiên trì cho đến những thành tựu chứng đắc, rõ ràng là đại sư Shabkar đã bước theo những bước chân của đại đạo sĩ Milarepa.

Đại sư Shabkar đã nổi tiếng vì mối quan tâm và tấm lòng trìu mến của ngài dành cho thú vật. Thái độ của ngài không những nói lên sự thông cảm và lòng biết ơn đẹp đẽ, mà thái độ này còn bắt nguồn từ sự hiểu biết thấu đáo về Phật pháp. Đối với đại sư Shabkar, cũng như đối với giới Phật tử nói chung, thú vật trước hết cả phải được coi như là những sinh vật không khác gì chúng ta, cũng đang bị mắc kẹt trong những đau khổ của cõi luân hồi y như chúng ta. Cho dù trên phương diện thể xác, thú vật có mang hình dạng khác biệt và kỳ quái đến thế nào chăng nữa, và trên phương diện cảm quan và giác quan, chúng có thô thiển đến mấy đi nữa, thì thú vật vẫn may mắn có được trí óc, và trên phương diện căn bản này, chúng cũng là những con người. Thú vật cũng bám víu vào cái gọi là "ta" của chúng, đâu khác gì con người. Do đó, chúng cũng ao ước được hạnh phúc và được như ý, dựa trên những hiểu biết, nhu cầu riêng của chúng, và khi không đạt được những điều này thì chúng cũng đau khổ vô ngần.

So với con người thì thú vật phải chịu nhiều bất lợi to lớn. Tâm trí của chúng bị che phủ bởi màn vô minh dầy dặc hơn con người, và lúc nào chúng cũng bị sức mạnh của bản năng cầm thú lấn át. Thú vật thừa hưởng những giác quan mạnh mẽ và sắc bén hơn con người, nhưng trí thông minh ít ỏi của chúng không cho phép chúng lãnh hội được đạo pháp, không thể nào làm được gì để chuyển hoá từ trạng thái bám chấp đến được trạng thái tự do giải thoát.

Trong những năm dài nhập thất ẩn tu trong cô tịch trên những rặng núi cao, và trong những chuyến đi đơn độc xuyên qua những miền hoang dã ở Tây Tạng, chắc chắn đại sư Shabkar đã có nhiều cơ hội tận mắt nhìn thấy đủ mọi loại thú, và có dịp quan sát cách chúng sinh sống. Những cơ hội gần gũi thú vật này, cộng với lối sống hết sức đơn sơ bình dị, chắc chắn đã tô đậm thêm cho tấm lòng bi mẫn vốn có của ngài đối với loài thú, và chúng ta có thể cảm nhận được điều này rất rõ trong vô số những câu truyện được kể lại trong hai pho tiểu sử của ngài. Đời sống giữa chốn hoang dã, với số lượng thức ăn ít ỏi và một nơi trú ẩn sơ sài để che mưa che nắng, chắc chắn đã giúp cho đại sư Shabkar hiểu rõ hơn về những khó khăn và hiểm nguy trong thiên nhiên mà chim muông dã thú phải đương đầu chống chọi.

Đã nhiều lần, có lẽ ngài đã phải trải qua đói khát, lạnh lẽo, và chắc chắn ngài đã từng chứng kiến cảnh sống bấp bênh và đau khổ của loài thú khi chúng phải đương đầu với khí hậu luôn luôn thay đổi không thể đoán trước, và với mối đe dọa đến từ những con thú săn mồi khác trong thiên nhiên. Dĩ nhiên là ngài đã tạo được những liên hệ thân thiết với loài thú, và ngược lại, trong suốt những chuỗi ngày ngài tạm trú ẩn tu trong động thất, chắc chắn những con thú này cũng phải cảm thấy quen thuộc với sự hiện diện hiền hoà của con người kỳ dị đó. Đôi khi đại sư Shabkar cũng nói chuyện với thú vật, và nhiều lần, khi lắng nghe tiếng kêu inh ỏi của những con quạ hay tiếng kêu rầu rĩ của những con chim cu, ngài tưởng tượng như chúng đang nói chuyện với ngài, hay đang nói chuyện với nhau. Một lần kia, ngài đã thuyết một bài pháp đơn giản cho một đàn lừa hoang (kyang); có vẻ như chúng đã ở lại và lắng nghe ngài. Một lần khác, chính ngài đã nhận được một bài học rất thấm thía từ một con cừu già. Điều rõ ràng mà ta đọc được trong những trước tác của ngài là ngài thường xuyên xúc động trước vẻ đẹp của loài thú, và tìm được nhiều an ủi khi làm bạn với chúng. Lắm khi, chỉ một tiếng kêu của đàn chim, hay tiếng rỉ rả của côn trùng cũng đưa đến những thấu hiểu tâm linh, và ngài thường ghi lại những kinh nghiệm này trong những bài đạo ca.

Từ những ngày còn bé thơ, đại sư Shabkar đã phải kinh hoàng trước cách xử sự tàn nhẫn của loài người đối với thú vật. Trong những trang đầu tiên trong quyển tiểu sử của ngài, ngài ghi lại một kinh nghiệm thuở ấu thời. Kinh nghiệm này đã đóng một dấu mộc lên tâm khảm của ngài cho đến hết cuộc đời.

Một mùa thu nọ, (dân làng) chúng tôi đã có được một vụ gặt thật tuyệt hảo. Tất cả mọi người trong tất cả các gia đình, giàu nghèo gì cũng thế, đều nói là chúng ta nên tổ chức ăn mừng. Điều này có nghĩa là không biết bao nhiêu đàn cừu sẽ phải bị sát hại, bị đem ra xẻ thịt. Thật là một cảnh tượng vô cùng khủng khiếp. Tôi sợ đến thất vía hoảng kinh và trong lòng dâng tràn bao thương xót. Không thể nào có đủ can đảm để nấn ná ở chỗ người ta xẻ thịt nên tôi phải trốn đi một nơi khác và chờ cho đến khi việc sát hại kết thúc rồi mới dám quay trở về. Khi trở về, tôi nhìn thấy thây của những con cừu đã được xẻ thịt nằm ngổn ngang dưới đất. Tôi thầm nghĩ, "Những người này đã làm một việc vô cùng tồi bại, và người ta vẫn tiếp tục làm như vậy cho dù người ta dư biết là họ sẽ phải trả quả ác trong những kiếp kế tới. Khi lớn lên, tôi nguyện sẽ chỉ sống theo gương chánh pháp. Tôi sẽ hoàn toàn xa lánh những việc làm tệ hại như vậy". Và tôi đã nhiều lần lập đi lập lại lời hứa này với chính mình. (KWGJ - "The King of Wish-Granting Jewels - Đại Vương Của Những Viên Ngọc Như Ý", f16).
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: Thức Ăn Của Bồ Tát

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 11/11/14 03:04

Trong suốt cuộc đời của ngài, đại sư Shabkar cũng như bất cứ vị thầy nào khác trong Phật giáo, đã thuyết pháp về định luật nhân quả, và đã khuyến khích người nghe phải tránh xa hành động giết hại. Điều này đôi khi đã đem lại rất nhiều kết quả khả quan. Cũng giống như Jigme Lingpa, một vị tôn giả lão thành cùng thời với ngài, đại sư Shabkar thường xuyên thực hành pháp phóng sinh, cứu mạng thú vật bằng cách mua chúng rồi thả chúng ra. Trong một bài đạo ca, ngài đã kể lại rằng cho đến năm ngài năm mươi sáu tuổi (ngài thọ đến tuổi bảy mươi), ngài đã cứu mạng và phóng sinh được cả thảy vài trăm ngàn sinh mạng thú vật. Thật ra, trong thời niên thiếu, có một câu chuyện xảy ra trên chuyến đi hành hương thủ đô Lhasa và câu chuyện này đã trở thành mốc điểm thay đổi hoàn toàn cuộc đời cá nhân của ngài. Giữa những buổi viếng thăm các đền đài, tu viện, chư tăng, cũng như thăm viếng những nhân vật lãnh đạo tôn giáo và chính trị đương thời, ngài luôn luôn bị một ngôi chùa thu hút. Đó là ngôi chùa tên Jokhang nằm ngay giữa trung tâm thành phố Lhasa. Nơi đây có an vị một bức tượng của Jowo Rinpoche (tên người Tây Tạng gọi đức Phật Thích Ca). Bức tượng này là tượng của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, và theo truyền thuyết, đã được tạc khi đức Phật Thích Ca vẫn còn tại thế. Bức tượng này đã và vẫn đang là một pháp bảo trân quý nhất trong gia tài Phật giáo Tây Tạng, và trải qua nhiều thế kỷ, luôn luôn là pháp bảo đón nhận được nhiều chú ý nhất, từ tài vật cúng dường cho đến những lời cầu nguyện.

"Một ngày nọ", theo như đại sư Shabkar kể lại trong tiểu sử của ngài, "tôi đã an trú trong sự hiện diện của đức Phật Thích Ca trong một khoảng thời gian kéo dài lâu, thật lâu. Tôi hết sức chí tâm chí thành khấn nguyện, và nhờ đó, đã bước chân vào được trạng thái an tĩnh sâu xa tuyệt đối. Sau đó, trong khi tôi đang bách bộ dọc theo con đường để đi nhiễu (circumambulation) chung quanh thành phố, tôi đã gặp phải xác của rất nhiều những con cừu và con dê đã bị giết chết. Ngay giây khắc đó, lòng từ bi như nước lũ dâng lên thật mãnh liệt trong tôi đến nỗi tôi không thể nào chịu đựng được nữa vì tôi quá thương xót cho tất cả những con thú đã bị giết chết trên cõi đời này. Tôi liền quay gót trở lại trước bức tượng của đức Phật, và trong khi đảnh lễ, tôi đã phát nguyện như sau: - Bắt đầu từ ngày hôm nay trở đi, con nguyện sẽ hoàn toàn chừa bỏ hành động xấu ác ăn thịt của chúng sinh, mỗi một chúng sinh đã từng là cha mẹ của con trong quá khứ’" (KWGJ, f201). Đó là năm 1812; đại sư Shabkar vừa tròn ba mươi mốt tuổi. "Từ giây phút đó trở đi", ngài kể tiếp, "không một ai còn sát hại thú vật để làm thức ăn dâng cúng cho tôi nữa". Tôi còn được nghe kể lại rằng, khi những vị thí chủ hảo tâm và trung thành của tôi biết trước là tôi sắp ghé thăm, họ kháo với nhau là, 'Đại sư này không ăn thịt, ngay cả thịt của một con vật đã chết một cách tự nhiên (chết già); chúng ta không thể để cho ngài thấy bất cứ cái gì dính đến thịt khi ngài ở đây'. Và họ đem dấu đi hết tất cả những gì dính đến thịt. Điều hiển nhiên là không con vật nào còn bị sát hại (để làm thức ăn) cho riêng bản thân tôi làm cho tôi tin chắc rằng đó là nhờ ơn gia hộ của chính đức Phật Thích Ca" (KWGJ, f201)".

Quyết định từ bỏ ăn thịt của đại sư Shabkar biểu hiện một sự hy sinh đáng kể. Ngày hôm nay, những du khách đến thăm Tây Tạng cho biết là cơm gạo và rau trái được nhập cảng qua từ Trung Quốc có thể tìm thấy dễ dàng ở nhiều nơi, nhưng vào thời đại của đại sư Shabkar thì không phải là như vậy. Đúng là từ ngàn xưa, tại những vùng đồng bằng ở độ thấp thuộc miền nam và miền đông Tây Tạng, người ta có thể trồng đủ ngũ cốc và rau trái cho phần lớn dân trong nước dùng để tô điểm thêm cho thói quen ăn uống nặng phần thịt thà. Nhưng nếu nói là vào thời đó, việc trồng trọt rau trái được phát triển ở mức độ quy mô có thể cung cấp đầy đủ số lượng dinh dưỡng cần thiết cho việc ăn uống bằng rau trái (ăn trường chay) thì điều này hoàn toàn khó có thể xảy ra. Không có rau trái nào có thể sống sót được ở những nơi mà độ cao là 20 ngàn thước Anh, và ở miền bắc Tây Tạng thì chỉ toàn là những vùng đồng cỏ bao la bát ngát, phù hợp cho việc chăn nuôi những loại thú như trâu yak, dê và cừu mà thôi. Bởi thế, hành động từ bỏ ăn thịt là một việc làm thật sự anh hùng, không dễ mấy ai làm được.

Điều đó có nghĩa là phải hài lòng với việc ăn uống dinh dưỡng bao gồm những thức ăn đạm bạc như bơ, sữa đông lạnh, và tsampa. Tsampa là món ăn thuần tuý của người dân Tây Tạng làm bằng bột xay từ lúa mạch đã được rang vàng; thông thường khi ăn, người ta trộn bột với nước trà hoặc với bơ rồi vo lại thành viên. Ăn uống như vậy có nghĩa là sức đề kháng sẽ bị thuyên giảm do thiếu chất đạm và thiếu chất vitamins. Đó cũng có nghĩa là sẽ dễ bị nhiễm lạnh do thiếu chất mỡ trong người. Ta có thể hiểu được dễ dàng là lối ăn uống kham khổ đạm bạc như vậy nằm ngoài khả năng chịu đựng của đại đa số quần chúng tại Tây Tạng. Ngay cả ở một quốc gia mà tinh thần Đại Thừa bàng bạc khắp mọi nơi, nơi mà không một ai không biết đến những giáo huấn của đức Phật về lòng từ bi thì việc phải thực hành giáo huấn từ bi này qua thói quen ăn uống hằng ngày là một việc làm bất khả đối với số đông dân chúng. Trong trường hợp của những tu viện lớn, nếu như có chư tăng nào có ước nguyện hoàn toàn bỏ ăn thịt thì điều đó cũng không thể thực hiện được vì chùa sẽ không có đủ số lượng rau trái để cung cấp cho quý thầy này. Việc trở thành một người ăn trường chay tại Tây Tạng đòi hỏi một sức chịu đựng mạnh mẽ và một tấm lòng cương quyết chỉ có thể đến được từ một niềm tin sắt đá nhất mà thôi.

Tất cả những điều đã được nêu ra ở trên − chẳng hạn như công phu tu tập của đại sư Shabkar đã trải rộng khắp tất cả các giáo huấn, hoặc tình đoàn kết vô điều kiện của ngài với tất cả các giòng truyền thừa của Phật giáo Tây Tạng, hoặc sự nghiêm túc và hoàn hảo của nhân cách của ngài, hoặc những hy sinh mà ngài sẵn sàng chấp nhận cốt chỉ để được sống cho đúng với lý tưởng và những hiểu biết rốt ráo của mình − tất cả những điều này đủ để đại sư Shabkar có được một chỗ đứng khác thường, và cho phép ngài nói lên tiếng nói chính thức cho cả một truyền thống (của những người nguyện bỏ thịt ăn chay). Do đó, những gì ngài nói ra về vấn đề ăn thịt và sự liên hệ giữa việc ăn thịt và việc thực hành Phật pháp là những điều rất quan trọng. Chúng ta cần phải lắng nghe, cho dù rất có thể những điều này đi ngược lại với cái nhìn và những gì mà chúng ta yêu thích, hoặc có chiều hướng nằm ngoài khả năng thực hiện của chúng ta.

Trước khi chúng ta đào sâu chi tiết về những lý luận của đại sư Shabkar, chúng ta cần nên phổ biến cho mọi người biết điều này: thật là vô cùng khó khăn, nếu không muốn nói là không thể thực hiện được, để đi đến một định nghĩa chung dựa trên giáo lý của đạo Phật về vấn đề ăn thịt − định nghĩa chung nào mà có thể kêu gọi được sự biểu đồng tình từ tất cả các phe phái. Điều này vô cùng khó bởi vì chính thái độ của đức Phật về vấn đề ăn thịt, như đã được ghi lại trong kinh điển, xem chừng là một thái độ mơ hồ, không rõ ràng.

Trong một số kinh điển, nhất là trong các bộ kinh tìm thấy trong truyền thống Tiểu Thừa, chúng ta thấy là đức Phật khuyên các đệ tử nên bỏ ăn chỉ có vài ba loại thịt (được coi là không trong sạch); do đó, lời khuyên này có hàm ý là ngoài ba loại thịt không trong sạch đã bị cấm thì thịt nói chung là một món ăn có thể chấp nhận được. Đức Phật cũng cho phép tăng đoàn ăn những loại thịt đặc biệt có đủ tiêu chuẩn (được coi là trong sạch). Trong những dịp khác, người ta nói là chính đức Phật cũng đã ăn thịt, và có những nguồn tin xác nhận rằng cái chết của đức Phật xảy ra vì ngài đã ăn phải một món thịt heo đã nhiễm độc do đệ tử cúng dường. Điều này đã gây ra ít nhiều tranh cãi. Ở những nơi khác, rõ ràng nhất là trong kinh Lăng già (Lankavatara-sutra) cũng như trong các kinh điển Đại Thừa khác, đức Phật lại chỉ trích việc ăn thịt một cách nặng nề bằng những lời lẽ quyết liệt nhất, và cấm ngặt việc ăn thịt trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cuối cùng, trong một số các bộ luận đặc biệt thuộc về Mật Điển, việc ăn thịt, cũng như uống rượu, không những được cho phép mà còn có vẻ như được tán thành và cổ võ.

Đại sư Shabkar đã tiếp cận vấn đề hóc búa này bằng tinh thần của con đường chuyển hoá từ từ (the gradual path), và ngài giải thích về những xung đột quá rõ ràng trong kinh điển như là những biểu lộ của khả năng giáo huấn của đức Phật. Đã chứng được đạo quả giác ngộ, đức Phật không có ý định đi tìm cách chứng minh quyền năng của Ngài bằng cách tuyên bố rằng chân đế tối thượng hoà nhập tánh Không, vì Ngài biết rằng điều này nằm ngoài khả năng lãnh hội của thính chúng. Ước nguyện đầu tiên của Ngài là giúp cho những người khác đạt đến được trình độ hiểu biết như Ngài, và qua cách đó, Ngài là một người vô cùng thực tiễn. Ngài biết là người ta chỉ có thể chuyển hoá nhờ vào những gì mà người ta có thể hiểu được hoặc thực sự áp dụng được, nên Ngài không làm cho họ bối rối với những lời lẽ cao siêu, viển vông, hay cố gắng áp đặt những giới luật nằm ngoài khả năng của họ. Ngược lại, Ngài đã thuyết pháp tùy theo căn cơ và nhu cầu của đại chúng.

Do đó, những giáo huấn được ghi lại trong kinh điển là những chứng cứ tùy hoàn cảnh, được nói ra trong một trường hợp đặc biệt nào đó, với riêng một số cá nhân nào đó. Giáo huấn thích hợp với một cá nhân hay một nhóm nhỏ cá nhân không nhất thiết là thích hợp cho những kẻ khác. Những lời hướng dẫn dành riêng cho những đệ tử căn cơ thượng thừa có phần nào gần gũi với chính hiểu biết của đức Phật, chắc chắn những lời hướng dẫn này không thể phù hợp với những đệ tử sơ căn là những người rất cần một con đường chuyển hóa từ từ. Tất cả kinh điển Phật giáo biểu trưng cho toàn bộ giáo huấn ở tầm mức rộng rãi, nhưng tựu chung, tất cả những giáo huấn này chỉ có một mục tiêu duy nhất là đưa chúng sinh đến bờ giải thoát.

Có hai điều mà chúng ta có thể kết luận được sau đây. Thứ nhất, phải công nhận là có một hệ thống giáo huấn rất quy củ, rất xác thực. Hệ thống giáo huấn này gồm có những hướng dẫn căn bản, cần thiết được giảng dạy tùy theo nhu cầu, và tiếp theo sau đó, là những hướng dẫn ở mức độ đòi hỏi cao hơn, được đào sâu hơn khi nào học trò đã sẵn sàng hơn. Đối với đại sư Shabkar cũng như đối với tất cả các vị thầy theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng, những giáo huấn được đề ra trong Tiểu Thừa là những giáo huấn tột cùng quan trọng, đặt nền móng cho sự hiểu biết chín chắn và thực hành chín chắn. Nhưng những giáo huấn này không phải là chấm hết. Những giáo huấn của Đại Thừa vượt trội lên trên những giáo huấn Tiểu Thừa, và cũng như thế, ngay trong truyền thống Đại Thừa, những giáo huấn Kinh Điển là nền móng chuẩn bị cho sự vượt trội của những giáo huấn về Mật Điển. Nhờ vào đó, toàn bộ giáo huấn
của đức Phật đã dung nhập một cách rất hoà hợp và khít khao; những hướng dẫn xem chừng thiếu sót ở tầm nhìn cao được đặt đúng vào vị trí căn bản, cần cho sự chuẩn bị ở phía dưới của cây thước đo. Nếu nhìn theo cái nhìn như trên thì những giáo huấn trong kinh điển của cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa đều có thể hoà hợp thống nhất với nhau, và thật sự không cần thiết để phải ước đoán, như có một số người có thẩm quyền đã làm, rằng có thể có nhiều kinh điển đã được học trò đời sau hoặc tự ý thêm vào, hoặc cố tình diễn giải sai lạc những lời Phật dạy.

Kết luận quan trọng thứ nhì là những các giáo huấn của đức Phật đều vô cùng xác thực tùy trường hợp và tùy hoàn cảnh mà giáo huấn đó đã được giảng dạy. Thật là một lỗi lầm to lớn nếu ta trích dẫn và áp dụng những giáo huấn này một cách chung chung, không đặt chúng trong đúng khung cảnh đã được đề ra cho việc chỉ dạy. Do đó, phải hiểu là một giáo huấn được đưa ra trong khung cảnh Tiểu Thừa nằm bên ngoài khung cảnh của Đại Thừa, cũng như giáo huấn này sẽ không xác thực cho mấy khi được đem lồng vào khung cảnh Đại Thừa. Như đại sư Shabkar đã chứng minh cho chúng ta thấy, phần lớn, chính cách nhìn hời hợt và sai lạc của chúng ta khi đọc kinh điển đã đưa đến tình trạng hoang mang bối rối (khi chúng ta đề cập đến) vấn đề ăn mặn trong đạo Phật.

Như chúng ta đã nhận thấy, cho dù truyền thống Đại Thừa hiện diện khắp nơi ở Tây Tạng, cho dù rất nhiều vị đại sư đã thuyết giảng và sống theo đúng tất cả những gì rốt ráo tinh khiết nhất của giáo huấn của Đại Thừa, nhưng việc áp dụng tinh thần Đại Thừa trên vấn đề ăn thịt là một áp dụng không thực tế với đa số người dân Tây Tạng. Và như chúng ta đã suy đoán, cách dùng kinh điển và trích dẫn kinh điển vô căn cứ (đặt bên ngoài hoàn cảnh mà giáo huấn đó đã được giảng dạy), thật ra chỉ là một phần của một khung cảnh "nhân tạo". Khi người ta bị cưỡng ép, chính vì những yếu điểm của họ, để hành động trái ngược lại với lý tưởng thì điều tự nhiên nhất là người ta sẽ cố gắng tìm cách biện minh hoặc chứng minh rằng việc làm của mình là đúng, một là để đỡ quê mặt, hai là để làm nhẹ bớt hậu quả tâm lý nặng trĩu gây ra vì việc làm này. Trong những trường hợp thực sự khó khăn, điều tự nhiên nhất người ta làm vẫn là không tìm cách chống chỏi mà cứ buông xuôi theo hoàn cảnh. Chẳng hạn như ở hai vùng Kham và Amdo, vào cuối mùa đông, người ta đói kinh khủng là đói. Nếu vào lúc đó, người ta có thịt để ăn thì phải là một người có trái tim sắt đá ghê lắm mới nỡ lên tiếng phê bình và đặt câu hỏi với những kẻ đi mua thịt về để ăn − cho dù những kẻ này chẳng hề lo nghĩ xem thịt này từ đâu tới và tự cho là họ không có trách nhiệm gì hết với cái chết của con vật.

Nhưng cho dù những lý luận dựa trên hoàn cảnh đặc biệt này, đã và đang từng có sức thuyết phục đến thế nào chăng nữa tại Tây Tạng, thì điều quan trọng vẫn là việc phải tiếp tục giữ gìn những nguyên tắc trọng yếu. Cho dù việc ăn thịt có thể được biện minh một cách thích đáng trong một vài trường hợp cá nhân hoặc hoàn cảnh đặc biệt, nhưng chúng ta không thể để cho điều này che mờ một sự thật hiển nhiên khác: đó là việc ăn thịt có khả năng phá hoại lý tưởng Đại Thừa, và trong những trường hợp bình thường khác, việc ăn thịt tự nó là một việc làm không thể nào chống chế hay bào chữa được. Có một điều rất rõ ràng trong những trước tác của đại sư Shabkar, điều này trở thành là một trong những mối bận tâm nhất của ngài: Cho dù những điều kiện thực tế có khó khăn đến cách mấy chăng nữa thì chúng ta vẫn cần phải cất lên tiếng nói trung thực và giữ cho lý tưởng sống còn. Tất cả những điều này đã giúp đưa đại sư Shabkar lên một địa vị sắc sảo, nổi bật hơn nữa. Những giáo huấn về vấn đề ăn thịt của ngài xem chừng rất lạ thường và quá lý tưởng ngay chính ở phương Tây giàu mạnh, đừng nói chi đến xứ Tây Tạng với những điều kiện sống vô cùng kham khổ, khắc nghiệt.

Cho dù như vậy, điều hiển nhiên ở đây là không có giới luật nào mà không uyển chuyển (không có cái gì quá cứng ngắc, quá cố định). Bất kể khung cảnh văn hoá địa dư như thế nào thì hành động cư xử của mỗi người vẫn tùy thuộc nơi căn cơ và sự lựa chọn của riêng cá nhân. Có một điều rõ ràng là [khi phải lựa chọn hành động], sự thành tâm-dựa-trên-hiểu-biết-đúng-đắn là yếu tố quan trọng nhất, cho dù lắm khi ta phải công nhận là sự "tự lừa dối" cũng có thể trở thành một người bạn đường dai dẳng, nhất là khi khả năng xét đoán của ta bị lòng ham muốn và năng lực của thói quen lôi kéo.

Đại sư Shabkar hoàn toàn ý thức về những yếu tố rắc rối này, và thái độ của ngài đến từ một cái nhìn thực tiễn nhuộm lòng từ bi. Ngài ân hận và thương xót nhìn thấy cảnh tượng (người ta ăn thịt), nhưng đồng thời, ngài cũng biết rất rõ pháp tu (bỏ ăn thịt) mà ngài đang cổ võ là một việc làm quá tầm tay với đối với rất nhiều đồng bào Tây Tạng của ngài. Dù sao đi nữa, ngài vẫn tiếp tục cổ võ pháp tu này, nhưng cổ võ mà không xét đoán hay ra mặt đạo đức. Ngài thương xót cho những nạn nhân của đồ tể, và tỏ ra thiếu kiên nhẫn với thuật ngụy biện và đạo đức giả của một số các pháp tu đã ổn định lâu đời. Nhưng ngài cũng biết là trong những trường hợp này − rất có thể là trong bất cứ trường hợp nào khác cũng thế − điều tốt nhất mà ngài có thể làm để giúp cho hoàn cảnh trở nên sáng sủa hơn là thuyết phục và làm gương cho mọi người.

Phần đầu trong quyển tiểu sử của đại sư Shabkar được kết thúc bằng những câu kệ, ngài đã duyệt lại thành quả của mình kể cho đến ngày hôm đó, tức là cho đến năm ngài 56 tuổi. Tự lên tiếng thay cho mình, ngài nói như sau, "Tôi đã giữ trọn giới khất sĩ Ba la đề mộc xoa (Pratimoksha), Bồ Tát giới, cũng như những giới của Mật Thừa. Tôi đã từ bỏ thịt, rượu, tỏi, hành, và thuốc lá, và nuôi sống tôi bằng ba thực phẩm trắng, ba thực phẩm ngọt, bằng trà và bơ và bột tsampa" (KWGJ, f480b). Sau đó, ngài nhắc đến những đệ tử của ngài: 108 đại đệ tử tâm truyền, 1,800 đại thiền giả, cả nam lẫn nữ, mười ngàn, trăm ngàn những vị tăng ni là môn đồ của ngài hiện đang sống trong những tu viện, cũng như vô số những đạo sư Du già, những hành giả sống tại các làng mạc, cùng những người tu tại gia, họ đã cố gắng tu tập như thế nào qua việc cầu nguyện, nhịn ăn (fasting), và trì chú. Trong số đệ tử khổng lồ này, ngài nhắc riêng đến một số người mà ngài dành cho danh dự đặc biệt, những người này "nhờ chứng đắc được tâm từ bi và tâm Bồ Đề tối thượng, đã hoàn toàn bỏ ăn thịt" (KWGJ, f480b). Số người này lên đến khoảng 300 người − một con số ít ỏi so với tổng số đệ tử của ngài nhưng đã được ngài nhắc đến với tất cả lòng hoan hỉ biết ơn.

Tất cả những đệ tử còn lại của đại sư Shabkar đều là dân ăn thịt − ngài đã thâu nhận họ như những người học trò cần được huấn luyện trên con đường tu. Trong phần viết về "Những Lỗi Lầm Của Việc Ăn Thịt: (The Faults of Eating Meat), đại sư Shabkar trích dẫn Đại Bát Niết Bàn kinh (Mahaparinirvana-sutra), trong đó đức Phật có nói rằng, "Giáo huấn của Ta không giống như là giáo huấn của một kẻ trần truồng tu khổ hạnh. Ta, đấng Như Lai, đưa ra những giới luật có liên hệ với từng trường hợp của từng cá nhân". Noi theo truyền thống đó, đại sư Shabkar không phải là một người theo chủ nghĩa cố chấp, chỉ biết cổ võ một giới luật duy nhất trong tất cả mọi hoàn cảnh. Điều ngài quan tâm đến nhất là mọi người cần phải thay đổi và trưởng thành. Đối với chúng ta là những người đang đi trên con đường đạo, chúng ta đang phải đối diện với những đòi hỏi đôi khi quá sức chịu đựng của mình. Do đó, phương cách hữu hiệu và thực tế nhất để chúng ta có thể tiếp cận những vấn đề này là tự nhận lấy một thái độ nhún nhường, và sẵn sàng dấn bước khởi đầu từ ngay nơi chúng ta đang đứng ("start where we are"), với tất cả vốn liếng thô thiển sẵn có trong ta, với tất cả những cá tính của riêng ta, những nhu cầu của ta, những yếu điểm của ta.

Nếu, vì bất cứ lý do gì mà chúng ta không thể bỏ ăn thịt được thì chính trong địa vị của người đang ăn thịt, chúng ta sẽ khởi sự tự rèn luyện. Và hiển nhiên là chúng ta đang được rèn luyện và đang tiến dần đến một mục đích. Chỉ một điều này không thôi cũng đủ là lý do chính đáng để ta cần phải tôn trọng ý kiến (về việc bỏ ăn thịt) và không nên áp đảo ý kiến này bằng những tranh luận phiến diện. Khi ta chấp nhận rằng ta có tiềm năng để thay đổi thì đây chính là điều kiện tiên quyết cho những tiến triển đạo đức. Theo bước chân của chư Bồ Tát, ta phải sẵn sàng chờ đợi chuyện ta sẽ được chuyển hoá; và trong chiều sâu và chiều rộng của sự chuyển hoá đó, thì chuyện ta có thể phải điều chỉnh cách thức ăn uống dinh dưỡng xem ra cũng chỉ là một thay đổi rất nhỏ bé mà thôi.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: Thức Ăn Của Bồ Tát

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 12/11/14 03:25

PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VÀ
NGUYÊN TẮC BA LẦN THUẦN TỊNH

Dù các Phật tử thuộc những truyền thống khác nhau có thể đưa ra bất kỳ lý do gì để biện minh cho việc ăn thịt, thì tất cả họ đều có chung một quan điểm: đó là lấy đi sinh mạng của sinh vật khác là một tội ác. Giới nguyện từ bỏ sát sinh là giới đầu tiên của người Phật tử, và chính việc trở thành một Phật tử, thông qua quy y Tam Bảo, đồng nghĩa với việc cam kết không gây hại cho bất kỳ một chúng sinh nào. Ngoài ra, Phật tử cũng cùng chung quan điểm rằng lấy đi sinh mạng trong tình huống bình thường sẽ dẫn đến việc gieo trồng hạt giống đau khổ trong dòng tâm thức của kẻ gây tội. Hiển nhiên việc có thịt để ăn sẽ liên quan đến cái chết của động vật, và nếu con vật đó bị giết chứ không phải chết một cách tự nhiên, thì câu hỏi đặt ra ở đây là liệu những người ăn thịt có phải chịu toàn phần hay mộtphần nghiệp quả của việc giết động vật này hay không.

Có thể câu hỏi này là một trong những lý do đức Phật truyền dạy nguyên tắc ba lần thuần tịnh. Theo giáo huấn này, một người có thể ăn thịt mà không phải chịu lỗi lầm của kẻ giết động vật để lấy thịt, nếu người đó không nhìn, không nghe, và không có một chút nghi ngờ nào về việc con vật bị giết hại với mục đích rõ ràng là để cung cấp thực phẩm cho người đó. Ngược lại, một người ăn thịt mà biết rằng con vật bị giết hại vì mục đích làm thực phẩm cho mình thì người đó sẽ trở thành tòng phạm với kẻ giết thịt và cùng chịu nghiệp quả trong hành động giết hại. Điều này sẽ tạo một nghiệp xấu tương ứng với hành động giết hại. Nguyên tắc về ba lần thuần tịnh, cũng giống như những chỉ dạy về giới luật của đức Phật, tương ứng với hoàn cảnh và tình huống − trường hợp này là những nhà sư đi khất thực nhận thức ăn hàng ngày qua sự cúng dường của người khác. Tập tục này vẫn được các nhà sư theo truyền thống Thượng Tọa Bộ (Theravada) tại Thái Lan và các nơi khác thực hành, được tiến hành theo một lễ nghi đơn giản và đẹp đẽ, thường trong bối cảnh hoàn toàn ẩn danh. Ngay khi trời tờ mờ sáng đủ để nhìn thấy đường, những nhà sư này rời khỏi những nơi ẩn thất (tu viện) hẻo lánh trong rừng (viharas), đi đến cổng làng nơi những Phật tử tại gia mộ đạo cúng dường thực phẩm vào các bình bát của họ, và sau đó các nhà sư sẽ ăn bất kể đồ cúng dường đó là gì. Không ai nói một lời nào. Các nhà sư thể hiện lòng biết ơn của mình bằng cách cúi đầu chào, và sau đó rời đi. Họ không có một chút cảm giác nào về thú vui ăn uống thế tục, mà cũng không có một thảo luận gì về nguồn gốc của thực phẩm. Sau đó, đúng thông lệ là các nhà sư sẽ ăn những thực phẩm có trong bát của mình một cách chánh niệm, dù tốt hay xấu, dù thơm ngon hay kinh tởm, họ chấp nhận bất kể thứ gì họ nhận được với một thái độ bình thản.

Đối với tăng đoàn thì hành động giết hại hoặc làm cho kẻ khác bị giết, ngoài bản chất tội lỗi và bất thiện, sẽ gây ra một gốc rễ của bạo lực dẫn đến sự phá hủy giới tu. Do đó, đối với giới tăng ni, việc chấp nhận thực phẩm cúng dường chứa thịt liệu có dẫn đến tòng phạm với kẻ đồ tể hay không? − một vấn đề có cùng độ quan trọng. Do đó mục đích nguyên tắc ba lần thuần tịnh được dùng để chỉ ra các tình huống mà các nhà sư có thể ăn thịt mà không hủy hoại giới luật, nếu thịt xuất hiện trong bình bát khất thực của họ. Nói cách khác, mối bận tâm trước tiên là sự thuần tịnh của giới luật và nguyên nhân tích tụ nghiệp xấu. Trọng tâm của mối quan tâm này là hướng đến chính bản thân các nhà sư. Trong truyền thống Nguyên thủy (Hinayana) của Giới Ba la đề mộc xoa (Pratimoksha), những nhà sư này quan tâm chủ yếu đến trách nhiệm giải thoát chính mình khỏi vòng đau khổ luân hồi, và đi liền với đó là sự thuần tịnh trong giới nguyện của họ.

Hiển nhiên là trong khung cảnh văn hóa khác với trường hợp vừa đề cập trên đây, thì hầu như không thể tìm được thực phẩm nào mà lại có tính chất ba lần thuần tịnh. Có thể là các nhà sư ở trong rừng hoàn toàn không biết gì về nguồn gốc của thực phẩm, hoặc họ có thể, một cách hợp lý, cho rằng những gì được đặt hàng ngày vào bình bát của họ là một phần đồ ăn thông thường của người cho, và rằng những mẩu thịt nhỏ xuất hiện trong bát của họ là một phần của những gì dân làng đã giết hại hoặc mua cho bản thân họ ăn. Ngoài bối cảnh rất cụ thể này, các hoàn cảnh khác và những phát sinh về đạo đức liên quan là vốn dĩ rất khác nhau. Cộng đồng tu viện tôn giáo Tây-Tạng là một thế giới khác xa với những nơi ẩn dật rừng sâu của Ấn độ hay Nam Á. Các tu viện Tây Tạng thông thường rộng mênh mông và rất nhiều tu viện được đặt ở những khu vực hẻo lánh, thưa dân cư. Đồ dùng được cung cấp theo quy mô lớn và phải được mua bán và vận chuyển đến. Theo đại sư Shabkar quan sát thì điều này có nghĩa là cần đến giao thương và từ thị trường. Và cứ nơi nào có thị trường, bất kể đó là một cửa hàng tạp hóa của người thuộc vùng Hy mã lạp sơn hay từ một chợ địa phương ở Châu Âu hay Châu Mỹ thì ba lần thuần tịnh sẽ không áp dụng được.

Khi nói về điều này, mục đích của đại sư Shabkar là đặt vấn đề theo đúng hoàn cảnh của nó, và để chỉ ra rằng không thể lấy cớ để biện minh cho việc ăn thịt của các nhà sư Tây Tạng. Mục đích của nguyên tắc ba lần thuần tịnh này là để phân lập ra một loại thịt duy nhất mà việc tiêu dùng nó không làm hủy hoại giới Ba la đề mộc xoa. Mặt khác, nói trắng ra, việc cung cấp thịt "thanh khiết" theo một quy mô rộng lớn đã là một sự mâu thuẫn ngay từ trong ý niệm. Dù rằng việc ăn thịt ở Tây Tạng rất khó tránh, nhưng sự viện cớ đến nguyên tắc "ba lần thuần tịnh" để bênh vực và bình thường hóa việc ăn thịt này là không chính đáng.

Đối với những người có thể và có thiện chí từ bỏ việc ăn thịt trong khí hậu khắc nghiệt của Tây Tạng, thì có nghĩa là thực tế họ phải sẵn sàng sống trên bờ vực của sự chết đói. Phong cách sống này rõ ràng không phải cho số đông. Tuy nhiên, đại sư Shabkar không phải là một trường hợp độc nhất. Trong giai đoạn ban đầu của Phật giáo Tây Tạng, từ bỏ ăn thịt trong các tu viện chắc chắn là một quy tắc, như được thấy trong luật lệ của Vua Trisong Detsen (thực tế này được đại sư Shabkar đề cập đến trong tác phẩm khác của ngài). Phải thừa nhận rằng, mô hình tu viện tại thời điểm đó chắc chắn nhỏ hơn nhiều và có số lượng chư tăng ít hơn nhiều so với các tu viện thời gian sau này. Thời kỳ đó, họ cũng được hưởng sự bảo trợ của hoàng gia và cũng được cung cấp đầy đủ đồ dùng. Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, trong tất cả các giai đoạn lịch sử của Tây Tạng thì luôn luôn có những đạo sư, và không có gì để nghi ngờ, một phần trong số các môn đệ của họ từ bỏ việc ăn thịt. Rất nhiều môn đệ của dòng Kadampa đã làm như vậy, bắt đầu với chính đại sư Atisha, và theo sau đó là các bậc đại sư và các hành giả của tất cả các tông phái – như ngài Milarepa, ngài Drikung Kyobpa, ngài Taklung Thangpa, ngài Phagmo Drupa, ngài Thogme Zangpo, ngài Drukpa Kunleg... v.v..., cho đến những đại sư của giai đoạn gần đây như ngài Jigme Lingpa, ngài Nyakla Pema Dudul, và ngài Patrul Rinpoche. Trong trường hợp của vị đại sư Patrul Rinpoche, tác giả trứ danh quyển "Lời Vàng Của Thầy Tôi", thì mọi người đều biết rằng, thông qua sự bộc lộ không ngơi nghỉ về Bồ Tát Hạnh và thông qua những lời dạy lặp đi lặp lại của ngài về cảnh ngộ khốn khổ của động vật, đại sư Patrul Rinpoche đã xóa bỏ rất có hiệu quả việc thực hành giết mổ động vật để cúng dường thịt của động vật đó cho các vị lạt ma đến thăm tại nhiều vùng của miền Đông Tây Tạng.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: Thức Ăn Của Bồ Tát

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 12/11/14 20:22

ĂN THỊT VÀ PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA

Nguyên tắc ba lần thuần tịnh được thiết lập trên bối cảnh của giáo pháp Nguyên thủy (Tiểu thừa) như là một hướng dẫn để đảm bảo sự nguyên vẹn của những giới nguyện Ba la đề mộc xoa. Đối với Đại thừa, có một sự thay đổi sâu sắc về trọng tâm hướng đến: đó là chuyển từ ước nguyện muốn giải thoát bản thân khỏi những đau khổ sang sự nhận biết mãnh liệt về nỗi khổ của tất cả chúng sinh và gieo trồng ước nguyện bảo vệ và giải thoát họ. Bởi vì khả năng giải thoát cho người khác ngụ ý đồng thời thành tựu giải thoát cho chính mình nên giáo pháp Tiểu thừa không hề bị khước từ; ngược lại giáo pháp đó là cơ sở nền tảng của Phật giáo Đại thừa, được kết hợp và tôn lên trong Phật giáo Đại thừa. Sự cần thiết của việc "giải thoát cho bản thân mình" được thừa nhận, tuy nhiên sự chuyển trọng tâm sang "giải thoát cho người khác", hoặc nói một cách chính xác hơn, hướng tới trạng thái trí tuệ mà ở trong đó không còn khái niệm và hiện hữu về sự phân biệt giữa bản thân mình và người khác.

Việc quán chiếu và nghiền ngẫm về sự phân cực giữa bản thân và người khác là một việc làm quan trọng. Trong giáo pháp đạo Phật có nói đến một sự thật là tất cả những chúng sinh hữu tình, không có ngoại trừ, đều trải nghiệm một cảm nhận về cái "Tôi", về cái ngã mà họ bám chấp vào. Họ phục vụ lợi ích của cái ngã tưởng tượng này, họ lo sợ và kháng cự lại bất kỳ cái gì đe dọa cái ngã đó. Họ muốn hạnh phúc; họ không muốn bị đau khổ. Niềm khát khao cơ bản này là cơ sở không chỉ cho sự tồn tại của cá nhân mà còn cho sự tìm kiếm tâm linh, và niềm khao khát đó cũng bám rễ sâu như sự bám chấp vào bản ngã. Như bất kỳ ai khác, những người thực hành giáo pháp Tiểu thừa cũng đấu tranh để đạt được hạnh phúc, và với họ là hạnh phúc trọn vẹn ở cõi niết bàn. Ước nguyện giải thoát cá nhân − giải thoát cho chính bản thân họ − về bản chất cũng hoàn toàn giống như sự thôi thúc kiếm tìm hạnh phúc của những chúng sinh ít năng lực hơn, và đối với những chúng sinh này thì đó là căn nguyên dẫn đến cõi luân hồi.

Một đặc điểm trong biệt tài giảng dạy của Đức Phật là việc Ngài đã khéo sử dụng động lực cơ bản của lợi ích cá nhân trở thành một nguồn năng lượng để kéo những học trò của Ngài vượt khỏi luân hồi và tâm bám chấp vào bản ngã, mà tâm này chính là nguyên nhân của luân hồi. Như đức Đạt Lai Lạt Ma thường nói, chúng ta là những chúng sinh lấy mình là trung tâm; Đức Phật đã dậy chúng ta làm thế nào để việc coi mình là trung tâm trở nên khôn ngoan. Khi lưu ý đến điều này, chúng ta có thể hiểu được tại sao giáo pháp về Tiểu thừa lại có tính chất đưa ra các quy định và phạm vi hạn chế dựa trên giới luật. Nếu những nguồn năng lượng không được kiểm soát sẽ dẫn đến những đau khổ của luân hồi, vì vậy chúng được ràng buộc bởi những giới nguyện; khi đó những nguồn năng lượng này được sử dụng và hướng đến các kết quả tốt. Một người học hỏi để từ bỏ tiêu cực và vận dụng những nguyên tắc kỹ xảo của giới luật, sự tập trung vào trí tuệ, xuất phát từ sự dẫn dắt của động lực căn bản của chính họ: sự khát khao hạnh phúc cho bản thân.

Trái lại, trong Phật giáo Đại thừa, có cái gì đó đi ngược lại bản chất (khuynh hướng) này. Thực ra xem xét một cách kỹ lưỡng và chân thực về bản ngã cho thấy rằng chúng ta không phải là hoàn toàn vị tha một cách tự nhiên, tức là (chúng ta không tự nhiên) lo lắng cho người khác trên cả sự tổn hại lợi ích của bản thân mình. Chủ nghĩa vị tha đưa chúng ta vượt ra ngoài bản thân mình, và là một thứ mà chúng ta phải học một cách có ý thức. Hơn nữa kinh nghiệm cho thấy rằng, để có được mong muốn cam kết với bất kỳ một giáo pháp nào thì người môn đồ cần được truyền cảm hứng và thiết tha đạt đến mục tiêu. Đây là lý do tại sao trong Nhập Bồ Tát Hạnh, lại phân biệt giữa Bồ Đề tâm nguyện – quan tâm và ước nguyện đạt được quả vị giác ngộ tối thượng vì lợi ích của người khác – với Bồ Đề tâm hạnh – thực sự tham gia và thực hành theo con đường của Bồ Tát để có thể đạt được mục tiêu giác ngộ.

Theo sự giải thích của những giáo huấn, hai mặt của Bồ Đề Tâm này gắn liền với những giới nguyện và giới luật khác nhau, và trong phần đầu của chương Cam Lộ của sự Bất Tử (The Nectar of Immortality), đại sư Shabkar đề cập đến hai loại thực hành mà đặc biệt gắn liền với Bồ Đề tâm nguyện. Thực hành đầu là giáo huấn bảy bước nổi tiếng, được thiết lập nhằm tạo cảm giác gần gũi với người khác. Thực hành này là dựa vào sự hiểu biết rằng tất cả chúng sinh, tại thời điểm nào đó trong suốt quá trình luân hồi của họ, đã liên hệ với chúng ta trong mối quan hệ bố mẹ - con cái. Mục tiêu của thực hành này là để nhận ra rằng tất cả chúng sinh tại một thời điểm nào đó đã rất gần gũi với chúng ta và yêu thương chúng ta sâu sắc, dù hiện giờ họ có ở hình dạng và hình thái nào đi chăng nữa. Chúng ta đã hoàn toàn quên mất họ, những người đã từng yêu thương chúng ta, cũng như chúng ta sẽ nhanh chóng quên đi những người – vợ, chồng, người yêu, bố mẹ, con cái – những người rất thân yêu của chúng ta trong kiếp hiện tại, và đó là một tấn bi kịch lặp lại trong sự tồn tại luân hồi của chúng ta. Kết luận mà chúng ta thu được qua những suy nghĩ như vậy là tất cả chúng sinh, dù là con người hay con vật, bạn bè hay kẻ thù, dù (ta) biết hay (ta) không biết – tất cả đều là những người thân yêu đã thất lạc từ lâu.

Thực hành thứ hai gắn kết với Bồ Đề tâm nguyện là thực hành về "sự bình đẳng và hoán đổi". Điều này được ngài Tịch Thiên [i](Shantideva)]/i] diễn giải chi tiết tại tác phẩm Nhập Bồ Tát Hạnh và là phương pháp mang nhiều tính triết học hơn. Phương pháp này sử dụng chiêm nghiệm lô-gic để làm suy yếu sự phân biệt có vẻ rất vững chãi giữa khái niệm ta và người, để chỉ ra rằng những khái niệm này chỉ là những khái niệm được xây dựng mà không có một giá trị thực chất nào – cũng chỉ như một huyễn tưởng về thị giác mà thôi. Hai phương pháp này phối hợp tốt với nhau. Thực hành về sự bình đẳng và hoán đổi tạo ra một nền tảng tâm đúng đắn, chỉ ra rằng lòng từ bi là rất cần thiết và chính đáng. Ngược lại, giáo huấn bảy bước lại khơi dậy cảm xúc rất nhiều và được thiết lập để tạo một cảm nhận gần gũi vô cùng với các chúng sinh khác và với những nỗi đau khổ của họ, để tâm (của ta) cảm kích với mong nguyện, và thực chất là quyết định phải làm một cái gì đó để giảm bớt (nỗi khổ) và giải thoát cho họ. Khi cả sự thấu hiểu và cảm xúc được tạo dựng và phát triển đến một mức độ đủ mãnh liệt thì lòng từ bi thực sự sẽ xuất hiện. Một lần nữa, cần phải nhấn mạnh rằng hai giáo huấn này tạo thành một phần của những cam kết gắn liền với Bồ Đề tâm nguyện. Chỉ khi nào hai thực hành này nhuần nhuyễn thì Bồ Đề tâm chân thực mới nảy nở trong tâm thức. Điều này tất nhiên không có nghĩa là một người phải đợi cho đến khi hoàn toàn thấu triệt những giáo huấn về Bồ Đề tâm nguyện thì mới tham gia những hoạt động gắn liền với Bồ Đề tâm hạnh (bố thí và các Ba la mật đa khác). Tuy nhiên, chỉ đến khi các huấn luyện trước (Bồ Đề tâm nguyện) được thấm nhuần, thì những rèn luyện sau (Bồ Đề tâm hạnh) mới có thể được thực hành một cách trọn vẹn.

Do vậy, những giáo huấn gắn với Bồ Đề tâm nguyện là nền tảng của thực hành Đại thừa, và việc đại sư Shabkar đề cập đến những giáo huấn này trong phần mở đầu tác phẩm của ngài không phải là một điều gì bất thường. Cái gây chú ý là sự liên hệ giữa những thực hành này và việc ăn thịt mà ngài đã chỉ ra. Bởi vì ngài đã nói rằng khi sự rèn luyện tâm đã được thuần thục, ví dụ, khi một người có cảm nhận sống động rằng tất cả các chúng sinh đã từng rất tử tế và gần gũi với chúng ta như thể cha mẹ thân yêu của chúng ta vậy – thì thật sự là không thể nào [ta có thể] ăn thịt họ được. Ngược lại, việc ăn thịt, xem như là thực phẩm bình thường và ăn một cách không suy nghĩ theo một chế độ thường xuyên, cho thấy sự không nhận thức và sự thờ ơ về nỗi khổ đau của chúng sinh mà điều này là trái ngược với sự rèn luyện tâm. Do đó, sự thèm muốn ăn thịt liên tục và sự thỏa mãn những thèm muốn này có thể được xem như một dấu hiệu chỉ ra rằng sự rèn luyện Bồ Đề tâm nguyện chưa thuần thục. Ngoài ra cần phải thêm rằng, khi thiết lập chính kiến này, đại sư Shabkar không tập trung vào chỉ đơn giản là thịt mà ngài tập trung vào các chúng sinh đã bị gây đau đớn và bị giết hại để lấy thịt. Theo sau đó, sự phê phán của ngài nói về không chỉ việc tiêu dùng thịt như thực phẩm, mà còn là việc sử dụng tất cả các sản phẩm để có được chúng thì sẽ phải liên quan đến việc giết hại và đối xử tồi tệ với động vật.

Có thể đối với rất nhiều người trong chúng ta, những giáo huấn này là khó chấp nhận. Nó gợi ý rằng chúng ta, dù thực hành Pháp lâu thế nào đi nữa thì sự thèm thịt và việc tiêu dùng thịt và các sản phẩm động vật chỉ ra rằng chúng ta chẳng hơn gì những hành giả sơ cơ trên con đường Đại thừa. Chúng ta sẽ quay lại điểm này sau, nhưng để chuẩn bị cho việc đọc tác phẩm của đại sư Shabkar, có thể sẽ hữu ích nếu xem xét một chút sâu hơn định hướng căn bản của giáo pháp Đại thừa, những định hướng giải thích và mang lại sự chính đáng cho những chính kiến của đại sư Shabkar.

Bên cạnh sự rèn luyện theo hai nguyên tắc cơ bản được đề cập ở trên, những người khát khao đi theo con đường của Bồ Tát Đạo được khích lệ để gieo trồng bốn thái độ (quan điểm) "vô lượng". Gọi là bốn thái độ "vô lượng" vì lĩnh vực thực hành của họ (tất cả chúng sinh) và phước đức thu được là rộng lớn mênh mông không thể tính đếm. Bốn thái độ này là Từ (ước nguyện chân thành rằng người khác được hạnh phúc), Bi (ước nguyện chân thành rằng người khác không phải chịu đau khổ), Hỉ (sự hoan hỉ chân thành trước may mắn của người khác), và Xả (khả năng áp dụng ba thái độ trước cho tất cả các chúng sinh mà không có sự phân biệt). Trong bốn thái độ này, thái độ thứ tư quan trọng nhất và cũng thử thách nhất.

Khi chúng ta xem xét thế giới từ vị trí trung tâm mà bản thân chúng ta tự cho mình ở đó, chúng ta thấy rằng toàn thể chúng sinh hữu tình được phân thành ba loại. Thứ nhất, có những người dường như gần gũi với chúng ta, và vì vậy với chúng ta thì những người này có vẻ như xinh đẹp, hấp dẫn, tốt đẹp và quan trọng. Sau đó có những người chúng ta không thích hay sợ hãi, và những người này thì dường như xa cách, tiềm ẩn sự đe dọa, và xấu xí. Cuối cùng, giữa hai thái cực này, có vô số rất đông chúng sinh mà chúng ta chỉ đơn giản là không biết họ, không quan tâm đến họ, và liên hệ với họ trong sự thờ ơ. Lĩnh hội vấn đề theo cách như thế đóng góp vào hiện trạng mà chúng ta gọi là ở trong cõi luân hồi; nó là kết quả không tránh khỏi của một cảm giác bản ngã và bám chấp vào bản ngã. Sự phân chia thế giới thành tốt, xấu, và thờ ơ là một bản năng đã bén rễ rất sâu đến nỗi chúng ta có thói quen coi nó là hiện thực khách quan, tuy nhiên thực chất thì đó không là gì khác hơn một ảo tưởng được tạo ra bởi sự bám chấp của chính bản thân chúng ta.

Sự thật là không ai sinh ra đã tự nhiên có bản chất dễ chịu, bản chất xấu, hay bản chất không quan trọng, và thực hành về sự công bằng được dùng để phá vỡ ý thức hẹp hòi của những giả định tự coi mình là trung tâm. Vì chỉ khi nào chúng ta hoài nghi về những ý tưởng này thì chúng ta mới có thể thành công trong việc bắt đầu nhìn thấy chúng sinh khác tách rời khỏi (những giả định của) chúng ta, mà họ đến từ chính họ, theo một cách không bị méo mó bởi những thái độ và những mong đợi tự coi mình là trung tâm của chúng ta. Và có thể đây là lần đầu tiên chúng ta nhận thấy rằng, dù rằng họ cũng như mối quan hệ giữa chúng ta với họ khá độc lập, thì tất cả họ đều giống nhau – tất cả không một ngoại trừ, từ những đứa con thân yêu nhất của chúng ta đến những loài côn trùng chẳng hề có ý nghĩa gì (với chúng ta) cả. Bất kỳ ai cũng đều muốn duy nhất một điều, đó là đạt được hạnh phúc và thoát khỏi khổ đau. Tất cả những chúng sinh hữu tình, dù là con người hay động vật, đều ước mong được toại nguyện trong bản chất và phạm vi của trạng thái hiện thân (hình hài) hiện tại của họ.

Thật thú vị khi xem xét mức độ xung đột giữa sự thấu hiểu này với bản năng của chúng ta. Một cách tự nhiên chúng ta gắn mức độ quan trọng cho bất kể những gì nằm trong phạm vi hấp dẫn [quan tâm] của bản ngã, và phương hại đến những gì không phải (là quan trọng với bản ngã đó). Chúng ta bỏ qua những ai không đủ may mắn để nằm trong nhóm của chúng ta, quên mất rằng tất cả họ đều như nhau trong cùng một khát khao cơ bản. Chúng ta có sự ưa chuộng gắn liền với gia đình của chúng ta, cộng đồng của chúng ta, truyền thống của chúng ta, đất nước, quốc gia, sắc tộc của chúng ta v.v..., và dường như là đương nhiên chúng ta nuôi dưỡng và bảo vệ những thứ đó và coi đó như nhiệm vụ trước tiên, bỏ mặc những chúng sinh còn lại để họ tự xoay xở. Và trong những nhóm phân loại này chúng ta còn bổ sung thêm loài của chúng ta nữa. Chúng ta nghĩ rằng chỉ có con người mới là quan trọng.

Rất đúng khi Phật giáo cho rằng việc được làm người có một giá trị tối thượng. Bởi vì chỉ có con (duy nhất trong thân) người (thì) mới có thể thực hiện được việc rèn luyện tâm linh một cách hữu hiệu và cuối cùng dẫn đến giải thoát. Nhưng ngoài việc này ra thì tất cả chúng sinh – cả con người và động vật – đều giống nhau. Tất cả đều bám chấp vào ý thức về bản ngã và theo đuổi lợi ích riêng của họ, bất kể là do bị thúc đẩy bởi bản năng hay do sự lựa chọn có ý thức. Khi bị tấn công, tất cả đều cố gắng tự vệ và cứu bản thân họ. Khi có cơ hội, họ tìm kiếm sự toại nguyện theo khả năng và nhu cầu của mình, cả hai (con người và động vật) đều vì bản thân họ và vì những người/con vật gần gũi với họ. Họ cố gắng tránh để khỏi bị thất vọng. Bám chấp vào huyễn ảo của bản ngã, chúng sinh lang thang trong luân hồi. Tất cả họ − tất cả chúng ta − đều đau khổ, và chính những đau khổ chứ không phải là tình trạng hiện tại của chúng ta làm chúng ta trở thành đối tượng của lòng bi mẫn. Do đó, tất cả chúng sinh, mà không chỉ là con người, đều là những đối tượng được lợi lạc từ sự giác ngộ của Đức Phật, và việc giải thoát cho tất cả họ là mục tiêu của con đường Đại thừa.

Xét về tổng thể thì đúng là con người thông minh hơn và có ích hơn các loài khác, và cũng đúng rằng vì tiềm năng tâm linh (của họ) nên thông thường con người sẽ không phải hi sinh (chỉ) vì lợi ích của con vật (mặc dù, trong trường hợp của những Bồ Tát chứng ngộ cao thì điều này có thể xảy ra, ví dụ như trong một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đức Phật đã lấy cơ thể mình làm thức ăn cho hổ mẹ sắp chết đói). Mặt khác, theo quan điểm của giới Phật tử thì tôn giáo hữu thần là sai lệch khi giả định (cho) rằng con người là "Chúa tể của sáng tạo" và các loài khác được cung cấp cho chúng ta sử dụng, ăn (thịt), và mua vui. Tất cả chúng sinh xuất hiện trên thế giới này theo nghiệp lực của họ, và tất cả đều có quyền bình đẳng trên thế giới này. Nhận ra chân lý cơ bản này là một trong những mục tiêu của sự thực hành "Xả" [trong bốn thái độ Từ Bi Hỉ Xả]. Đó chính là sự thấu hiểu cảm thông với tình trạng khổ đau của tất cả chúng sinh, con người hay chúng sinh khác, hoàn toàn không vướng vào góc nhìn lấy mình làm trọng tâm, phục vụ lợi ích và khát vọng của bản thân.

Một khi vấn đề cơ bản này được hiểu thấu đáo thì sự khác nhau giữa phương pháp Đại thừa và Tiểu thừa về vấn đề ăn thịt sẽ trở nên dễ hiểu. Đối với Phật giáo Đại thừa, mục tiêu của sự quan tâm không còn nằm ở người ăn thịt và khả năng bị bất tịnh của người đó. Thay vào đó, mục tiêu hướng về nạn nhân, những chúng sinh phải chết trong nỗi sợ hãi và đau đớn để cơ thể của chúng được tiêu dùng hoặc sử dụng cho những mục đích khác. Quan tâm này là tâm điểm của những suy nghĩ và thực hành của đại sư Shabkar, và điều đó xuất hiện lặp đi lặp lại trong tự truyện (tiểu sử) của ngài. Đại sư không thể giữ yên lặng, ngài bị ám ảnh bởi nỗi thống khổ của những con vật bị săn bắn cho đến chết, hàng nghìn con bị giết, mổ để cung cấp thực phẩm cho những người không thể hoặc không chịu nuôi dưỡng bản thân họ theo bất kỳ cách nào khác. Đại sư Shabkar có cùng một tri kiến như đại sư Patrul Rinpoche khi ngài thừa nhận sự thật hiển nhiên nhưng bị tảng lờ rằng, dù động vật có yếu đuối và ngu ngốc đến thế nào chăng nữa thì chúng cũng không muốn chết. Và ngài khóc than rằng cuộc sống của chúng, chính là tài sản duy nhất của chúng, cũng bị lấy đi từ những người và để cho những người mà, đi trái với nguyên tắc rèn luyện tâm, xây dựng hạnh phúc của họ trên nỗi khốn cùng của kẻ khác.

Nếu đó là phương pháp tiếp cận của đại sư Shabkar về vấn đề ăn thịt tại Tây Tạng thì sẽ không quá khó để tưởng tượng ra những phản ứng của ngài với tình huống, nếu mà ngài biết được, về những người đồng hương Tây Tạng lưu vong hoặc những Phật tử sống ở miền Tây giàu có, nơi mà việc mua những (thực phẩm) thay thế ngon lành và bổ dưỡng hoàn toàn không khó khăn một chút nào và nơi mà việc sản xuất thịt tạo nên một ngành công nghiệp rộng lớn, tàn bạo và vô nhân đạo đến cùng cực. Trên tất cả, ngài không thể dung thứ cho sự bóp méo những giáo huấn bởi những người tìm kiếm biện minh cho những thực hành của họ thông qua những ngụy biện phục vụ bản thân và chỉ có vẻ bề ngoài, như ngài đã nhìn thấy. Ngài bác bỏ một cách vững chắc những biện hộ ‘ba lần thuần tịnh’, trước hết bởi vì những biện hộ này không thích hợp trong bối cảnh Đại thừa, và thứ nhì bởi vì nó rõ ràng không thích hợp ở Tây Tạng. Ngài có rất ít thời gian cho những thực hành mang tính đạo đức giả bằng cách cầu nguyện cho con vật mà mục đích chính của cầu nguyện này là để xoa dịu lương tâm cắn rứt của kẻ giết thịt và của người ăn thịt, và ngài cũng phản đối một cách mạnh mẽ ý kiến cho rằng động vật được lợi lạc khi thịt của chúng được ăn bởi những người tự cho mình là người thực hành giáo pháp nhưng lại ăn thịt vì ham muốn tầm thường.

Mặt khác, đại sư Shabkar nhận ra rằng quy tắc luôn luôn có những ngoại lệ. Ngài cũng nhận ra rằng việc ăn thịt là có thể và cần thiết trong một số trường hợp đặc biệt, ví dụ như khi chẳng còn có gì nữa để ăn, hoặc khi cần thiết để cứu chữa sự suy nhược cơ thể vật lý của những vị đạo sư cao tuổi mà nếu những vị đạo sư này chết đi thì sẽ là một cản trở lớn cho sự duy trì giáo pháp.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: Thức Ăn Của Bồ Tát

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 13/11/14 20:33

ĂN THỊT TRONG PHẬT GIÁO MẬT THỪA

Rất nhiều người nghĩ rằng giáo pháp Mật thừa, con đường (cỗ xe) của những phương pháp thiện xảo trong đó việc sử dụng đối tượng của các giác quan được đưa vào con đường thực hành, cho phép và thậm chí cổ súy việc ăn thịt cũng như uống rượu. Trong văn bản giáo huấn chắc chắn có tuyên bố rằng, trong lễ cúng dường ganachakra (các đại lễ cúng dường trong Mật thừa) thì "thịt và rượu là không thể thiếu". Điều này trên thực tế thường được hiểu theo nghĩa đen rằng lễ ganachakra là một dịp để thưởng thức thịt và rượu, đôi khi với số lượng lớn – và vì vậy có sự cho phép ăn thịt hàng ngày. Tuy nhiên trên thực thế, các đại sư Mật thừa vĩ đại nhất trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng từ bỏ việc ăn thịt trong tất cả các tình huống, và khuyến khích những đệ tử của họ cũng làm như vậy, chỉ ra rằng vấn đề không đơn giản như chúng thể hiện. Giáo huấn Mật thừa về việc sử dụng đối tượng giác quan là rất vi tế, và, đối với tất cả các chủ đề phức tạp, rất dễ bị trình bày sai hay áp dụng sai.

Thông thường mà nói, mỗi một thừa trong ba thừa – Tiểu thừa, Kinh thừa và Mật thừa thuộc giáo Pháp Đại thừa – đều thể hiện phương pháp đặc trưng riêng. Giáo pháp Tiểu thừa quan tâm đến giải thoát bản thân. Phẩm tính đặc trưng của tâm trong Tiểu thừa là sự xả ly (nges byung), quyết định dứt khoát rời bỏ luân hồi. Tiếp tục vun bồi trên quyết tâm đó, giáo pháp Đại thừa quan tâm đến Bồ Đề Tâm, và điểm nổi bật của giáo pháp Đại thừa là sự quan tâm đầy vị tha cho người khác và sự thấu hiểu trí tuệ tính không. Trong trường hợp của giáo pháp Mật thừa mà thông thường được coi là "thừa quả, resultant vehicle" vì nó đưa vào con đường (thực hành) những phẩm chất giác ngộ sẵn có tiềm ẩn trong Như lai tánh (tathagata-garbha), hay Phật tánh, thì trọng tâm lại là việc nhận ra được sự thuần khiết nguyên sơ và sự bình đẳng của tất cả các hiện tượng. Ở đây, khái niệm sạch và không sạch (một sự phân biệt bám rễ sâu trong cách tạo dựng tâm lý của chúng ta và được phản ánh cũng như củng cố bởi các bối cảnh văn hóa), cùng với những khái niệm nhị nguyên đi liền với nhau như: đau đớn và thích thú, vui sướng và đau khổ, tốt và xấu v.v..., chẳng mang một ý nghĩa nào cả. Chúng được xem như những huyễn tưởng về bản ngã cần phải được vượt qua. Điều này giải thích lối sống khác thường của nhiều bậc đại thành tựu (siddhas) và những bậc đạo sư Mật tông trong quá khứ. Sống bên rìa của xã hội, họ thường xuất hiện hay thường cư xử theo cách mà người thường thấy ghê tởm, nếu không nói là thực sự kinh hoàng. Ví dụ, ngài Kukuripa sống giữa bầy chó; ngài Virupa nuôi dưỡng bản thân bằng những cái ruột ôi thiu của những con cá thối rữa; trong khi ở Tây Tạng, ngài Tsangnyon Heruka trứ danh một lần đã thết đãi bản thân bằng phần óc lấy từ những chiếc đầu lâu bị xử trảm đã bị phân hủy và lên giòi được treo trên cổng một thành phố mà ngài tìm thấy. Những con người đó đã trở thành một nét đặc trưng rất quan trọng, nếu không muốn nói là phi thường của Phật giáo Mật tông ngay trước thời kỳ hiện đại.

Để giúp vượt qua được khái niệm nhị quyên giữa thuần tịnh và bất tịnh chính là một lý do mà thịt và rượu, thông thường được xem như không trong sạch hay đáng bị chỉ trích trong bối cảnh của giới Phật tử, lại được yêu cầu trở thành một thành phần của thực hành Mật giáo. Bằng cách quy định sự hiện diện của thịt và rượu tại (lễ cúng dường) ganachakra, kinh điển và những chỉ dẫn thực hành (sadhana) miêu tả các yếu tố − năm loại thịt và năm loại cam lộ − những yếu tố mà đối với những Phật tử Đại thừa thông thường hay bất kỳ một ai khác có thể sẽ thấy là không thuần tịnh, không thể chấp nhận được, hay thậm chí là ghê tởm. Lễ cúng dường ganachakra sẽ không bao giờ được hiểu là một cái cớ để thỏa mãn những thèm muốn bình thường. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói: "Về vấn đề này, có thể có người cố gắng biện minh cho việc ăn thịt (của mình) với những lý do rằng người đó thực hành Mật giáo Du già Tối thượng (Highest Yoga Tantra). Nhưng người này không được quên rằng bao gồm trong năm loại cam lồ và năm loại thịt là những chất mà thông thường được xem như dơ bẩn và đáng ghê tởm. Một người thực hành Mật giáo Du già Tối thượng chân thực sẽ không phân biệt bằng cách chỉ ăn thịt mà không ăn những chất dơ bẩn. Nhưng chúng ta sẽ che mũi ngay nếu những chất dơ bẩn đó ở đâu đó hay ở ngay gần chúng ta, nói gì đến việc thực sự ăn chúng". Khi xem xét tất cả những điều này, chắc chắn có một cái gì đó lố bịch trong các buổi lễ ganachakra nơi mà các hành giả Du già cả nam lẫn nữ ăn những miếng thịt bò được tưới bằng bia Burgundy.

Những hành giả nào có thể thưởng thức năm loại thịt và năm loại cam lồ hay bất kỳ cái gì tương tự như vậy trong một trạng thái vượt khỏi tính nhị nguyên là những hành giả Mật giáo thực thụ. Còn nếu lại chỉ là ngụy biện – tức là sử dụng lễ ganachakra như một lý do cho những ham muốn thông thường – thì tốt nhất là giảm thực hành xuống mức độ của một nghi lễ trống không. Mặt khác, thậm chí trong trường hợp của một hành giả Du già chân thực, thì nguyên tắc "thịt thuần tịnh" cũng cần được áp dụng. Ít nhất trong trường hợp những hành giả không thể dẫn dắt thần thức của những con vật chết về một cõi Phật, thì vật phẩm cúng dường thích đáng nên là thịt của những động vật bị chết một cách tự nhiên. Ngược lại, theo đại sư Patrul Rinpoche, làm lễ cúng dường ganachakra từ thịt còn tươi và tốt của một con vật bị giết hại để tiêu dùng, là hoàn toàn lầm lạc. Việc làm đó như thể mời các chư Phật và chư Bồ Tát đến dự một bữa tiệc thịnh soạn và cúng dường họ thịt của chính những đứa con của họ.

Để trả lời cho vấn đề này, có thể tranh luận rằng thịt và rượu cúng dường trong lễ ganachakra không phải là (thịt rượu) bình thường. Chúng được tịnh hóa và chuyển đổi bởi năng lực của thần chú. Do đó, việc thưởng thức chúng là được phép. Tuy nhiên, điều này chỉ đúng khi những người làm lễ cúng dường ganachakra là những bậc thành tựu, những người đã chứng ngộ tính thuần tịnh nguyên sơ và tính bình đẳng của tất cả các hiện tượng và khi họ thọ dụng thì những vật phẩm cúng dường thực sự được chuyển đổi. Hơn nữa chỉ có họ mới có thể mang lại lợi lạc cho những chúng sinh mà cơ thể chúng được dùng làm thịt để thọ dụng.

Người ta thỉnh thoảng trích dẫn từ mật điển và nói rằng "bậc từ bi ăn thịt; bậc gìn giữ mật nguyện uống rượu".

Đối với vấn đề này, đại sư Shabkar đáp rằng, "Đức Phật và các đấng Thanh văn đệ tử của Ngài, sáu đại sư lừng lẫy và hai bậc siêu việt của xứ Ấn, đại sư Atisha và những đệ tử tâm truyền của Ngài cùng tất cả những bậc cao quý khác không ăn thịt mà cũng chẳng uống rượu. Vậy nếu những phản biện trích dẫn trên là đúng thì một người sẽ buộc phải kết luận rằng Đức Phật và các bậc nói trên không có lòng từ bi hay không giữ mật nguyện, hoặc lòng từ bi của các bậc này ít hơn lòng từ bi của những người đã đưa ra câu nói phản biện đó". Nói cách khác, thực sự không thể luận giải theo nghĩa đen của đoạn văn đang bàn luận. Sẽ hợp lý hơn nếu xem xét câu trích dẫn như một ví dụ của "những lời dạy gián tiếp được thể hiện qua phép ẩn dụ", kiểu như lệnh giết cha mẹ một cách bạo tàn hay ám sát nhà vua. Như đại sư Shabkar bình luận ở một tài liệu giáo huấn nào đó, "Khi trong giáo huấn Mật thừa nói rằng một người nên ăn thịt, thì đây không phải là lời dạy nghĩa rõ ràng. Luận giải Mật thừa có tên mkha' 'gro rgya mtsho[/i] chỉ rõ rằng, ăn thịt ở đây là để chỉ việc "nuốt chửng những suy nghĩ lan man".

Thỉnh thoảng người ta cũng nói rằng khi một người thực hành pháp và đặc biệt hành giả Kim Cương thừa ăn thịt thì hành động của họ được biện minh vì họ đang tạo ra sự kết nối giữa con vật bị giết mổ với Pháp. Họ đang mang lại những lợi lạc đặc biệt cho con vật. Do đó ăn thịt với số lượng lớn và theo chế độ thường xuyên là tốt. Đại sư Shabkar coi lý lẽ này đặc biệt nực cười. Cũng như nhiều biện minh sai lầm nhưng lại hấp dẫn (khác), biện minh này được thiết lập chỉ trên một nửa sự thật. Nguyên tắc tương thuộc lẫn nhau (nhân duyên) có thể áp dụng được mọi lúc mọi nơi và cần thiết phải đưa vào để áp dụng trong trường hợp hiện tại. Nếu có thể tạo được sự kết nối với Pháp thông qua sự thấy, sự nghe, hoặc sự chạm vào những đại diện của giáo pháp thì cũng chỉ là lý luận để cho rằng con vật sẽ kết nối được với Pháp thông qua cách bị ăn thịt bởi một người thực hành Pháp. Không ai nghi ngờ có một vài phần sự thật trong nội dung này. Tuy nhiên câu hỏi cần phải đặt ra ở đây là liệu nguyên tắc này có được áp dụng ở mọi nơi mọi lúc, và đặc biệt là liệu nó có thể áp dụng cho chúng ta không.

Nếu trong sự tương thuộc nhân duyên, một con vật có thể được lợi lạc thông qua việc thịt của nó được tiêu dùng thì phần lớn điều này sẽ phụ thuộc vào tình trạng của người ăn thịt – chính là sự kết nối của người đó với Pháp và mức độ chứng ngộ tâm linh của người này. Nếu người thọ dụng thịt là một bậc giác ngộ − Đức Phật hay một vị Đại Bồ Tát an trú trong sự chứng ngộ − thì sẽ không khó khăn để tin rằng con vật đang được đề cập đến quả thực là may mắn khi so sánh với các con vật khác bị giết mổ để lấy thịt. Nhưng tính trung thực chắc chắn buộc chúng ta phải thừa nhận rằng, trong trường hợp của chúng ta, của những người bình thường đang vật lộn với thực hành – thì "kết nối với Pháp" chỉ bao gồm nghe một ít giáo huấn, đọc một số ít sách, tham gia một hoặc hai lễ quán đảnh, được nhận gia trì vào đỉnh đầu, và đang cố gắng thiền định và thực hành khi chúng ta có thời gian và khi tâm trạng cho phép. Khi tất cả được nói và làm, thì sự kết nối của bản thân chúng ta với giáo pháp cũng chỉ rất mỏng manh. Và nếu chúng ta có khi nào băn khoăn về tình trạng khổ đau của chúng sinh mà chúng ta đang ăn thịt trên cơ thể của chúng thì ai trong số chúng ta có thể định vị thần thức của con vật đó trong trạng thái trung ấm (bardo), nói gì đến việc dẫn dắt con vật đó đến được một cõi Phật? [Thế thì] lợi lạc nào có thể đến được với con vật mà thịt của chúng bị ăn bởi những người như chúng ta – những con người chỉ đơn giản là những người khát khao trên con đường (giải thoát), mà không có một thành tựu nào cả và chính bản thân đang là tù nhân của cõi luân hồi?

Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng, theo nguyên tắc tương thuộc vừa đề cập trên đây, có những bậc kiệt xuất, tiến rất xa trên con đường tâm linh, với những con người này thì bất kể một tiếp xúc nào cũng thiết lập sự kết nối với Pháp và là một nguồn gia trì vĩ đại. Những bậc thầy chứng ngộ và những hành giả du già thành tựu là có thật, và họ có khả năng đem lại lợi lạc cho chúng sinh thông qua việc ăn thịt chúng. Đại sư Shabkar tất nhiên hiểu rõ điều này và ngài cảnh báo các đệ tử của mình hãy thận trọng trong sự nhận định của mình và tránh khỏi tất cả các chỉ trích. Vấn đề này được thảo luận rất chi tiết trong tác phẩm Giáo Huấn Bắt Nguồn Từ Linh Kiến thuần Tịnh (The Emanated Scripture of Pure Vision), một tác phẩm trong đó đại sư Shabkar rời bỏ sự nhấn mạnh mà ngài vẫn thường xuyên đề cập về sự xả ly và thực hành chuyển hóa tâm (lojong) phù hợp với hầu hết các hành giả, thay vào đó ngài thảo luận việc sử dụng khoái cảm giác quan và hỷ lạc – những đặc điểm riêng của giáo pháp Mật tông. Ngài miêu tả thận trọng những mẫu người đủ điều kiện để thực hiện những phương tiện đó một cách thích đáng, mà không gây nguy hiểm cho bản thân mình và người khác.

Khi so sánh với những bậc nêu trên (những người đủ điều kiện để thực hành những phương tiện Mật tông) thì một người bình thường (chẳng khác gì) đang nằm trên lưỡi dao, bởi vì xu hướng tự nhiên một người thường đánh giá tính cách và hành động của người khác và so sánh họ với bản thân mình. Trong trường hợp bình thường, những so sánh như vậy có thể thích hợp và thậm chí có thể mang lại lợi lạc. Nhưng nếu một người ngu ngốc đi so sánh bản thân mình với một bậc đạo sư thành tựu và dám mạo muội chỉ trích bậc đạo sư thành tựu đó thì nghiệp quả có thể sẽ rất nghiêm trọng. Trong phần cuối của cuốn Giáo Huấn Bắt Nguồn Từ Linh Kiến Thuần Tịnh (The Emanated Scripture of Pure Vision), đại sư Shabkar bình luận rằng trong rất nhiều tình huống, ngài đã cân nhắc về sự cần thiết của những văn bản giáo huấn đó, bởi vì trong khi đi khắp nơi, ngài đã nhận thấy có một xu hướng chung chỉ trích một số hành giả Kim Cương thừa nào đó vì (họ) không từ bỏ thịt, rượu và tình dục. Và ngài cũng bình luận tại một chỗ khác rằng, bởi vì một người không thể phán xét mức độ tâm linh của người khác, nên quy tắc tốt hơn hết là luôn giả định những điều tốt nhất và thực hành cái nhìn thuần tịnh, nên tránh bất kể một loại chỉ trích nào hướng tới những người mà sự chứng ngộ tâm linh của họ có thể đã vượt xa rất nhiều (chứng ngộ tâm linh) của chúng ta. Tri giác thuần tịnh, thực tế, là một trong những nét đặc trưng cốt yếu của con đường Kim Cương thừa. Sau khi giải thích tại sao thông thường vấn đề nói đến lại được giữ bảo mật, đại sư Shabkar kết luận, "Một người phải rất thận trọng để gieo trồng cái nhìn thuần tịnh về những hoạt động của Bồ Tát và của các bậc đại thành tựu. Mặt khác, những đệ tử sơ cơ và non nớt không nên hấp tấp cố gắng bắt chước họ".

Trong đại đa số các trường hợp, hiển nhiên lý lẽ một người đang giúp động vật bằng cách ăn thịt chúng là lố bịch. Trong một bài thơ dài có trong tự truyện (tiểu sử) của ngài, đại sư Shabkar đề cập đến vấn đề với một sự hài hước mỉa mai. Ngài miêu tả bản thân đang ngồi trên một đồng cỏ, bao bọc xung quanh bởi một đàn cừu và dê. Một con cừu già tiến lên và nói chuyện với ngài, than khóc cho số phận thương tâm của những gia súc, thậm chí ở một đất nước tôn giáo như Tây Tạng.

    Số phận của những con dê và cừu mẹ già nua
    Nằm trong tay của các vị khách lạt ma.
    Giờ đây, trong thân trung ấm, và trong những
    đời kế tiếp của chúng tôi
    Các bậc đạo sư (guru) là niềm hi vọng duy nhất,
    Bởi vậy xin hãy xót thương chúng tôi.
    Xin đừng lừa dối chúng tôi trong thời khắc hi
    vọng này!

    Hãy cho chúng tôi sống cuộc đời đến phút cuối,
    Hoặc khi chúng tôi chết, hãy mang chúng tôi đi
    đến những cõi cao hơn.
    Nếu ngài không làm như vậy,
    Khổ đau sẽ là số phận của chúng tôi trong kiếp
    này và những kiếp kế tiếp
    Từ đời này sang đời khác, chúng tôi bị giết và
    lại bị giết.
    Đừng để trí tuệ, tình yêu và sức mạnh của ngài
    lu mờ như vậy!
    ....................

    Những thí chủ đến với các ngài, các lạt ma, với
    mũ trong tay
    "Hãy đến thăm chúng tôi, xin mời đến nhà
    chúng tôi", họ nói
    Nhưng đừng giả vờ rằng ngài không biết
    Rằng khi họ chào đón ngài,
    Thì đó là chúng tôi, những con cừu họ đang
    định giết!
    ....................

    Khi các vị lạt ma đến chơi nhà
    Và ngồi trên chiếc "ngai vàng" ấm cúng,
    Họ giết chúng tôi ở bên ngoài, ngay ngoài cửa!
    Đừng giả vờ rằng ngài không biết,
    Chính ngài thông suốt hết mọi việc!
Đại sư Shabkar đáp lại với một lý lẽ chuẩn mực. Trong suốt các đời quá khứ của động vật, không chỉ một lần chúng đã từng đóng góp phần nào đó cho sự bảo tồn Phật Pháp. Giờ đây chúng nên vui mừng với một cơ hội hiếm hoi như vậy! Bằng cách hi sinh cơ thể chúng để nuôi dưỡng những vị lạt ma, chúng đã làm một cái gì đó đáng giá. "Nó chẳng phải là một điều cao quý để hy sinh cơ thể của mình cho Pháp hay sao?" đại sư Shabkar kêu lên. Nhưng chính những con vật được quyền nói lời cuối. "Như tôi đã nói, những con dê và những con cừu đồng thanh kêu than: 'Ôi không! Ông ta chính là một trong những lạt ma đó!' Và khiếp sợ, chúng bỏ chạy". (KWG, f167-168b).

Ý tưởng rằng ai đó thể hiện lòng từ bi với chúng sinh bằng cách ăn thịt chúng quả là một ý tưởng kỳ quái. Rất ít người phủ nhận rằng nếu chúng ta được cho cơ hội kết nối với Pháp nhưng với cái giá bị tra tấn hay giết, thì hầu như không còn nghi ngờ gì nữa, Pháp sẽ là một cái gì đó mà chúng ta sẽ từ bỏ một cách sung sướng. Không quá khó để nhìn thấy rằng việc sử dụng một lý lẽ như vậy không thể hiện một chút nào sự quan tâm thực sự đối với động vật. Đó chỉ là lý lẽ ngụy biện phục vụ bản thân, được sử dụng để che đậy một thèm muốn rất tầm thường. Nếu một người thực sự quan tâm về động vật và ước nguyện kết nối chúng với Pháp thì chắc chắn hợp lý hơn và hiệu quả hơn nếu người đó mua lại chúng từ những tên đồ tể và thả chúng về với môi trường tự do thiên nhiên của chúng, sau khi đã cho chúng ăn các thứ đã được ban phước v.v...

Cuối cùng cũng có một lý lẽ khác thỉnh thoảng được viện dẫn, lần này là để làm yếu vị thế của những người ủng hộ cho việc từ bỏ thịt. Lý lẽ này là việc sản xuất tất cả các loại thực phẩm, bao gồm rau và ngũ cốc, cũng liên quan đến cái chết của các chúng sinh. Rất nhiều côn trùng và những sinh vật nhỏ bị giết khi cày cấy mùa màng và chuẩn bị thực phẩm không phải là thịt, do vậy có gì khác nhau giữa chế độ ăn chay và chế độ ăn mặn? Thoạt nhìn, dường như có một chút hợp lý trong quan điểm này, vì không thể phủ nhận rằng một số lượng khổng lồ côn trùng thực sự bị chết, đặc biệt trong bối cảnh sử dụng phương pháp canh nông hiện đại. Tuy nhiên, ngẫm nghĩ một lúc thì sẽ thấy lý lẽ này là sai lầm ở cả trong nguyên tắc và trong thực hành. Lòng từ bi và niềm khát khao bảo vệ chúng sinh đau khổ − những phẩm chất cơ bản bên trong để từ đó phản ảnh ra những hành vi bên ngoài của những người Phật tử − thì được hình thành nên trước tiên và trên hết là ở động cơ thúc đẩy. Hiện nay việc giết hại động vật một cách tự nguyện là bản chất của ngành sản xuất thịt; không có một loại thịt nào có được theo một cách khác.

Mặt khác, điều này là không đúng với việc cày cấy mùa màng, khi mà việc hủy hoại cuộc sống của chúng sinh, mặc dù nhiều như thế nào, không phải là bản chất của việc canh tác cày cấy. Việc giết thịt này gây ra bởi, hoặc ít nhất bị xấu đi rất nhiều bởi động cơ hiệu quả và lợi nhuận. Một người làm vườn biết rằng có thể trồng rau mà không giết chết côn trùng trừ trường hợp (đó là) tai nạn. Do đó việc ăn rau không tự động liên quan đến ý muốn kẻ khác bị diệt vong. Nhưng làm thế nào mà một người có thể ăn thịt trong khi lại ước nguyện chân thành rằng con vật mình đang ăn vẫn còn sống? Trong bất kỳ trường hợp nào, chính lý lẽ này, mà được dùng để làm cho thói quen ăn chay dường như trở thành bất hợp lý và buồn cười, không thể được viện dẫn mà không làm suy yếu vị trí của người đề xướng ra nó. Bởi vì mọi người đều biết rằng việc chăn nuôi, ví dụ trâu bò, thì bản thân nó cũng cần một số lượng lớn thóc gạo, do đó hậu quả là mất mát sự sống của côn trùng và sinh vật mà sự mất mát này sẽ được cộng thêm rất nhiều với cái chết của gia súc được nuôi để rồi giết thịt. Do đó, chế độ ăn chay một lần nữa nổi bật lên như một phương thức hiệu quả để giảm sát sinh!
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: Thức Ăn Của Bồ Tát

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 14/11/14 07:19

KẾT LUẬN

Đối với nhiều người trong chúng ta, thậm chí đối với cả những Phật tử tận tụy đã đi theo Phật pháp từ lâu, thì những ngôn từ chỉ dạy của đại sư Shabkar cũng dường như là một giáo huấn khắc nghiệt. Từ thời ấu thơ, chúng ta đã quen ăn thịt và sử dụng tất cả các loại sản phẩm động vật khác nhau. Chúng ta thuộc về một xã hội mà việc tiêu thụ thịt được khuyến khích và được xem là chuyện bình thường. Cuối cùng, tất cả chúng ta đều thích thú thưởng thức thực phẩm thơm ngon, và truyền thống văn hóa của chúng ta là truyền thống mà sự thưởng thức thịt cũng chắc chắn chẳng kém gì so với người Tây Tạng. Chắc chắn có nhiều món ăn chế biến từ thịt rất đa dạng và ngon bổ sẵn có trong xã hội giàu có của chúng ta. Ngoài ra, chúng ta có thể chân thành thấy rằng, rất khó khăn về mặt cơ thể, có thể là quá khó khăn, để sống thiếu thịt và cá. Hơn nữa có thể về mặt xã hội, xét trong bối cảnh gia đình và nghề nghiệp của chúng ta, thì một sự thay đổi cơ bản và hoàn toàn về chế độ ăn là không thể, dù vì tất cả các động cơ và mục đích đã nêu. Đồng thời, chúng ta thấy rằng nhiều lý lẽ và thực hành thường được dùng để biện minh cho việc ăn thịt hoặc làm giảm đi cảm giác tội lỗi, và cũng có thể được chúng ta sử dụng để làm lắng xuống lương tâm cắn rứt của mình, đã bị đại sư Shabkar đánh bại thông qua việc chỉ cho chúng ta thấy các lý lẽ này hoặc không có chỗ đứng, hoặc là rất ngu ngốc. Do vậy, với sự đúng đắn và chân thành trong những giáo huấn của đại sư Shabkar, thì làm thế nào chúng ta có thể hấp thụ và sống theo những giáo huấn này trong khả năng và hoàn cảnh của chúng ta.

Điểm quan trọng cần nhớ là, đại sư Shabkar là đạo sư về Phật pháp, và cũng như bản thân Đức Phật, chỉ hướng đến việc đưa chúng sinh vào đúng con đường và giúp họ tiến tới giải thoát và giác ngộ. Từ từ tiến lên (progress) là một ngôn từ thể hiện được phương pháp vận hành. Mặc dù giáo huấn Phật pháp không ngần ngại chỉ ra nghiệp quả của hành động và đưa ra những cảnh báo thích đáng, tuy nhiên sự áp đặt quy định đạo đức khắt khe cho những gì có thể áp đặt, bằng cách chối bỏ và kìm nén những thói quen cũ, thì hoàn toàn xa lạ với tinh thần Phật pháp, và trong mọi trường hợp thì phương cách đó thường đều dẫn tới kết quả vô vọng. Thay vào đó, Pháp thường được miêu tả như một phương thuốc – một phương pháp trị liệu – để xem xét và chuyển hóa từ bên trong những thói quen xấu và những nhu cầu được cho là cần. Những phương tiện được áp dụng tùy thuộc vào khả năng và hoàn cảnh của từng người, và trên hết được tiến hành một cách dần dần, để những giáo huấn không được xem như một loạt những lệnh cấm phiền toái mà là từng bước hướng tới việc đạt được tự do nội tại. Mục tiêu không phải dùng hành động hà khắc của ý chí để kìm nén sự thèm muốn thịt hay để kết thúc việc sử dụng sản phẩm động vật. Thay vào đó, nhiệm vụ của chúng ta là phát triển lòng từ bi sâu thẳm và sự xúc cảm chân thực với khổ đau của con vật, đến nỗi sự mong muốn bóc lột và dùng chúng làm thực phẩm sẽ tự nhiên biến mất. Sự quan tâm chính của đại sư Shabkar không phải để làm cho người khác cảm thấy một cảm giác tội lỗi hay không xứng đáng; mà là để nâng tầm tâm thức hướng tới những mục tiêu mới và cao thượng hơn.

Trong thời gian trước mắt, rất có thể chúng ta cảm thấy khó khăn để từ bỏ thịt hoặc tránh những sản phẩm được sản xuất với phương pháp liên quan đến việc lạm dụng, đối xử tồi tệ và tra tấn động vật để sản xuất các sản phẩm (như đồ da, xà phòng, mỹ phẩm, v.v...) Tuy nhiên, thậm chí ngay cả khi hầu như không thể từ bỏ (thịt hay những sản phẩm như vậy) thì chúng ta vẫn có thể làm được nhiều thứ để cải thiện nghiệp lực và chuẩn bị tâm thức để cuối cùng khi cơ hội đến thì sự thay đổi sẽ làm được và thậm chí dễ dàng.

Nhiệm vụ đầu tiên và có lẽ quan trọng nhất là nỗ lực ghi nhớ những hậu quả từ việc ăn thịt. Nên sẵn sàng nhìn xa hơn sự công khai xuyên tạc của ngành công nghiệp thực phẩm, mà đằng sau vẻ bề ngoài của những quảng cáo mang tính thẩm mỹ và đa cảm (những chú cừu non, hay những con gà hoạt hình), ngành này đã làm mọi thứ để che giấu sự thật kinh hoàng của những nhà máy, nông trại và lò mổ − tất cả tồn tại với một lý do duy nhất: là để chúng ta được cung cấp một lượng thịt rẻ và thừa mứa. Rất nhiều người trong chúng ta ăn thịt, nhưng chỉ một số ít có bụng dạ đến thăm những nơi mà thực phẩm của chúng ta được chuẩn bị − để chứng kiến không chỉ nỗi kinh hoàng và đau đớn của những con vật được vận chuyển, chọn lựa, và bị giết chết hàng ngàn con vật mỗi ngày, mà còn [chứng kiến] sự nhẫn tâm và tàn bạo của những tên đồ tể, những kẻ cung cấp thịt cho chúng ta và làm việc này thay mặt cho chúng ta.

Than ôi, nhu cầu và sự thèm muốn làm chúng ta trở thành những nạn nhân dễ dàng của trò lừa gạt và giả dối. Và cũng chính xác tại đây, tại mức độ ăn uống hàng ngày của chúng ta, mà những nguyên tắc của các giáo huấn luyện tâm thức đã hầu như dễ dàng bị xao lãng và phản bội. Quên đi thực phẩm đến từ nơi nào, không quan tâm đến thực phẩm được sản xuất như thế nào với cái giá phải trả ra sao, ăn ngấu nghiến và tiêu thụ thịt hàng ngày mà không có một khoảnh khắc suy nghĩ về nỗi đau khổ có thể gây nên, đó chính là ngoảnh mặt khỏi chúng sinh. Đó chính là từ bỏ chúng sinh lại trong một biển rộng lớn, không tên của sự đau khổ. Điều này làm sao có thể tương thích với những lời dạy của Đức Phật?

Tất nhiên, có thể quá khó khăn cho chúng ta để tránh ăn thịt hoặc sử dụng sản phẩm động vật, nhưng nếu nó là như vậy thì chỉ cần (chúng ta) có sự ân hận và mong muốn rằng tình hình sẽ khác đi thì cũng mang lại ý nghĩa và giá trị rất lớn. Đó là một bước đi đúng hướng. Cần lòng dũng cảm để thừa nhận một nguyên tắc và một lý tưởng ngay cả khi một người không thể sống với nguyên tắc và lý tưởng đó, tuy nhiên sự thừa nhận này bản thân nó sẽ mở một cánh cửa cho sự thay đổi và tiến triển. Phần còn lại sẽ theo sau một cách từ từ, phụ thuộc vào khả năng của mỗi người. Một người có thể vì một lý do gì đó – như nhu cầu của cơ thể, bối cảnh xã hội, hoặc mức độ thèm thịt của bản thân – không thể từ bỏ thịt, nhưng [người đó] có thể giảm lượng thịt vẫn ăn hoặc lựa chọn loại thịt mà việc lấy đi sinh mạng (của chúng sinh) là ít nhất. Nguyên tắc tương tự áp dụng cho những ai cố gắng từ bỏ thịt một cách hoàn toàn, nhưng trong thời điểm hiện tại, cảm thấy quá khó khăn để có thể sống mà không có những áo choàng lông thú, giầy da, một số loại xà phòng nhất định v.v... Trên hết, để trưởng dưỡng một lương tâm non nớt, thay vì làm ngu muội nó với những lý lẽ ngụy biện có vẻ hợp lý bề ngoài, thì đạo đức hơn nên phát triển một lương tâm có thể thực hiện được. Cuối cùng, chúng ta sẽ đạt đến một mức mà nhu cầu cơ thể và cách sống của chúng ta chấm dứt việc trở thành nỗi sợ hãi và đau đớn của những chúng sinh sống khác.

Cảm nhận cùng với sự thấu hiểu về các hành động tội lỗi đã thôi thúc đại sư Shabkar cổ vũ người khác và khuyến khích họ thực sự thực hành lòng từ bi chân thực đối với tất cả chúng sinh, con người và động vật. Nhưng ngài cũng chấp nhận một cách thực tế rằng ngài đang nói với thiểu số, ít nhất là ở Tây Tạng. Ngài viết, "Rất có khả năng chẳng có ai có thể và sẽ để ý đến tôi. Tuy nhiên một hoặc hai người thông minh và động lòng trắc ẩn có thể (để ý). Do vậy, vì lợi ích của họ, Tôi phải đưa ra những giáo huấn này với khả năng và sự thông thái nhất của tôi".

Gần cuối cuộc đời của đại sư Shabkar, đại sư Patrul Rinpoche, do cảm động bởi những câu chuyện mà ngài được nghe, đã đi một hành trình dài từ Kham đến Amdo để được gặp đại sư Shabkar. Ngài mới chỉ đi được nửa đường thì nghe tin đại sư Shabkar đã viên tịch. Ngài đã tiến hành một trăm lễ lạy trên đường và quay theo hướng đến Amdo và cất lên bài ca khẩn khoản cầu nguyện cho sự tái sinh sớm của đại sư Shabkar. "Lòng bi mẫn và tình yêu thương", ngài cất lên, "là gốc rễ của Pháp. Tôi nghĩ rằng trên toàn bộ trái đất này, không ai có lòng bi mẫn hơn Lạt ma Shabkar. Tôi không có gì đặc biệt để hỏi ngài, không yêu cầu được ban giáo huấn, và chẳng có gì để cúng dường. Tôi chỉ có một ước muốn duy nhất là tích tụ một ít công đức bằng cách nhìn chăm chú vào khuôn mặt ngài".

Mặc dù đại sư Shabkar thảo luận về vấn đề tiêu dùng thịt trong một số tác phẩm của ngài, hai văn bản được dịch ra ở đây đặc biệt được quan tâm. Văn bản thứ nhất là một trích đoạn từ cuốn "Giáo Huấn Có Khởi Nguồn Kỳ Lạ" (The Wondrous Emanated Scripture), thảo luận về lỗi lầm của việc ăn thịt (sha’i nyes dmigs), và phần lớn trong văn bản đó bao gồm các trích dẫn, trong đó có một số trích dẫn rất rộng từ kinh điển Đại thừa, và những giáo huấn của các đạo sư trong tất cả các tông phái của Phật giáo Tây Tạng. Ngoài bản chất truyền cảm hứng của chính những trích dẫn này thì sự thu thập các trích dẫn là mối quan tâm [của đại sư] bởi vì nó chỉ ra rằng, trái ngược hẳn với những ý kiến thông thường, sự lên án việc ăn thịt không phải là một điểm riêng biệt của kinh điển. Sự lên án này cũng được tìm thấy ở giáo pháp Mật điển, bao gồm cả những Mật điển tối thượng Du già (anuttarayoga). Văn bản thứ hai, Cam Lồ Của Sự Bất Tử (The Nectar of Immortality), là một bài thuyết trình được phát triển hoàn diện. Đó là tuyên bố trọng điểm và mạnh mẽ nhất của đại sư Shabkar về chủ đề này (ăn thịt) và văn bản này chắc chắn là một trong những bản cáo trạng mãnh liệt nhất về vấn đề ăn thịt được thấy trong văn chương Tây Tạng. Văn bản này mới được Matthieu Ricard phát hiện lại gần đây, dưới dạng một bản viết tay, trong chuyến viếng thăm Amdo của Matthieu Ricard vào năm 2001. Nó được tìm thấy trong tu viện Shophon Valley, không xa vùng Rekong nơi rất nhiều hành giả và các (yogis) Du già dòng truyền thừa Shabkar vẫn còn sống. Văn bản này đã được ông Yundrung Gyal, cháu trai của học giả nổi tiếng Gendun Chopel, cho mượn để sao chụp. Chúng tôi cảm ơn sâu sắc đến cả hai ông Yundrung Gyal và ông Matthieu Ricard vì đã gửi hai văn bản này cho chúng tôi.

Cả hai văn bản trên đều được dịch bởi Helena Blankleder và Wulstan Fletcher của nhóm dịch thuật Padmakara. Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các ngài Alak Zenkar Rinpoche, Pema Wangyal Rinpoche, Jigme Khyentse Rinpoche và Jetsun Yangchen Chodzom vì những khuyến khích và trợ giúp liên quan đến hai văn bản này. Chúng tôi cũng rất chân thành cảm ơn Jenny Kane, Pamela Law, Ingrid và Dolma Gunther vì những gợi ý và hỗ trợ của họ.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: Thức Ăn Của Bồ Tát

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 15/11/14 06:00

NHỮNG LỖI LẦM CỦA VIỆC ĂN THỊT

Kinh Lăng già (Lankavatara) có ghi lại: Sau khi Đại Huệ Bồ Tát (the great Bodhisattva Mahamati) tụng đọc những lời tán thán Thế Tôn (the Lord), ngài bạch xin rằng: "Thưa Thế Tôn, Như Lai, Bậc Vô Cấu, Chánh Đẳng Chánh Giác, con cầu nguyện Ngài, hãy mách bảo làm thế nào để con và những Bồ tát Ma ha tát khác (Bodhisattva Mahasattvas) của thời hiện tại và vị lai có thể giúp những kẻ đã bị dơ bẩn bởi thói quen ăn thịt và máu huyết chúng sinh dứt bỏ được sự thèm khát thịt của họ. Con cầu khẩn Ngài, hỡi Thế Tôn, hãy chỉ dạy để họ nhận ra sự sai trái của việc ăn thịt, mà mong cầu vị Pháp, và có thể gieo trồng một tình yêu thương bao trùm tất cả chúng sinh, nâng niu chúng sinh như là những đứa con thân yêu nhất của họ vậy. Xin Thế Tôn hãy giảng giải giáo huấn để họ phát khởi tình yêu thương tràn khắp và có thể tiến triển trên các địa Bồ Tát và nhanh chóng đạt được giác ngộ tối thượng. Hoặc nếu chưa được thì cũng tạm nghỉ ở trạng thái của Thanh Văn (Shravakas) và Duyên Giác (Pratyekabuddhas) để rồi tiến đến Phật quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Và cả những kẻ không theo Pháp mà lại ủng hộ các học thuyết sai lầm, rơi vào những trạng thái cực đoan của việc chấp thường −
chấp đoạn, chấp một thực thể vĩnh cửu hay theo chủ nghĩa hư vô – thậm chí họ (cũng) bài trừ việc ăn thịt. Và họ còn từ bỏ ăn thịt! Chính Thế Tôn, Đấng Cứu Thế, Người đã dạy một giáo lý đậm lòng bi mẫn. Đó là lời dạy của các Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Và nếu chúng con (vẫn còn) ăn thịt; chúng con sẽ phải chấm dứt nó. Do đó, để con và các vị Đại Bồ Tát khác có thể trình bày giáo huấn của Người một cách chân thực, con khẩn cầu Đấng Thế Tôn, vì đại bi thương xót và yêu thương vô phân biệt hết thảy chúng sinh, xin Thế Tôn hãy giải nói lỗi lầm của việc ăn thịt".

Thế Tôn dạy rằng, "Này Đại Huệ, hãy lắng nghe cho kỹ và ghi nhớ những lời Ta nói. Vì những yêu cầu lớn lao của ông, ta sẽ chỉ dậy cho ông".

Và vị Bồ Tát Đại Huệ, một bậc vĩ đại, lắng nghe Thế Tôn một cách chăm chú. Thế Tôn nói rằng: "Đại Huệ, một vị Bồ Tát có tình yêu thương và lòng bi mẫn không nên ăn thịt. Có vô vàn lý do cho điều này, mà ở đây Ta chỉ giải thích đôi phần. Đại Huệ này, trong vòng luân hồi vô thủy vô chung này, tất cả chúng sinh đã từng có lần làm cha hoặc mẹ, hoặc anh, hoặc em, hoặc con trai, hoặc con gái, hoặc người bà con, bạn bè, hay những người thân cận của ông. Những người đã từng làm bà con họ hàng này mang một hình dạng khác trong những đời kế tiếp. Họ có thể đã trở thành loài vật, hoang dã hay thuần dưỡng, thú vật hay chim muông.

Bồ Tát Đại Huệ vĩ đại, tất cả những ai có niềm tin vào Phật Pháp, những ai mong muốn đi theo bước chân của Ta – thì làm sao họ lại có thể ăn thịt của những chúng sinh hữu tình? Đại Huệ, thậm chí đến bọn quỷ la sát cũng còn từ bỏ ăn thịt khi nghe được Pháp vô thượng của Như lai; chúng chuyển đổi bản chất yêu ma của chúng và bắt đầu động lòng trắc ẩn. Huống hồ những người có tín tâm chân thật với Pháp? Đại Huệ, bởi vì các vị Bồ Tát coi tất cả chúng sinh – chính là bạn hay người thân thiết trong những đời trước của họ − như những đứa con thân yêu nhất, nên không ăn bất kỳ một loại thịt nào. Sẽ là không thích hợp, sẽ là sai trái, Đại Huệ, có những ai đi theo con đường Bồ Tát lại ăn thịt. Do đó, họ cần phải bỏ ăn thịt. Theo lẽ tự nhiên thì người bình thường sẽ không ăn thịt khỉ, lạc đà, chó, voi và thịt người (mặc dù những tên đồ tể cho rằng những thứ này ăn được và đem bán trên đường phố để làm giàu). Từ đó hiển nhiên thấy rằng các vị Bồ Tát cần phải từ bỏ việc ăn thịt, dù đó là thịt gì. Đại Huệ, các vị Bồ Tát ước mong được sống thuần tịnh nên (phải) bỏ ăn thịt, bởi vì thịt chính là từ tinh dịch và máu huyết ô uế làm ra.

Hơn nữa, Đại Huệ này, các vị Bồ Tát nâng niu tất cả sự sống hữu tình nên bỏ ăn thịt, bởi vì họ không mong muốn làm khiếp sợ những chúng sinh đã được mang hình tướng thân thể vật lý. Ôi, Đại Huệ, những con chó đầy kinh hãi khiếp sợ khi nhìn thấy từ xa bóng dáng của những kẻ đê hèn như đồ tể, kẻ đánh bắt cá, và thợ săn – tất cả bọn họ ăn thèm thuồng và ngấu nghiến thịt chó. Chỉ cần nghĩ rằng bọn họ đang đến để giết hại chúng là chúng đã sợ gần chết. Và cũng như vậy, Đại Huệ, khi những động vật nhỏ sống trên mặt đất hay trong không khí và nước nhìn thấy thậm chí từ ở rất xa và phát hiện ra với giác quan sắc bén về mùi của những kẻ ăn thịt, chúng sẽ bỏ chạy ngay lập tức, nhanh như thể một người chạy khỏi một kẻ ăn thịt đồng loại do nỗi sợ hãi bị giết chết. Do vậy, Đại Huệ, các vị Bồ Tát không thể trở thành nỗi sợ hãi, các vị Bồ Tát với hạnh yêu thương không nên ăn thịt. Đại Huệ, những người bình thường không phải là Hiền Thánh (Aryas), vì ăn thịt mà có mùi hôi tanh dơ bẩn, và bị xa lánh. Bậc Hiền Thánh từ bỏ thịt hoàn toàn, và do vậy mà các vị Bồ Tát nên từ bỏ ăn thịt. Những bậc Hiền Thánh, hỡi Đại Huệ, ăn thực phẩm thánh thiện, họ từ bỏ ăn thịt và máu huyết, và các vị Bồ Tát cũng nên làm như vậy.

Đại Huệ, một vị Bồ Tát đầy lòng bi mẫn muốn không để cho chúng sinh dèm pha nhạo báng giáo pháp Ta truyền dạy, thì không nên ăn bất kỳ một loại thịt nào. Nó cần phải là như vậy, hỡi Đại Huệ. Một số người trong thế giới này chỉ trích giáo huấn của Ta, họ nói rằng 'Hỡi Thánh Alas, những con người này thực hành những đức hạnh gì vậy? Họ không sống cuộc sống thuần tịnh. Họ đã từ bỏ thức ăn của hiền thánh, và giờ đây họ lấp đầy bụng với thịt của thú vật, mang nỗi sợ hãi đến với sinh vật sống trong không khí, trong nước hoặc trên mặt đất! Những người này đi khắp nơi và sự thực hành đức hạnh của họ giảm sút; họ đã không tránh khỏi con đường tội lỗi. Họ thiếu thốn giáo huấn tâm linh và không biết gì về giới luật'. Do đó những con người này giận dữ chỉ trích giáo huấn của Ta theo nhiều cách khác nhau. Do vậy, hỡi Đại Huệ, một vị Bồ Tát đầy lòng bi mẫn, mong muốn không để những con người khởi tâm chê bai những giáo huấn của Ta, thì không nên ăn bất kỳ một loại thịt nào cả.

Các vị Bồ Tát nên kiêng ăn thịt. Mùi của thịt, hỡi Đại Huệ, chẳng khác gì mùi thối rữa của những xác chết. Không có sự khác nhau nào giữa mùi hôi thối từ thịt nướng các xác chết với thịt nướng súc vật. Cả hai đều ghê tởm như nhau. Đó là một lý do nữa để một vị Bồ Tát đang đi trên con đường tiến tới Phật quả, những người mong muốn một cuộc đời thanh tịnh, thì không nên ăn bất kỳ một loại thịt nào. Cũng như vậy, hỡi Đại Huệ, những vị Du già [(yogis) sống trong những nghĩa địa (charnel grounds) và tại những nơi hoang dã đầy tinh linh (spirit-haunted wilds), những hành giả ở nơi cô tịch, và tất cả những ai đang thiền định về tình yêu thương, tất cả những người nắm giữ chân ngôn trí huệ (vidya mantras) và những người mong muốn đạt thành tựu tương tự như vậy – nói tóm lại, tất cả những thiện nam và tín nữ đang đi theo con đường Đại-thừa – tất cả đều nhận thấy rằng việc ăn thịt sẽ mang đến những cản trở cho việc giải thoát. Và vì họ mong muốn đem lại lợi ích cho bản thân và cho người khác, họ không ăn bất kỳ một loại thịt gì.

Ý thức của chúng sinh tập trung vào hình dạng vật lý của họ; họ bám chấp mạnh mẽ vào hình dạng (vật lý) của mình và do đó những chúng hữu tình xem cơ thể của họ chính là họ vậy. Đây là lý do tại sao một vị Bồ Tát thực hành lòng từ bi nên từ bỏ ăn thịt.

Hỡi Đại Huệ, để tránh được những điều này thì một vị Bồ Tát – là người có lòng từ bi – không bao giờ nên ăn bất kỳ một loại thịt nào. Hỡi Đại Huệ, các vị Bồ Tát giữ gìn không ăn bất kỳ một loại thịt nào. Đối với những người ăn thịt, thì ngay trong cuộc đời này, hơi thở của họ hôi hám; họ ngủ không ngon giấc và họ tỉnh dậy bất an. Những ảo mộng chết chóc ám ảnh những giấc mơ của họ đủ để làm tóc họ dựng đứng. Cô độc ở nơi hiu quạnh hay trong những ngôi nhà trống không, họ bị ác quỷ dạ xoa hút mất tinh khí. Họ dễ dàng nổi cơn thịnh nộ hay bất ngờ lo lắng khủng khiếp và sợ hãi khiếp đảm. Họ bị mất hết tự chủ bởi cách thức ăn uống vô độ của họ. Họ không thể tiêu hóa được hết tất cả mọi đồ ăn, thức uống và thực phẩm. Giun ký sinh trongruột của họ, và họ trở thành nạn nhân của những bệnh tật về tiêu hóa, bệnh phong và những bệnh khác. Tuy nhiên, họ không bao giờ nghĩ rằng việc ăn thịt là một nguyên nhân (cho các chứng bệnh của họ).

Ta đã tuyên bố rằng thực phẩm có thể bổ dưỡng như thuốc mà cũng có thể kinh khiếp như máu thịt của trẻ con được dùng làm thực phẩm. Thịt là thức ăn của những người bình thường, hỡi Đại Huệ, nhưng những Hiền Thánh (Aryas) thì tuyệt đối cự tuyệt. Ăn thịt là nguồn gốc của rất nhiều tội lỗi; việc đó cũng thể hiện một sự hoàn toàn thiếu đức hạnh. Đó không phải là thức ăn mà những người có trí tuệ nuôi dưỡng bản thân họ. Làm sao Ta có thể cho phép những người theo Ta ăn những thức ăn độc hại và không thích hợp như thịt và máu huyết? Ngược lại Ta nói rằng, hỡi Đại Huệ, những người theo Ta nên ăn thực phẩm mà các bậc Hiền Thánh ăn mà người thường thì từ chối – những thực phẩm có chất lượng tốt và không bị ô uế − những thực phẩm trong lành mà những nhà thông thái cổ xưa vẫn ăn. Đối với những đệ tử của Ta, Ta đưa ra một (danh sách) thực phẩm phù hợp: gạo và lúa mạch, lúa mì và đậu, các loại đậu hạt và đậu lăng, bơ, dầu, mật ong, mật đường, hoa quả và mía. Ta làm điều này, hỡi Đại Huệ, bởi vì sẽ đến lúc có những kẻ ngu ngốc mà tâm trí đầy sự suy tính sẽ nhắc giới Luật. Và bị cuốn đi trong những ham muốn ăn thịt do thói quen, họ sẽ nói rằng thịt là lành và bổ dưỡng.

Tất cả những điều này Ta dạy cho tất cả những ai đi theo dấu chân của các vị Phật thời quá khứ, cho những ai hành động với đức hạnh, những ai tín tâm và kiên định trước mọi nghi ngờ. Họ là những người thiện nam và tín nữ của dòng truyền thừa Thích Ca Mâu Ni, những người không còn bám chấp vào cơ thể, cuộc sống, sở hữu của họ, và không còn bám chấp vào các giác quan. Những người này không thèm khát bất cứ hương vị giác quan gì; họ có lòng bi mẫn và, cũng như Ta, họ ôm trọn tất cả chúng sinh trong tình yêu thương. Bồ Tát, họ là các bậc vĩ đại. Họ thương yêu hữu tình cũng như những đứa con yêu quý của họ. Các Bồ Tát hãy giữ những giáo huấn này trong tâm!

Hỡi Đại Huệ, ngày xưa, có một vị vua tên là Senge Bangzang. Ông ta là một người ham ăn thịt. Sự thật là ông ta thèm khát thưởng thức các loại thịt bị cấm và rốt cuộc ông ấy bắt đầu ăn thịt người. Gia đình, triều đình, họ hàng và bạn bè của ông ta – tất cả đã chạy chốn khỏi ông ấy, và tất cả những người dân ở quê hương và đất nước của ông ta cũng làm như vậy. Ông ta đau khổ cùng cực khi bị bỏ rơi. Hỡi Đại Huệ, thậm chí cả Trời Đế Thích (Indra), trong quá khứ khi ông ta là chúa tể của các vị thần, do bởi tập khí ăn thịt đã thấm sâu mà đôi khi ông ta ở trong hình dạng của một con diều hâu và làm rất nhiều việc độc ác và xấu xa, thậm chí đã có lần xé toang ngực của Shiden vô tội, một nhà vua đầy lòng bi mẫn, và đã khiến vị vua này bị đau đớn kinh khủng. Đại Huệ, thói quen ăn thịt có được qua bao nhiêu đời là nguyên nhân của nhiều khiếm khuyết và là nguồn gốc của những xấu xa mà một người gây ra đối với những hữu tình khác – đối với Trời Đế Thích còn vậy, huống hồ là một số chúng sinh thấp kém hơn.

Đại Huệ, có một câu truyện khác về một vị thủ lĩnh bị một con ngựa rất khỏe và bất kham mang đi xa đến nỗi ông ta bị lạc đường và phải lang thang trong một nơi hoang dã. Để sống sót, ông ta phải chung sống với một con sư tử cái và có con với nó. Những đứa con của vị thủ lĩnh tên là Kangtra và anh em của nó thì lớn lên giữa bầy sư tử và đã trở thành những kẻ ăn thịt. Do bị nhiễm sâu thói quen ăn thịt trong đời đó, Kangtra đã tiếp tục ăn thịt trong các đời sau và thậm chí ngay cả khi ông ta trở thành một vị vua. Và, Đại Huệ, nhà vua Kangtra này và các anh em của ông ta, thậm chí trong đời hiện tại khi sống trong thành phố Khyimdun vẫn còn tập khí thèm khát thịt và đã ăn cả những loại thịt bị cấm. Vì thế họ sẽ tái sinh thành các loại ma cà rồng, rồi đến những đời tiếp theo (vì tập khí thèm thịt) sẽ tái sinh thành các loại thú ăn thịt – sư tử, hổ, báo, sói, mèo, cáo, và cú – và những loài quỷ la sát hay quỷ dữ khác, tất cả chúng là những kẻ độc ác hau háu thịt. Sau bao nhiêu đọa xứ đó thì chúng lấy lại được thân người còn khó, nói gì đến việc đạt được niết bàn. Đại Huệ, đó là những khiếm khuyết của việc ăn thịt, và đó chính là là số phận của những kẻ ăn rất nhiều thịt. Mặt khác, từ bỏ việc ăn thịt là nguồn gốc của rất nhiều phẩm chất ưu việt. Nhưng, Đại Huệ, người thường không biết gì về điều này cả, và do vậy Ta đã dậy rằng các Bồ Tát không nên ăn thịt, và điều đó thì các Bồ tát có thể hiểu.

Này Đại Huệ, nếu con người từ bỏ ăn thịt thì con vật sẽ không bị giết hại. Phần lớn súc vật vô tội bị giết mổ lấy thịt vì tiền; chỉ có phần nhỏ bị giết vì các lý do khác. Sự thèm khát hương vị thịt có thể mạnh mẽ đến nỗi (họ) không thể chịu đựng được và thậm chí có thể dẫn đến việc ăn thịt người, huống gì là thịt của súc vật hay chim muông, dù là hoang dã hay thuần hóa. Đại Huệ, con người thèm khát ăn thịt đặt bẫy để bắt con mồi. Với những dụng cụ này, thợ săn, đồ tể, người đánh bắt cá và những kẻ tương tự lấy đi cuộc sống của những sinh vật vô tội sống trên mặt đất, trong không khí và dưới nước. Những con người độc ác như vậy, họ không có lòng trắc ẩn và giống như loài quỷ la sát ăn thịt người, những kẻ giết động vật và ăn ngấu nghiến chúng – những người như vậy sẽ không bao giờ có lòng từ bi.

Đại Huệ, bất kỳ loại thịt gì, dù là loại thịt mà Ta cho phép các vị Thanh Văn – đệ tử thân cận của Ta − ăn, hoặc là loại mà Ta không cho phép, hoặc tất cả các loại thịt chưa được kiểm tra, thì đều độc hại. Tuy nhiên sẽ đến một ngày, có những kẻ ngu ngốc đã được thọ giới tăng già, mang trên mình y áo tu sĩ là biểu tượng chiến thắng và tự nhận mình là con của Thích Ca Mâu Ni, sẽ bị những suy nghĩ sai lầm làm hư hỏng tâm họ. Họ sẽ đánh mất bản thân trong sự tự biện minh về giới luật. Sự bám chấp bản ngã của họ sẽ mạnh mẽ và họ sẽ vô cùng thèm khát hương vị thịt. Họ sẽ chế ra đủ loại lý do biện minh cho việc ăn thịt, và do đó họ sẽ bôi nhọ danh tiếng của Ta. Họ sẽ xem xét lịch sử các sự kiện trong quá khứ và nói, "Vì Thế Tôn cho phép ăn thịt, điều này chứng tỏ rằng thịt là một thực phẩm thích hợp". Họ sẽ nói rằng Thế Tôn đã dậy rằng thịt là thực phẩm lành mạnh, và họ sẽ tiến xa hơn nữa để nói rằng bản thân Ta đã thích thú thưởng thức thịt. Nhưng, Đại Huệ, không có một bài giảng nào của Ta lại đã từng đưa ra một sự cho phép chung chung như vậy, và Ta cũng chưa từng bao giờ dậy rằng việc coi thịt là lành và bổ là một việc đúng đắn.

Hỡi Đại Huệ, ông có thể tin rằng Ta đã cho phép ăn thịt; ông cũng có thể tin rằng các vị Thanh Văn có thể ăn thịt. Nhưng Ta có thể nói với ông rằng Ta nghiêm cấm thịt đối với những vị du già thực hành tại các nghĩa địa đang thiền định về tình thương yêu. Ta nghiêm cấm thịt đối với những thiện nam tín nữ của Ta, những người đang đi trên con đường Đại Thừa đích thực và những người coi tất cả chúng sinh như những đứa con thân yêu của mình. Đại Huệ, Ta đương nhiên nghiêm cấm việc ăn thịt đối với tất cả những ai coi những sinh vật hữu tình như những đứa con duy nhất của họ − đó là những thiện nam tín nữ trong dòng truyền thừa của Ta, những người có niềm tin vào Pháp và đang theo đuổi bất kỳ con đường thực hành nào, dù là những vị du già sống ở các nghĩa địa hay những hành giả thiền định ở nơi cô tịch. Những giới luật trong giáo huấn của Ta được giảng dạy dần dần và là những bước tuần tự trên một con đường duy nhất. Theo đó, việc ăn thịt bị cấm trong giới luật của Đại Thừa. Dù thịt của súc vật bị chết bởi mười nguyên nhân tự nhiên không bị cấm đối với Thanh Văn nhưng trong giới của Đại Thừa, tất cả các loại thịt bị nghiêm cấm hoàn toàn trong mọi tình huống. Do đó, Đại Huệ, Ta không cho phép bất kỳ ai ăn thịt. Ta không cho phép và sẽ chẳng bao giờ cho phép. Với tất cả những ai đang mặc áo tu sĩ, hỡi Đại Huệ, Ta tuyên bố rằng thịt là một nguồn thực phẩm không thích hợp. Bị giam hãm trong vòng đen tối của nghiệp, những kẻ ngu ngốc bôi nhọ tiếng tăm của Ta khi nói rằng thậm chí Như lai (Tathagata) đã từng ăn thịt. Những người này sẽ phải chịu quả báo dài lâu và sống vô nghĩa, mất đi các niềm vui trong cuộc sống của họ. Thêm nữa, Đại Huệ, trong thực tế thì những Thanh Văn tôn quý của Ta thậm chí không ăn thực phẩm tầm thường; thế thì làm sao họ có thể ăn thực phẩm độc hại là máu huyết và thịt? Hỡi Đại Huệ, các vị Thanh Văn, Duyên Giác và các vị Bồ Tát ăn thức ăn của Pháp, những thức ăn đó chắc chắn không phải là một cái gì đó vật chất. Có cần thiết để nói về thức ăn của Như Lai hay không?

Đại Huệ, các đấng Như Lai là Pháp thân (Dharmakaya); các đấng Như Lai sống bởi thức ăn của Pháp. Cơ thể của các đấng Như Lai không cấu tạo từ các yếu tố vật chất thô và đặc; và các đấng Như Lai không sống bởi thức ăn vật chất. Các đấng Như Lai đã loại bỏ được tất cả các tập khí của luân hồi, loại bỏ những mong muốn tồn tại và khao khát vật chất của cuộc đời này. Các đấng Như Lai đã được giải phóng hoàn toàn khỏi những thói quen, tập khí bất tịnh và không lành mạnh; tâm trí của các Ngài hoàn toàn tự do trong trí huệ. Các Ngài biết mọi sự việc, nhìn thấy mọi thứ. Các đấng Như Lai tràn đầy lòng đại bi, yêu thương tất cả chúng sinh như thể họ là những người con duy nhất của các Ngài. Thế thì, hỡi Đại Huệ, vì Ta coi tất cả chúng sinh như con của Ta, làm sao Ta có thể cho phép Thanh Văn ăn thịt những đứa con của Ta? Làm sao Ta có thể tham dự vào việc đó được? Thật sai trái khi nói rằng Ta cho phép Thanh Văn ăn thịt và bản thân Ta cũng ăn thịt. Và vì thế:

    Chư vị Bồ Tát, những bậc vĩ đại
    Chẳng uống chút rượu nào; và họ không ăn
    Thịt, tỏi và hành.

    Điều này đã được dạy bởi các Đấng Chiến
    Thắng, những vị lãnh tụ.
    Nhưng những đám đông lại sử dụng những đồ
    ăn đầy mùi tội lỗi;
    Hành động của họ chẳng thích đáng chút nào.
    Vì thịt là thực phẩm của những loài thú đói và
    hoang dại,
    Nên Đức Phật đã dậy nó là thực phẩm không
    thích hợp.
    Khiếm khuyết sẽ phát sinh từ việc ăn thịt,
    Và phẩm chất sẽ đến khi từ bỏ thịt,
    Nhưng điều này chỉ dành cho những ai tiêu
    dùng theo cách đó,
    Tất cả những việc này, hỡi Đại Huệ, Ông nên hiểu.

    Tất cả thịt động vật cũng như thịt của bạn bè,
    Đều bắt nguồn từ những chất bẩn thỉu, máu và
    tinh dịch;
    Và những người ăn thịt trở thành một nỗi sợ
    hãi.
    Do đó những vị du già sẽ không ăn thịt.
    Bất cứ một loại thịt gì, tất cả hành và tỏi,

    Đồ uống có cồn dưới các dạng khác nhau,
    Tỏi tây, tỏi rừng cũng vậy, những thực phẩm
    này đương nhiên
    Là thực phẩm mà các vị du già sẽ từ bỏ.
    Họ từ bỏ cả xoa bóp với dầu
    Và bởi vì việc xoa bóp xẩy ra ở trên giường
    Làm những sinh vật sống rơi vào trong nỗi đau
    đớn,
    Do vậy mà các vị du già không ngủ và không
    nghỉ ngơi.

    Tất cả các thực phẩm đó mang đến sự tự tôn
    bản ngã,
    Từ sự tự tôn bản ngã này, tất cả suy nghĩ, rồi
    đến
    Mong muốn, thèm khát nảy sinh đến độ cường
    liệt.
    Do đó mà Ông phải từ chối tất cả những thực
    phẩm này.
    Quả thực là những thèm khát này đến từ suy
    nghĩ;
    Do thèm khát mà tâm trí sẽ bị ngu đần.
    Sự đần độn này từ đó sẽ làm xáo trộn tứ đại;

    Bệnh tật xảy ra khi mọi lưu thông cơ thể bị tê
    liệt.

    Vì lợi nhuận mà động vật bị giết hại,
    Và sự buôn bán thịt mang đến giàu sang.
    Kẻ đồ tề, người mua, cả hai đều tội lỗi,
    Và cả hai sẽ bị nấu chín trong những địa ngục
    khóc than.
    Tất cả những ai trái lời Phật dạy,
    Những người ăn thịt với một thái độ xấu xa,
    [Họ] sẽ phá hủy cuộc đời của họ, bây giờ và cả
    những đời kế tiếp,
    Và làm lụi tàn giới luật của Đức Phật Thích Ca
    Mâu Ni.

    Những con người này với các hành vi xấu xa, đi
    thèm muốn
    Những thứ tạo ra địa ngục vô gián;
    Số phận của họ, những người ăn thịt
    Nằm trong ngôi nhà chết chóc khóc than.
    Không có loại thịt nào ba lần thuần tịnh,
    Và do đó, Ông phải từ bỏ thịt.

    Những ai là hành giả du già thực thụ sẽ không
    ăn thịt:
    Đây là chỉ dẫn của Ta và của tất cả các chư
    Phật.
    Các tạo vật ăn ngấu nghiến lẫn nhau
    Sẽ tái sinh lại thành động vật ăn thịt và những
    con thú đầy mùi kinh tởm.
    Điên cuồng hoặc bị khinh miệt khắp mọi nơi,
    Chúng sẽ bị sinh ra giữa những kẻ bị ruồng bỏ:
    Là đồ tể, thợ nhuộm, gái điếm, những tầng lớp
    thấp hèn,
    Hoặc nếu không thì là những con quỷ và con
    thú hau háu thịt.
    Và cuối cùng là thân người hiện tại của họ,
    Sẽ trở về thành mèo hoặc những hồn ma tội lỗi.

    Và vì vậy, trong tất cả các bài giảng của Ta, Ta
    chỉ trích việc ăn mọi loại thịt:
Trong kinh Niết Bàn (Parinirvana), kinh Ương Quật Ma (Angulimala), Kinh Lăng Già (Lankavatara), Kinh Tượng Kiếp (Hastikakshya), và kinh Đại Vân (Mahamegha).

    Do đó cả các chư Phật và chư Bồ Tát
    Cùng Thanh Văn tất cả đều chỉ trích
    Sự đáng hổ thẹn của việc ăn thịt chúng sinh
    Sẽ dẫn [một người], trong tất cả các đời kế tiếp
    của họ, đến loạn trí.
    Nếu thay bởi đó, ông tránh xa thịt và những tội
    lỗi xấu xa khác,
    Ông sẽ tái sinh trong thân người và thuần khiết,
    Như các vị du già, hoặc như những người giàu
    trí tuệ và của cải.
    Thịt thú vật bị giết để làm thực phẩm ông đã
    nhìn thấy hay nghe
    Hay nghĩ đến, ông nên cự tuyệt hoàn toàn.

    Những ai sinh ra trong những gia đình ăn thịt
    Chẳng biết tí gì về điều này, mặc cho họ có
    thông minh đi nữa.
    Cũng như sự thèm muốn là một cản trở của tự
    do,
    Rượu và thịt cũng như vậy.
    Những ai ăn thịt trong những đời tương lai
    Sẽ dốt nát nói rằng Đức Phật đã tuyên bố
    Rằng việc ăn thịt là thích hợp và không tội lỗi.
    Nhưng những vị Du già, điều độ trong những gì
    họ ăn,
    Coi thực phẩm không khác gì thuốc uống,
    Không nên ăn thịt chúng sinh, coi chúng sinh
    như con họ vậy.

    Những ai làm bạn
    Với hổ, báo và cáo xảo quyệt
    Ta – người an trụ trong tình yêu − chỉ trích.
    Việc ăn thịt là đi ngược lại với
    Pháp, con đường dẫn đến giải thoát.
    Những ai thực hành Pháp phải từ bỏ ăn thịt,
    Vì ăn thịt nên họ là nguồn sợ hãi của các chúng
    sinh.
    Từ bỏ ăn thịt – đó là tràng hoa chiến thắng của
    những người Cao quý".
Đoạn thơ này kết thúc chương thứ 6 của Kinh Lăng Già, những giáo huấn tinh túy của các chư Phật trả lời những câu hỏi về việc ăn thịt.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: Thức Ăn Của Bồ Tát

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 17/11/14 19:27

Những giáo huấn sau đây được trích trong Kinh Đại Bát Niết Bàn:

Sau đó Bồ Tát Ca Diếp (Bodhisattva Kashyapa) cung kính thỉnh nguyện Đức Thế Tôn, "Thưa Thế tôn, Ngài không ăn thịt và coi việc ăn thịt là không thích hợp.
Nếu bất kỳ ai hỏi con tại sao lại như vậy, con sẽ trả lời rằng những ai không ăn thịt sẽ sở hữu tám phẩm chất cao quý".

"Lành thay", Phật nói với Bồ Tát Ca Diếp. "Ông đã hiểu tốt chủ ý trong tâm Ta. Điều này quả thật các vị Bồ Tát, những người nắm giữ giáo lý của Ta, cần phải hiểu rõ. Những đệ tử dòng truyền thừa của Ta, thậm chí cả Thanh Văn là những vị cùng ở trong tăng đoàn với Ta, không được ăn thịt. Thậm chí nếu những thí chủ thành kính dâng cho họ thịt, họ cũng phải từ chối như thể họ từ chối ăn thịt những đứa con của họ vậy".

Sau đó Bồ Tát Ca Diếp hỏi Phật, "Thưa Thế Tôn, Như Lai, nhưng tại sao Người lại cấm ăn thịt?"

"Những đệ tử của dòng truyền thừa Thích Ca Mâu Ni!" Thế Tôn trả lời: "Ăn thịt hủy hoại lòng đại bi".

"Nhưng trong quá khứ, thưa Thế Tôn", ngài Ca Diếp nói, "(Liệu có phải) Ngài đã không cho phép ăn thịt được cho là phù hợp sau khi thịt đó được kiểm tra theo ba tiêu chuẩn?"

Đức Phật trả lời: "Có, Ta đã cho phép ăn thịt được coi là phù hợp sau ba mức độ kiểm tra, mục đích là để giúp những người đang cố gắng xóa bỏ tập khí ăn thịt".

Ngài Ca Diếp lại hỏi "Vậy tại sao Thế Tôn đã cấm ăn mười loại thịt chưa qua kiểm tra và cứ như vậy, cho đến chín loại thịt đã được kiểm tra?"

Đức Phật nói: "Ta cũng đã làm như vậy để giúp các Phật tử vượt qua được thói quen ăn thịt của họ. Nói tóm lại, tất cả những mức độ cho phép mà Ta đã đưa ra đều để đạt tới mục đích duy nhất: đó là việc ăn thịt sẽ phải chấm dứt".

"Nhưng tại sao", Bồ Tát Ca Diếp hỏi "Như lai đã cho phép (xem) thịt của loài cá như một loại thực phẩm lành?"

"Những đệ tử của Ta!" Đức Phật trả lời "Ta chưa bao giờ cho phép như vậy! Ta đã nêu ra tất cả những loại thực phẩm lành mạnh: mía, gạo, mật đường, lúa mạch đen, lúa mạch v.v; và sữa, sữa đông, bơ, dầu và những thứ tương tự. Cũng tương tự như việc Ta cho phép những đệ tử mặc nhiều loại y áo, tuy nhiên những y áo này phải có màu sắc phù hợp! Làm sao Ta có thể cho phép ăn cá chỉ đơn giản để thỏa mãn nhu cầu của những người muốn ăn cá!"

Bồ Tát Ca Diếp lại tiếp "Nếu giả sử như Như Lai cho phép ăn cá thì việc Ngài khuyên nên dùng năm loại thức ăn, hay sữa, sữa chua, bơ, bơ sữa, bơ sữa trâu, dầu vừng và những thứ tương tự sẽ là không ăn nhập với nhau. Suy luận ra thì đúng là Người cấm ăn cá, giống như là việc Người đã cấm tàng trữ những đồ trang sức, giày da, vàng và các bình bạc".

Đức Phật nói, "Hỡi những đệ tử của Ta, giáo huấn của Ta không giống như giáo huấn của các nhà tu hành khổ hạnh trần trụi. Như Lai thiết lập ra các quy tắc giới luật phù hợp với các cá nhân nhất định. Vì vậy, với một mục đích nhất định trong tâm, Ta đã cho phép việc ăn thịt được coi là phù hợp sau khi thịt đó đã được ba tầng kiểm tra. Trong những bối cảnh khác thì Ta cấm việc ăn mười loại thịt. Và lại nữa, đối với một số người cụ thể nào đó, Ta đã tuyên bố rằng ăn bất kỳ loại thịt nào, kể cả thịt động vật chết một cách tự nhiên, cũng là không phù hợp. Này Ca Diếp, nhưng Ta khẳng định lại rằng từ nay trở về sau, tất cả những đệ tử và Phật tử cận kề Ta phải từ bỏ ăn thịt. Bởi vì những kẻ ăn thịt đều là nguồn khiếp sợ cho những con vật có thể thấy mùi của họ cho dù họ có đang đi, ngồi, đứng, nằm hay thậm chí ngủ − như thể là ai cũng khiếp sợ khi ngửi thấy mùi của sư tử vậy. Thiện nam tử! Những ai không thích mùi tỏi sẽ lảng tránh những người ăn tỏi, vậy cần gì phải đề cập đến những bất lợi của thức ăn đó? Điều này thì cũng tương tự như đối với những kẻ ăn thịt.

Khi động vật ngửi thấy mùi thịt thì chúng khiếp sợ; chúng khiếp sợ bị giết. Bất kỳ một con vật gì, dù loài trên mặt đất, hay dưới nước, hay bay trên trời, đều bỏ chạy khi tin rằng người ăn thịt là kẻ thù thực sự của chúng. Đó là lý do tại sao Ta không cho phép Bồ Tát ăn thịt. Đúng là các Bồ Tát có thể dùng việc ăn thịt như một phương tiện để đưa con vật đến giải thoát. Mặc dù trông có vẻ như họ là người ăn thịt nhưng thực chất thì không phải vậy. Hỡi những người con của dòng truyền thừa Thích Ca Mâu Ni! Bồ Tát thậm chí còn kiềm chế ăn những thực phẩm thanh tịnh huống hồ làm sao họ lại không kiêng ăn thịt!

Thiện nam tử! Giáo Pháp thiêng liêng sẽ bị suy đồi sau khi ta nhập Niết Bàn và sau khi những bậc Hiền Thánh vượt thoát bờ sinh tử (thậm chí những vị này được ban kiếp sống dài vô hạn và đạt thành tựu do thực hành con đường Tứ Thánh Đế). Tất cả những gì còn lại sẽ chỉ là một bóng tối mờ nhạt. Các nhà sư sẽ giả vờ tuân theo giới luật, và việc đọc và tụng kinh của họ sẽ chỉ là rất sơ sài. Họ sẽ thèm khát thực phẩm để duy trì cơ thể họ; họ sẽ mặc những bộ quần áo đen xấu xa tội lỗi. Họ hoàn toàn đi ngược lại những phẩm chất cao quý. Họ sẽ nuôi gia súc, trâu bò và cừu. Họ sẽ là những người chuyên chở gỗ và cỏ khô. Họ sẽ để tóc và móng tay dài. Tất cả những điều này sẽ thành hiện thực. Họ có thể khoác lên mình những bộ y áo vàng nhưng họ chẳng khác gì những kẻ đi săn. Họ có thể có một tác phong hòa nhã cùng với đôi mắt nhìn xuống nhưng họ chẳng khác gì loài mèo rình chuột. Họ sẽ nói đi nói lại rằng họ đã chế ngự được cảm xúc, nhưng rồi họ sẽ bị đau đớn, ốm yếu, uể oải và ô uế. Những kẻ đạo đức giả, họ sẽ cử hành những phong tục tôn giáo bề ngoài, nhưng bên trong họ sẽ bị đắm chìm trong sân hận, đố kỵ và thèm khát – chẳng khác gì những kẻ tà đạo cả. Họ sẽ không có phẩm hạnh; lòng mộ đạo của họ chỉ là một sự giả vờ mà thôi. Họ sẽ có những tri kiến sai lầm và chỉ trích giáo Pháp chân chính. Những con người như vậy sẽ hủy hoại các nguyên tắc của giới luật mà Như Lai đã đặt ra: những giáo huấn trong Tạng Luật, những giáo huấn về đạo và quả của tự do tối hậu. Họ sẽ bôi nhọ những giáo huấn của Ta trong sự tùy tiện và cẩu thả. Họ thậm chí còn xuyên tạc những giáo lý tuyệt đối thâm sâu và dựng lên kinh điển và giới luật mà họ tự sáng chế. Họ sẽ nói và viết rằng Như Lai đã cho phép họ ăn thịt, và những lời này là lời nói của Phật. Họ sẽ tranh cãi và đánh lộn lẫn nhau, ai cũng cho rằng mình mới là đệ tử của Thích Ca Mâu Ni đức hạnh.

Hỡi thiện nam tử! Sẽ có ngày các nhà sư sẽ trở thành những kẻ tàng trữ thóc gạo và ăn thịt cá. Họ sẽ dùng những cái đĩa xinh xắn để đựng bơ và những cái lọng làm từ các vật liệu quý giá, và họ sẽ đi những chiếc giày da. Những giáo lý mà họ truyền đạt cho nhà vua,cận thần và những người dân thường sẽ chẳng là gì khác ngoài khoa học về điềm báo, chiêm tinh, bói toán, và cách chăm sóc cơ thể. Họ sẽ giữ kẻ tôi tớ, người làm và phụ nữ, và họ sẽ sử dụng vàng, bạc, những loại đá quý giá, sa phia, pha lê, ngọc, và san hô; họ sẽ đeo những chiếc vòng cổ và sẽ thích thú thưởng thức tất cả các loại hoa quả. Họ sẽ chơi thể thao và giải trí bằng hội họa và điêu khắc. Họ sẽ dậy văn chương; họ sẽ cầy cấy những thửa ruộng và thu hoạch mùa màng của họ. Họ sẽ đọc những câu chú bùa ngải; họ sẽ sản xuất thuốc và chữa bệnh với những thần chú. Họ sẽ dạy nhạc, khiêu vũ, múa hát và tất cả các loại nghề thủ công như làm hương, kết vòng hoa và đan rổ. Nhưng con phải hiểu rằng chỉ có những ai từ bỏ những hoạt động không lợi lạc đó mới thực sự gần với Ta".

Bồ Tát Ca Diếp bạch, "Thưa Thế Tôn, tất cả các tăng, ni, và những Phật tử tại gia đều phụ thuộc vào các thí chủ. Khi họ đi khất thực và nhận được thức ăn có chứa thịt thì họ phải làm gì? Họ cần kiểm tra thức ăn đó như thế nào?"

Đức Phật đáp, "Họ nên tách thịt ra khỏi những thức ăn còn lại và những thức ăn còn lại nên được rửa, sau đó mới ăn. Nếu giả dụ như bình bát của họ đã bị thịt cho vào nhưng không bị ô uế bởi mùi hay vị tội lỗi của thịt thì họ sẽ không phạm lỗi nếu ăn từ những bình bát đó. Nhưng nếu ai đó cho họ một lượng thịt lớn thì họ không được nhận. Nếu thịt bị trộn lẫn với thức ăn, tốt nhất là họ không nên ăn, nếu không thì họ sẽ bị phạm lỗi. Nếu Ta giải thích chi tiết về việc nghiêm cấm thịt và tất cả các quy tắc của việc đó thì sẽ không có điểm kết thúc! Nhưng bây giờ đã đến lúc Ta vượt thoát bờ sinh tử khổ đau; do đó mà Ta chỉ giải thích cho Ông đôi phần".

Đoạn giáo huấn trên được trích từ phẩm Giải Đáp sở vấn trong kinh Đại Bát Niết Bàn.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: Thức Ăn Của Bồ Tát

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 19/11/14 04:57

Những giáo huấn sau được trích từ kinh Vương Quật Ma:

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi nói "Bởi vì Như Lai Tạng mà các chư Phật không ăn thịt". Và Như Lai đã thêm rằng:

Đúng vậy, Văn Thù Sư Lợi. Không có một chúng sinh nào đang lang thang trong vòng sinh tử luân hồi vô thủy vô chung này mà không từng là cha mẹ hay chị em của Ông. Mỗi cá thể, thậm chí là con chó, cũng có thể trong một đời sau này trở thành cha của Ông. Mỗi chúng sinh đều như diễn viên diễn kịch trên sân khấu cuộc đời. Da thịt của ai cũng đều như nhau. Do đó, những Bậc Giác Ngộ không ăn thịt. Ngoài ra, Văn Thù Sư Lợi, pháp tánh (dharmadhatu) là bản chất chung của tất cả chúng sinh, do đó các chư Phật không ăn thịt".

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi lại nói, "Thưa Thế Tôn, cũng có những người rất bình thường khác không ăn thịt".

Phật đáp, "Bất kể những gì những người thế tục làm mà phù hợp với giáo huấn của Phật nên được coi như là lời dạy từ chính bản thân Phật".

Kinh Tỉnh thức (Close Mindfulness sutra) ghi lại:

Nếu với trí huệ nảy sinh từ việc lắng nghe giáo pháp mà một nhà sư hiểu được sự trổ nghiệp quả chín muồi của hành động, và nếu người đó suy tư về thế giới của ngạ quỷ (pretas) hay quỷ đói, thì người đó sẽ thấu hiểu được thực trạng của những chúng sinh đang tồn tại bằng máu huyết. Và nếu nhà sư suy ngẫm với trí huệ về những hành động làm cho các chúng sinh đó phải tái sinh (trong hình dạng) như vậy thì người đó sẽ nhìn thấy được rằng ngạ quỷ chính là những chúng sinh trong các đời quá khứ đã thích thú uống máu để tăng sức lực. Chúng cũng đã chìm đắm trong sự tàn ác, sân hận, đố kỵ và tham lam. Chúng lừa dối gia đình và vì thèm khát máu huyết, chúng đã giết hại (những chúng sinh khác). Sau khi chết, những con người này sẽ rơi xuống các cõi thấp hơn và tái sinh dưới dạng quỷ uống máu. Do sức mạnh của nghiệp, chúng được tái sinh như những quỷ đói tại chính những nơi mà chúng thường xuyên lưu tới trong các đời quá khứ.

Tại những nơi này, những cư dân địa phương gọi chúng là quỷ thần và cúng tế cho chúng, đi vòng quanh nơi chúng trú ngụ và hiến tế máu huyết. Những quỷ uống máu này thường say sưa trong máu huyết của con người và rất có hại cho những người dân ở đó. Và người ta còn nói rằng chúng rất mạnh và có thể làm được những việc phi thường. Về vòng đời của chúng, nếu chúng không từ bỏ những hành động tội lỗi này và sự xô đẩy của nghiệp chưa hết thì chúng (tiếp tục) sống như những ngạ quỷ hùng mạnh. Thậm chí khi chúng được giải phóng khỏi tình trạng (ngạ quỷ) này thì những hành vi của chúng sẽ thể hiện giống với khuôn mẫu như trước, và bởi vì ảnh hưởng của nghiệp lực, chúng sẽ (tiếp tục) lang thang trong luân hồi. Nếu, một lần trong một trăm kiếp sống, chúng có cơ hội được tái sinh làm thân nam hay nữ thì chúng có thể thành không hành nam (dakas) hay không hành nữ (dakinis) thế gian.

Nếu với trí huệ nảy sinh từ việc lắng nghe giáo pháp mà một nhà sư hiểu được sự trổ nghiệp quả chín muồi của hành động, và nếu người đó suy tư về thế giới quỷ đói, thì người đó sẽ thấu hiểu được thực trạng của những chúng sinh đang tồn tại bằng thịt. Nếu nhà sư suy tư với trí huệ về những hành động mang đến một sự tái sinh như vậy, thì người đó sẽ nhận ra rằng những ngạ quỷ này là những chúng sinh mà trong các đời quá khứ, vì lòng tham, đã tham gia vào việc buôn bán thịt – thịt bò, thịt ngựa, thịt thú săn, thịt lợn hoặc thịt cừu – và họ đã hành động rất thiếu trung thực và lừa đảo để bán thịt với giá cao. Khi họ chết, những chúng sinh này rơi vào các cõi thấp hơn và sinh ra dưới dạng ngạ quỷ ăn thịt. Họ trở thành những hồn ma hoang dại và hung tợn lảng vảng trên giao lộ, trong chợ, trên phố, trên đường và trong những khu nhà hoang, trong làng hay trong đền miếu. Tồn tại như những ngạ quỷ hùng mạnh với sức mạnh phi thường không phải hoàn toàn là kết quả của những (hành động) tiêu cực hung tàn và tội lỗi; mà có phần đóng góp của một số hành động bố thí tích cực (ví dụ như cho đi những vật nhỏ như cây cối hay rau quả). Chính sự bố thí họ đã làm giúp họ sở hữu những quyền lực phi thường khi làm ngạ quỷ. Người thường đến cúng tế cho những quỷ thần này với thịt của động vật: như thịt trâu, động vật hoang dã, thịt rắn, cừu và các loại súc vật khác.

Nếu các ngạ quỷ đầy tội lỗi này không từ bỏ thói quen vô cùng xấu xa của họ và từ bỏ sự sân hận, đố kỵ, và nếu sự xô đẩy của nghiệp chưa hết thì họ sẽ còn tiếp tục tái sinh trong tình trạng đó. Sau này, khi họ được giải phóng khỏi tình trạng ngạ quỷ, họ sẽ vẫn còn giữ lại những tập khí này và sẽ lang thang trong luân hồi dưới những trạng thái tương thích với các hành động của chúng. Và nếu một lần trong một trăm kiếp sống, vì một số hành động tích cực mà họ may mắn lớn có được thân người (hiếm như một con rùa mù nhô lên mặt biển để đưa được đầu vào một cái ách đang trôi nổi một cách tự do trên biển), thì họ sẽ trở thành những kẻ ăn thịt, họ sẽ trở thành những tên đồ tể chặt nhỏ xác động vật và họ sẽ làm việc trong những lò mổ.

Những điều sau đây cũng được nói đến trong Kinh Tỉnh Thức:

Những người có hành động tội lỗi xấu xa sẽ bị rơi xuống Địa ngục Đại Viêm Hỏa (the Hell of Great Heat) để chịu quả của (hành động) độc ác mà họ đã làm. Ở đó, họ sẽ bị nấu chín trong hàng trăm ngàn năm vì những tổn hại mà họ đã chủ ý gây nên. Do đó những hành động xấu xa họ làm trở thành kẻ thù của chính họ. Khi họ được giải phóng (khỏi địa ngục), họ sẽ chạy trốn và tìm kiếm một người bảo vệ, một nơi nương tựa, hoặc một sự giúp đỡ. Nhưng từ xa họ sẽ nhìn thấy hàng đàn chó săn háu đói với những chiếc hàm há ra và những chiếc răng sắc nhọn như kim cương đuổi theo và vây quanh họ với những tiếng sủa kinh khủng. Những cư dân của địa ngục sẽ cố gắng chạy trốn, nhưng những con chó săn địa ngục sẽ tóm kịp và ăn ngấu nghiến toàn thân thể họ: gân và thịt, khớp và xương, chẳng để lại một tí gì thậm chí chỉ là một mẩu nhỏ cỡ như hạt mù tạt! Cơ thể và tay chân sẽ bị ăn cho đến hết hoàn toàn. Và sự trải nghiệm bị chó ăn thịt sẽ diễn đi diễn lại. Tất cả những trải nghiệm này là kết
quả của việc giết hại những chúng sinh đang sống để thưởng thức thịt.

Giáo huấn dưới đây được trích từ Mật điển Đấng Bi Mẫn, Khuấy Động Vực Thẳm Luân Hồi (The Compassionate One, Churning the Depths of Samsara):

Nếu một người ăn thịt thì họ thực hiện hành động thúc đẩy bởi sân hận. Do đó ăn thịt tạo ra một (nguyên) nhân chính nghiêm trọng (cho những hành động sai trái như thế). Một người uống máu thì thực hiện hành động thúc đẩy bởi sự ngu dốt, do đó tạo một (nguyên) nhân thứ nghiêm trọng. Việc ăn thậm chí một miếng thịt nhỏ sẽ ô uế nhiều hơn so với việc uống rượu. Còn việc (một người) uống một giọt máu của con vật do chính người đó giết hại sẽ tội lỗi xấu xa hơn so với việc suốt một trăm năm ăn thịt động vật bị giết bởi người khác. Điều này đến từ luật nhân quả. Chúng sinh trong ba cõi rất cảnh giác khi nhìn thấy thứ gọi là máu. Khi nhìn thấy máu huyết được uống thì chúng sinh trong ba cõi sẽ ngất xỉu. Do đó tất cả các che chướng từ nghiệp xấu được tạo ra.

Đối với rượu, nếu một người uống nhưng trong khi say không phạm những hành động tiêu cực nào thì người đó sẽ tích lũy nhân cho tái sinh thành ngạ quỷ trong một kiếp. Nhưng nếu một người trong khi say rượu phạm một tội xấu xa, người đó sẽ tái sinh trong những địa ngục hỏa thiêu. Nếu một người ăn thịt động vật không phải tự tay mình giết hại thì người đó cũng phải trải qua một đại kiếp trong địa ngục (kalpa - kéo dài một vạn năm). Còn nếu ăn thịt thú vật mà người đó giết hại hoặc khiến người khác giết hại thì sẽ phải trải qua một trăm ngàn đại kiếp trong địa ngục. Nếu một người uống máu của động vật do người khác giết hại thì quả cũng sẽ tương xứng với nhân. Và nếu một người uống một lượng máu tương đương với một thùng bia đủ cho hai mươi người uống thì sẽ tái sinh ở những nơi mà thậm chí không nghe được tên Tam Bảo trong một đại kiếp (kalpa). Và nếu một người uống máu trong suốt cuộc đời thì người đó sẽ lang thang trong luân hồi vô tận vô biên kiếp. Uống máu của con vật sống sẽ dẫn đến bẩy kiếp tái sinh làm động vật. Nếu một người chỉ một lần uống máu của con vật tự tay giết thì sẽ bị tái sinh trong địa ngục và bị bắt phải uống nước đồng nung chảy. Nếu một người đi ăn máu và thịt vẫn còn
ấm của những con vật mà tự tay giết mổ với một lượng bằng cân nặng cơ thể người đó thì ngay trong đời kế tiếp sẽ bị tái sinh trong địa ngục đồng nung chảy và sẽ phải ở đó một đại kiếp. Nếu ăn thịt đỏ, tươi sống và uống máu tươi thì sau bẩy kiếp người này sẽ bị tái sinh trong địa ngục và bị đồng nung chảy đổ vào miệng. Nếu một người ăn thịt và uống máu đã được nấu thì sau mười kiếp, người đó sẽ bị tái sinh trong địa ngục đồng nung chảy. Do đó thịt và máu là thực phẩm đem lại sự tàn lụi trong ba cõi.

Ăn thịt đã được xử lý và qua tay nhiều người thì tội lỗi sẽ ít trầm trọng hơn. Ví dụ, nếu một người ăn thịt đã qua tay của một trăm người, thì người đó sẽ chịu tái sinh trong địa ngục sau một trăm kiếp sống. Tương tự như vậy, ăn thịt qua tay mười người thì sẽ trải qua địa ngục sau mười kiếp sống v.v...

Tương tự như vậy, ăn thịt một động vật bị giết hại sẽ trầm trọng hơn so với việc ăn thịt động vật chết một cách tự nhiên. Một lần ăn thịt động vật do mình tự giết sẽ mang lại hậu quả trầm trọng hơn gấp một trăm lần so với ăn thịt động vật bị giết bởi người khác. Và một người yêu cầu người khác giết hại động vật để ăn thịt thì sẽ tồi tệ hơn mười lần so với việc ăn thịt một súc vật mà người đó tự tay giết hại. Cần phải hiểu cán cân giá trị này được áp dụng như thế nào. Nếu một người tiếp tục ăn thịt, uống máu và ruợu, những thứ nuôi dưỡng ba độc, thì năm cảm xúc ô nhiễm sẽ hiển lộ.

Mật điển Hiện Thân của Trí Huệ ghi như sau:

Thịt và máu là những thức ăn rất tiêu cực và tỏa ra một mùi hôi mạnh. Những hồn ma được nuôi dưỡng bằng mùi sẽ đến và lấy đi năng lượng sống và những tinh chất trong cơ thể những người ăn thịt, làm họ mất đi sự rạng rỡ khỏe mạnh. Nếu ai đó thèm khát năm chất (độc) mạnh như thịt và máu và coi chúng như những thứ chính yếu để tồn tại thì người đó cuối cùng sẽ trở thành một ngạ quỷ sống dựa vào mùi (hôi tanh) của máu.

Tương tự như vậy, Mật điển Hiện Thân của Tỉnh Giác ghi như sau:

    Khi chúng sinh được nuôi dưỡng bằng máu và
    thịt
    Những thức ăn hôi thối kinh người,
    Thì những hồn ma tội lỗi sống dựa vào mùi
    Khi chúng ngửi thấy mùi tanh hôi của máu
    Sẽ đánh cắp sức sống của các chúng sinh kia
    Và cướp đi sức khỏe cùng sự rạng ngời của họ
    Vậy tại sao người này lại nuông chiều bản thân
    bằng máu và thịt?
Nếu một người thật sự thèm khát năm chất độc mạnh, ví dụ như máu, coi chúng như những thứ chính yếu để tồn tại thì người đó sẽ tái sinh làm một ngạ quỷ nguy hiểm sống bằng mùi tanh hôi của máu và có một hình dạng khiếp đảm trong bảy loại hình hài. Bất cứ ai chìm sâu vào sự phụ thuộc thức ăn này sẽ lang thang trên đất của Quỷ La sát (Lanka) trong hình dạng của một quỷ đói ăn thịt đáng kinh sợ.

Một trích dẫn thuộc Mật điển Kriya, có tên Sợi Dây Từ Bi Bất Hoại (Amogha Pasha) nói rằng:

Rượu, thịt, tỏi, tỏi rừng hoặc tỏi tây – dùng một mình hoặc kết hợp với thực phẩm khác – nên phải đặc biệt tránh xa.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)

Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6322
Ngày tham gia: 14/11/11 22:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: Thức Ăn Của Bồ Tát

Bài viết chưa xemgửi bởi battinh » 19/11/14 20:05

Một trích dẫn khác cũng thuộc cùng Mật điển trên nói rằng:

Những ai mong muốn giữ gìn giới luật phải từ bỏ hoàn toàn rượu, thịt, hành, tỏi và những đồ thừa lại sau khi
cúng dường cho Thánh thần.

*****

Trong Mật điển Phật Bất động (Akshobya) có ghi rằng:

Sữa đông, sữa, bơ, những chất ngọt, bánh kếp ngọt, bánh mì và gạo thì nên ăn ở mức độ vừa phải. Tất cả thức ăn có mùi tội lỗi như thịt, rượu, tỏi .v.v. cần từ bỏ.

*****

Mật điển gốc có tên Lưới Liên Hoa (Lotus Net) của Bồ Tát Quán Tự Tại (Lord Avalokita) nói rằng:

Những đồ cúng dường ôi thiu, tỏi, thức ăn thừa hoặc nhơ bẩn, thịt và thức ăn từ bàn tay của những kẻ đồ tể, nước có chứa côn trùng – tất cả những thứ này cần phải từ bỏ.

*****

Ngài Acharya Krishnapa trong tác phẩm Trích yếu về Đại Thừa (the Compendium of the Mahayana) đã nói:

Chúng ta nên luôn tránh ăn thịt, cá, uống rượu, ăn tỏi, hành/củ cải; và cũng nên tránh sử dụng các vải vóc nhuộm, tránh ép hạt vừng, làm nông, và vân vân.

*****

Trong tác phẩm Trích yếu về Tri kiến (the Compendium of Views), vị đạo sư danh tiếng Jamyang Mi'i Wangpo nói rằng:

Các vị đạo sư và những người tại gia, những người theo tôn giáo và những nhà tu khổ hạnh mà ăn thịt và uống rượu thì khi chết sẽ thành quỷ đói… Những người làm cha mẹ không nên cho con cái mình ăn thịt, cá, hay uống rượu. Con cái nên được nuôi bằng những thứ như bơ, sữa chứ không phải thịt.

*****

Trong tác phẩm Những Giai Đoạn Tu Thiền, ngài Kamalashila nói:

Khi những hành giả du già thiền định, họ nên luôn luôn tránh không ăn thịt cá… Vì các thức ăn đó không đi đôi với sự thiền định. Họ nên điều độ trong chế độ ăn uống của mình.

*****

Trong tác phẩm Thiền định Vô niệm, ngài Vimalamitra nói:

Những hành giả du già trong mọi lúc cần tránh ăn thịt và cá. Họ nên ăn uống điều độ và sử dụng thức ăn hòa hợp với giáo lý.

*****

Ngài Gyalse Thogme cũng nói:

    Khi chúng sinh chết một cách tự nhiên
    Những chúng sinh này từ vô thủy vô chung đã là những
    bà con thân yêu,
    Chúng ta khóc. Vì vậy sẽ là sai trái
    Đi ăn thịt của động vật bị giết để lấy thịt.

*****

Tương tự như vậy, trong Mật điển gốc Kalachakra có ghi:

    Những người độc ác và thật khó dạy dỗ,
    Họ đi giết những động vật vô hại
    Biến chúng thành vật hy sinh cho các vị thần và tổ tiên của họ,

    Để họ có được sự bảo vệ, lợi nhuận, và để đạt được
    mục tiêu.
    Mua bán thịt, mong được ăn thịt, thật sự là một hành
    động xấu xa.
Thông điệp này cho thấy nếu một người mong muốn ăn thịt và mua thịt mà người đó biết nguồn gốc từ những động vật bị giết hại vì mục đích thương mại, thì người đó phạm phải một hành động xấu.

*****

Bình giải về Mật điển Kalachakra có nói rằng:

Một người không nên mua thịt, cũng không nên dâng cúng những động vật bị hiến tế cho các vị thần và thần linh tổ tiên của họ. Bởi vì Đức Phật chưa bao giờ cho phép ăn "thịt động vật bị giết hại có chủ ý" − là thịt của các động vật bị giết hại và mua bán để làm thức ăn, cũng như những động vật bị lựa chọn làm vật hy sinh để cúng tế.

*****

Và đặc biệt, một người không được ăn thịt của con người. Kinh điển về Luật (luật tạng) chỉ rõ rằng "thịt người không được tiêu thụ dưới bất kỳ một hoàn cảnh nào". Một bình giảng rất sâu về luật tạng thậm chí còn tiến xa hơn và chỉ rõ rằng "nếu một người ăn thịt người vì mục đích chữa bệnh hay bất kỳ mục đích nào khác, người đó đã vi phạm luật". Nếu một người ăn thịt động vật đỏ tươi sống không phải vì lý do chữa bệnh, người đó vi phạm luật. Luật tạng nói rằng "tiêu thụ thịt sống không phải vì mục đích chữa bệnh là vi phạm luật", và về vấn đề này, bình giải sâu sắc có nói thêm "nếu một người ăn thịt sống như một phần của sự thực hành Mật thừa v.v... (mà không phải vì sự cần thiết để chữa bệnh). người đó phạm luật dưới loại tội tạo ra sự tranh chấp trong tăng đoàn. Hơn nữa, việc đó tạo ra nhân cho việc bị tái sinh dưới dạng tinh linh xấu ác". Luật tạng tiếp tục dạy, "Chúng ta không nên ăn thịt hổ, thịt voi, ngựa, và rắn. Chúng ta không nên ăn thịt của các loại động vật móng liền, hay thịt của cáo, khỉ, chim gõ kiến, quạ, chim kền kền, các loại chim sống trên nước, chó, mèo, diều hâu, cú vọ, và các loại chim dơ bẩn, vịt, dơi, thằn lằn tuyết, khỉ không đuôi, và các loại côn trùng".

Bình giải về kinh Lăng già, ngài Trưởng Tu viện Jnanavajna đã viết:

Tất cả các giáo huấn của Đức Phật, từ lần chuyển Pháp luân lần thứ nhất với khai mở về Tứ Diệu Đế cho đến và bao gồm cả lần giảng dạy về Tạng kinh Trì Minh Vương (Vidyadhara-pitaka), đều được bao hàm trong các nguyện và giới luật của các cỗ xe Giới Biệ Giải Thoát, Bồ Tát Giới, và Trì Minh Vương. Những giới luật liên quan đến việc sử dụng thức ăn tạo lập nên ba bước tiến dần lên trong cùng một con đường. Vì vậy, dù là thịt có đủ tiêu chuẩn ba lần thuần tịnh, loại thịt mà các vị Thanh Văn được phép ăn, cũng bị cấm đối với các hành giả thực hành các thừa cao hơn. Việc này giúp cho các giới luật cao và rất quan trọng khỏi bị hủy hoại. Thịt của các động vật bị chết theo một trong mười cách tự nhiên thì không bị cấm đối với các vị Thanh Văn. Nhưng đối với các thừa cao hơn, để kéo những tinh linh ăn thịt vào con đường tu và để những hành giả không gây hại dù là trực tiếp hay gián tiếp tới các hữu tình, tất cả các loại thịt bị nghiêm cấm sử dụng trong mọi thời điểm và ở mọi hoàn cảnh. Không một tình huống đặc biệt nào cho phép hành giả được ăn thịt... Một người cần ăn uống điều độ thậm chí đó là thức ăn của các hiền nhân - những thức ăn đó giống như là thuốc vậy. Chúng ta nên thường xuyên tránh ăn thịt, với sự hiểu biết đó là thức ăn không lành mạnh.

*****

Ngài Acharya Jnanashribhadra, một nhà bình giải khác của Kinh Lăng Già, đã viết rằng:

Đấng Toàn Tri đã dạy rằng ăn thịt và khuyến khích người khác ăn thịt là một hành động tội lỗi vì nó gây ra tổn hại cho chúng sinh. Đức Phật cấm việc tiêu dùng tất cả các loại thịt không phải ba lần thuần tịnh, nhưng Ngài không cho rằng việc ăn thịt thuần tịnh là sai. Thịt hoàn toàn ba lần thuần tịnh là thịt của các động vật mà một người không giết hại, không yêu cầu người khác giết hại, và không nhìn thấy con vật đó bị giết hại. Nếu một người cúng dường thịt đó cho một người khác hoàn toàn không có những động cơ và mong muốn tội lỗi, cũng giống như khi anh ta cúng dường cơm cho người kia để ăn, thì việc làm này là trong sạch và cũng lợi lạc như là thuốc chữa bệnh. Nhưng thậm chí loại thịt ba lần thuần tịnh này cũng bị cấm đối với các Bồ Tát, những người đang thực hành lòng bi mẫn. Còn các hành giả Mật Thừa càng đặc biệt bị cấm không được ăn dù là các loại thịt ba lần thuần tịnh. Bởi vì họ thực hành việc tôn trọng tất cả các hữu tình và coi họ như là các vị bổn tôn Hộ Phật. Chỉ khi họ thoát khỏi tất cả các sự thèm khát vào các đối tượng giác quan thì họ mới đạt được giải thoát.

*****

Vị hoàng tử Kiên Định Trong Sự Trung Thành (Firm-in- Faith) được ghi lại là đã nói:

Hãy lắng nghe ta, hỡi vua của những con quỷ ăn thịt. Tất cả những người giết hại súc vật và ăn thịt súc vật sẽ bị giảm thọ mạng và bị tái sinh vào địa ngục. Những chúng sinh khác sẽ trả thù họ bằng việc giết hại và ăn thịt họ. Bởi vì nghiệp quả sẽ tương ưng với nhân đã gieo. Hãy lắng nghe ta, hỡi vua của những con quỷ ăn thịt. Có bao nhiêu chúng sinh đã rơi vào vòng hư hỏng hủy hoại do đã chơi với những bạn tội lỗi. Nếu các người ăn thịt và máu của chúng sinh đã từng là cha mẹ của các người, thì các người sẽ bị đi xuống địa ngục.

*****

Và Đức Atisha vĩ đại đã nói rằng:

Bên trong, con hãy từ bỏ sự bất tịnh của năm độc. Bên ngoài, con hãy từ bỏ tất cả sự dơ bẩn và ô nhiễm. Và ở giữa, con hãy từ bỏ sự bất tịnh do lười biếng và thờ ơ. Hãy từ bỏ những thức ăn độc hại: thịt, tỏi, hành, và rượu. Hãy thoát khỏi tất cả các thực dưỡng không trong sạch và không thích hợp. Đối với những ai sống bằng khất thực và tuân thủ một thời gian thọ thực nhất định, hãy từ bỏ việc ăn vào các thời điểm không đúng.

*****

Một lần nọ, hai vị tăng dòng Kadampa là lạt-ma Zhangton Darma Gyaltsen và Changchub Zangpo gặp một số người buôn chè trên đường đến vùng Dam. Hai vị tăng này khất thực xin thức ăn. Khampa, một trong số những người bán chè, dâng cho họ thịt khô, là sườnvà cẳng sau của động vật. Changchub Zangpo đã khóc "Ôi! đây chính là phần dưới của bộ xương của mẹ tôi. Nó đã được giữ lại cho tôi từ lâu! Làm sao tôi, con của bà, lại có thể ăn thịt mẹ mình. Nếu chúng tôi mặc y áo đệ tử của Phật mà lại đi ăn thịt của mẹ mình, thì chúng tôi chắc hẳn phải là những con chó rừng!" Ngài bắt đầu đọc tụng câu chú Om Kamkani Kamkani và ngồi xuống với một vẻ mặt ủ ê. Người buôn chè Khampa sợ hãi, anh ta cúi lạy vội vàng và chạy mất, mang thịt đi xa.

Lạt ma Zhangton mỉm cười với lạt ma Changchub Zangpo và nói rằng "Con có cha mẹ là những người có tín tâm với Pháp, và đã từ lâu rồi, con rời xa cuộc sống làng xóm và đã được trao giới nguyện từ một vị lạt ma tốt. Sau đó, con học tập tốt, và cảm xúc buồn bã khi nhìn thấy thịt động vật đã từng có thời là cha mẹ của con là một điều vô cùng tốt đẹp. Giờ đây ta đã sống đủ lâu trên thế giới này để có thể được nhìn thấy những điều như vậy!"

Khi một vị Khampa già khác hỏi lạt ma Zhangton là ông thuộc truyền thống tu gì, lạt ma đã nói ông là nhà tu dòng Kadampa.

"Tôi đã quy y với dòng Kadampa!" Ngài Khampa già kêu lên. "Tôi hy vọng một tu viện lớn dòng Kadampa cũng sẽ được thiết lập ở Kham!"

*****

Trong Kinh diễn tả Nhân Quả Nghiệp Báo có ghi:

Nếu bạn ăn thịt và nhai xương, bạn sẽ bị mất răng! Nếu bạn ăn nội tạng và thịt của chó và lợn, bạn sẽ tái sinh trong địa ngục hôi hám. Nếu bạn ăn cá sau khi đã lóc vây, bạn sẽ bị tái sinh trong địa ngục rừng kiếm.

*****

Và vị đạo sư trân quý Dromton đã tuyên bố:

Những hành giả từ bỏ chính thịt và máu của mình nhưng lại đi ăn thịt và uống máu của cha mẹ mình. Chúng ta sẽ kêu lên thảm thiết như thế nào nếu bị liên tục săn đuổi và bị bắt buộc hy sinh mạng sống vì những hành giả này!

*****

Một lần kia có một vị đạo sư Ấn Độ tốt bụng và từ bi đến thăm Tây Tạng. Vị đạo sư đã ghi lại một cách tinh ý tất cả mọi thứ và còn nhận xét rằng, "Tôi nhận thấy rằng tất cả những gì các hành giả Tây Tạng thực hành là tuyệt vời. Tuy nhiên tất cả họ đều ăn thịt; họ không từ bỏ việc ăn thịt và điều đó không tốt".

Vị lạt ma vĩ đại Jamyang Gyamtso đã nói:

Tất cả các hiện tượng xuất hiện trong sự tương thuộc. Vì có mối liên hệ nhân duyên giữa người ăn thịt và người giết hại động vật, chính người ăn thịt đã tạo ra nhân và lý do cho hành động giết hại tội lỗi. Kết quả là nghiệp của việc giết hại, ví dụ việc giết hại bò, sẽ chín mùi trên cả người ăn thịt và người giết hại động vật. Sự khác nhau duy nhất nằm trong mức độ của nghiệp báo. Đây là một thực tế không thể chối bỏ. Các đạo sư dòng Kadampas nói sở dĩ như vậy vì những người ăn thịt cũng gây ra hành động tội lỗi tương tự như người giết hại. Do đó, việc tiêu thụ thịt bị cấm trong cả Tiểu Thừa và Đại Thừa. Vì vậy, các hành giả hãy từ bỏ việc ăn thịt càng nhiều càng tốt.

*****

Trong luận giảng Kho tàng Quý giá (Precious Heap) đã chỉ ra:

Việc cho phép ăn thịt và cá là một chỉ dạy cần được giải nghĩa rõ. Bởi vì Đức Phật đã nói rằng nếu Ngài nghiêm cấm ăn thịt ngay từ đầu thì có một số người sẽ không bao giờ thâm nhập được giáo pháp. Chính vì vậy, với phương tiện thiện xảo, Đức Phật đã loại bỏ việc ăn thịt một cách từ từ. Mặt khác, như một phương thuốc đối trị với những người tự cho rằng (chỉ) việc không ăn thịt đã là sự vĩ đại của họ và chỉ cần như thế là đầy đủ cho việc thực hành, Đức Phật đã tuyên điều ngược lại thông qua việc nói rằng ăn thịt không tạo ra chướng ngại trên con đường đạo. Đức Phật đã nói như vậy để hạ bệ những người tự coi mình tốt đẹp hơn chỉ vì họ là người ăn chay. Tuy nhiên, thực tế là việc tiêu dùng thịt bị cấm ở cả Tiểu Thừa và Đại Thừa. Ở cả hai thừa đều bị cấm ngang nhau đơn giản chỉ vì một lẽ là việc tiêu dùng thịt là hành động liên đới tới việc giết hại. Và đặc biệt Đức Phật yêu cầu tất cả các hành giả Bồ Tát không được ăn thịt.

*****

Trước kia ngài Katyayana tôn quý mắc bệnh đậu mùa và bác sĩ nói Ngài cần ăn thịt và máu dê để bôi chúng lên da. Nhưng Katyayana đã nói ông thà chết chứ không phạm giới luật. Ông đã không ăn thịt và vì vậy đã không phải chịu khổ quả.

Khi Đức Taklung Thangpa rất yếu và đứng bên bờ của cái chết, ngài được yêu cầu ăn súp nấu với mỡ động vật, vì nó có thể chữa lành bệnh cho ngài. Khi đó ngài đã trả lời "Trong suốt cả cuộc đời mình, tôi đã giữ gìn được giới luật. Tại sao bây giờ khi đến thời điểm chết tôi lại vi phạm?" Ngài đã phớt lờ lời khuyên của bác sĩ và đã ra đi.

Có rất nhiều câu truyện như vậy. Chúng ta đã nghe rất nhiều những việc như các ngài Atisha, Drikung Kyobpa và người đệ tử thân cận nhất, cũng như ngài Taklung Thangpa và những bậc vĩ đại khác đã sử dụng đường, mật ong..., chứ không phải thịt, và họ đã sử dụng sữa hay pho-ma chứ không phải rượu. Và điều đó là một niềm hoan hỷ lớn lao cho Đức Ponlop Lochen. Gotsangpa Natsok Rangdol đã nói rằng ngài cảm thấy một niềm hứng khởi tuyệt vời trước sự thực hành của Atisha, Taklung Thangpa và những bậc vĩ đại khác. Bởi vì trong thời đại của mình, ngài nhìn thấy rất nhiều tu sĩ chuẩn bị cho buổi lễ cúng dường ganachakra đã uống rượu chỉ vì thèm muốn và sử dụng một cách rất tầm thường.

Ngày xưa ở thời Đức Phật Dipamkara, ở tỉnh Drucha có một người đàn ông xấu xí có người vợ xinh đẹp thuộc giai cấp Bà la môn đã sinh một người con trai có đôi mắt đỏ và những chiếc răng nanh sắc nhọn. Khi còn là một em bé, cậu đã kéo và xé những con sâu rồi dẫm lên chúng. Khi lớn lên cậu ta đã giết động vật hoang dã và cá bất cứ khi nào có thể và ăn thịt uống rượu một cách vô điều độ. Cuối cùng anh ta đã chết vì bị đâm vào tim với một dao găm đen có thuốc độc. Anh ta bị tái sinh trong địa ngục và bị phanh thân, bị ăn bởi các động vật ăn thịt hoang dã, và bị các quỷ ma tra tấn bằng cách đổ kim loại nấu chảy vào miệng. Anh ta kêu gào và thét lên rằng, "Vì trong quá khứ tôi đã ăn thịt động vật, giờ đây những con chim hoang dại ăn ngấu nghiến thịt da tôi. Bởi vì tôi đã thèm khát và đã ăn thịt uống máu, giờ đây những kẻ khác đang ăn ngấu nghiến tôi. Thịt trước kia trông thật ngon lành khi tôi ăn, nhưng giờ đây khi quả chín mùi đã trổ thì thật là kinh khủng! Uống rượu dẫn tới quả là những kẻ canh ngục đổ kim loại nóng chảy vào miệng. Bởi vì tôi đã uống vô điều độ, giờ đây những kẻ khác tra tấn tôi không thương xót. Rượu có vẻ như thật là ngon khi tôi uống, thì giờ đây khi quả chín mùi nó thật là kinh khủng!" Sau đó anh ta lại bị tái sinh làm ngạ quỷ và lại bị đau khổ tiếp tục.

Và cũng có một vị vua tên là Senge Bangzang, ông vua này ăn uống chế độ kiêng khem và hoàn toàn không ăn thịt. Nhưng đến một thời điểm, sự thèm thịt của ông đã tăng lên đến độ cuối cùng ông đã ăn thịt của một đứa bé. Triều đình và mọi người xa lánh ông ta. Và vì thế ông đã bị chịu rất nhiều khổ sở và cuối cùng, sau khi chết ông bị tái sinh vào các cõi thấp.

Ngày xưa, khi Hoàng tử Kiên Định Trong Sự Trung Thành lên đường đi đến đất của loài la sát ăn thịt người và hỏi một con quỷ la sát canh cổng là tại sao không ăn thịt ông, thì quỷ la sát đã khóc và đáp lại vị hoàng tử rằng: "Vị đạo sư của ngài, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đã trao cho chúng tôi – loài quỷ ăn thịt – giới nguyện upavasa – cần được thực hiện vào các ngày trăng tròn. Đức Phật đã giải thích với chúng tôi những hậu quả tồi tệ của việc ăn thịt và dạy rằng thịt mà chúng tôi ăn thực chất là thịt cha mẹ của chúng tôi trong quá khứ. Ngài khuyên chúng tôi nên từ bỏ việc ăn thịt. Nhưng bởi vì máu và thịt là những thức ăn tự nhiên của chúng tôi, chúng tôi không thể hoàn toàn từ bỏ được, và vì thế chúng tôi chỉ kiêng ăn thịt vào ngày thứ mười lăm của tháng. Nếu bất kỳ một con người nào đến đây vào ngày đó, chúng tôi không chỉ không làm hại họ mà chúng tôi còn giúp họ!"

Và chúng ta cũng được nghe kể lại rằng Vua Chome đã dâng cho Vua Pawo thịt một con hươu và hỏi Vua Pawo xem ngài đã ăn chưa. Vua Pawo đã trả lời là ngài không ăn, vì thịt tươi đỏ không phải là thức ăn đúng đắn đối với cả loài tinh linh ăn thịt, chứ đừng nói đến loài người. Và cuối cùng có một câu truyện kể rằng có hai hành giả du già đang thực hành các pháp tu bổn tôn Hộ Phật Hayagriva và Varahi, và gần đến thời điểm thành tựu thì họ ăn một ít thịt lợn và thịt ngựa. Việc này đã gây ra cản trở cho việc thành tựu của họ, và vì vậy việc thành tựu đã không diễn ra.

Cuốn Ánh Sáng Không Tỳ Vết, một bình giải vĩ đại về Mật điển Kalachakra, đã nói rằng Đức Phật đã tiên đoán những hành giả du già Mật thừa sẽ ăn thịt, nhưng thịt đó lại thường xuyên là sản phẩm của giết hại. Nếu con người không giết hại súc vật để lấy thịt thì động vật cũng không bị nguy hại. Nếu không có người ăn thịt thì không có người giết hại động vật. Vì vậy cả người ăn thịt lẫn người giết hại động vật đều phạm lỗi giết hại. Hơn nữa, những hành giả của những Mật Điển Bí Mật cần giữ hàng ngày mật nguyện thứ tư (trong số mười bốn mật nguyện gốc). Đó chắc chắn là sự chỉ dẫn của Đức Phật.
Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)


Quay về “Mật tông”

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách