Thư giãn học Phật

Cùng nhau học hỏi những bài giáo lý căn bản và kiến thức Phật học phổ thông.
Hình đại diện của người dùng
Thien Nhan
Bài viết: 2574
Ngày: 27/03/10 05:07
Giới tính: Nam

Thư giãn học Phật

Bài viết chưa xem gửi bởi Thien Nhan »

Có một cô tín nữ tin Phật nên thường tụng kinh niệm Phật. Cô có đứa bé gái độ mười tuổi, thường theo cô vui chơi. Khi cô tụng kinh niệm Phật, nó không biết chơi với ai, thường đứng bên ngoài nhìn vô. Khi cô tụng kinh xong rồi niệm Phật. "Nam Mô A Di Đà Phật."

Nó đứng ngoài nó kêu, "Má!" Cô xoay lại nguýt nó.
Rồi cô trở vô tiếp tục niệm Phật. Nó lại kêu "Má!" một tiếng nữa. Cô xoay lại lườm nó!
Một lát nó lại kêu, "Má!" lần nữa. Cô đứng dậy tát nó một tát.

Nó ra ngoài vừa khóc vừa nói, "Má kêu Phật không biết bao nhiêu tiếng nhưng không sao. Còn con kêu má có ba tiếng, má lại đánh con...!?" :((
(Sưu tập).
*******************************
Chỉ cần nghĩ tới người trong cuộc là bạn tỉnh lại liền, đó là thư giản. Hể thư giãn thì dể nhớ.

Học chơi, học thử, học đánh đáo, học thả diều thì dể, mà học thiệt thì...!? :)
*******************************

Một cô thí chủ có chồng đã chết. Đến tuần thất thứ 49 ngày, cô rước thầy về cúng cầu siêu cho chồng.
Đến khi làm lễ khai kinh, quý thầy tán, "Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát." :-SS
Cô thí chủ quỳ ở sau khóc kể, "Chồng con chết, con sắm sửa lễ vật hoa quả để Phật chứng minh tiếp độ cho linh hồn chồng con, sao quý thầy cầu Phật chứng minh cho quý thầy? Chồng con làm sao siêu độ. Hu hu hu …"
Quý thầy lanh trí liền tán, "Nam Mô chứng minh cho chồng chị …!?" :D (Sưu tập).

******
Như vậy một câu chuyện viết rất ngắn, mà nội dung thì rất bóng bẩy. Độc giả đọc qua là hiểu liền, không hỏi thầy, hỏi sách...Đó mới thật sự là làm chơi ăn thiệt, học một biết mười...!? :)

Nói vậy, :) tuỳ người, tuỳ theo loại sách vở, pháp môn có thực hành khác nhau. Không ai giống nhau. Chỉ là thư giãn, Độc giả đừng bắt chước thì e...!? :)

Chủ đề thư giãn học Phật từ nơi Phật học Phổ Thông của cố HT Thích Thiện Hoa, chép lại với mục đích học ôn và giới thiệu cho các học giả chưa biết và có thêm phần nghi vấn thư giãn. Mời các bạn thỉng thoảng ghé thăm bổ túc, chia sẽ, thì thật là sự vinh hạnh cho người viết bài vậy.


Hình đại diện của người dùng
Thien Nhan
Bài viết: 2574
Ngày: 27/03/10 05:07
Giới tính: Nam

Re: Thư giãn học Phật

Bài viết chưa xem gửi bởi Thien Nhan »

Phật học phổ thông.I.01: Ðạo Phật

Mở Ðề:

Phật ra đời vì một nhân duyên lớn: Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến.

Người đời thường nói một cách hời hợt cho qua chuyện, "Ðạo nào cũng tốt!". Lời nói ấy, hoặc vì xã giao để cho vui lòng khách, hoặc vì chưa rõ bề mặt trong của các Ðạo khác nhau thế nào, nên mới nói ra như thế. Thật ra về mục đích thì đạo nào cũng có giá trị của nó, chẳng qua chỉ hơn nhau về từng bậc cao thấp mà thôi. Nhưng mục đích tốt dù sao, cũng chưa đủ. Ðiều quan trọng là làm sao thực hiện được mục đích ấy, và đem lợi ích rộng lớn cho đời. Thử hỏi nếu đạo nào cũng có giá trị như nhau, thì sao trước đây 2500 năm, trong lúc xứ Ấn độ đã có 94 thứ đạo rồi, mà đức Phật Thích Ca còn giáng sinh làm chi nữa?

Chẳng qua các Ðạo tuy nhiều, mà chưa được toàn "chơn, thiện, mỹ", nên đức Phật mới ứng thân thị hiện, dạy cho chúng sanh đạo Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, ngõ hầu giải thoát khỏi khổ sanh tử luân hồi, được tự tại vô ngại như Phật. Kinh Pháp Hoa chép, "Vì một nhân duyên lớn, Phật mới xuất hiện ra đời".

Nhân duyên lớn ấy là gì? Chính là: "Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến", để cho chúng sanh được nhờ đó mà đổi mê ra ngộ thấy tánh tỏ tâm, vượt sống khỏi chết, lìa khổ được vui. (T.T.H)
:) :) :)
Forum:

Nghĩa chữ...!? :)

Khai thị

Phật tri kiến

Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến

Chơn, thiện, mỹ

Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác

Thư giãn

01. Ðạo nào cũng tốt!

1.1. Điều đó có lẽ đúng vì bạn không phải là Phật tử...!? :)

1.2. Nếu bạn không biết Đạo là gì, có ai hỏi thì bạn trả lời là...!? :)

1.3. Hoặc có thể bạn chưa từng hiểu ý nghĩa đạo là gì. Bạn có ngạc nhiên hay không, mời bạn tiếp tục tham khảo ý kiến của bạn thế nào...!? :)
Sửa lần cuối bởi Thien Nhan vào ngày 14/10/12 02:54 với 1 lần sửa.


Hình đại diện của người dùng
Thien Nhan
Bài viết: 2574
Ngày: 27/03/10 05:07
Giới tính: Nam

Re: Thư giãn học Phật

Bài viết chưa xem gửi bởi Thien Nhan »

Phật học phổ thông.I.01: Ðạo Phật

Ðịnh Nghĩa

2. Chữ Ðạo nghĩa là gì?

Chữ đạo có ba nghĩa: Ðạo là con đường; Ðạo là bổn phận; Ðạo là lý tánh tuyệt đối, là bản thể.

a) Ðạo là con đường, như người ta thường dùng trong những chữ: nhân đạo, thiên đạo, địa ngục đạo, ngạ quỷ đạo, súc sanh đạo. Phàm là con đường thì có tốt, xấu, có thiện, ác v.v...Theo đạo Phật, vẫn còn trong vòng đối đãi, thì không thể gọi hoàn toàn rốt ráo.

b) Ðạo là bổn phận, như người ta thường dùng những chữ: đạo vua tôi, đạo thầy trò, đạo vợ chồng v.v...Phàm là bổn phận thì thường chịu ảnh hưởng của phong tục hay tập quán. Phong tục và tập quán của nước này không giống nước kia. Vì vậy, chữ Ðạo là bổn phận cũng chưa đúng với nghĩa chữ Ðạo mà nhà Phật muốn nói.

c) Ðạo là lý tánh tuyệt đối, là bản thể, nó lìa nói năng, không thể nghĩ bàn. Ðức Lão tử nói: "Ðạo mà nói ra được, không phải là đạo". Xưa có người hỏi một vị Tổ Sư: "Ðạo là gì?". Tổ sư đáp: "Trước Phật Oai Âm Vương, không có tên Phật và chúng sanh, lúc ấy chính là Ðạo".


3.Chữ Ðạo của nhà Phật chính là đồng nghĩa với bản thể vậy.

2. Chữ Phật nghĩa là gì? Chữ Phật, nói cho đúng tiếng Phạn là Bouddha (Phật Ðà). Người Trung Hoa dịch nghĩa là Giác Giả, (bực đã giác ngộ, sáng suốt hoàn toàn). Giác có ba bực:

a) Tự giác: Nghĩa là tự giác ngộ hoàn toàn do phước huệ và công phu tu hành, khác với phàm phu là những người còn mê muội, bị luân hồi trong cõi trần lao, khổ hải.

B) Giác tha: Nghĩa là mình đã giác ngộ, lại đem phương pháp giác ngộ ấy dạy cho những người tu hành được giác ngộ như mình. Người tu theo ngoại đạo không thể có được giác tha, vì chỉ lo giải thoát cho mình. Chỉ người tu theo Ðạo Phật mới có được giác tha, nghĩa là giác ngộ cho hết thảy chúng sanh đang chìm đắm.

C) Giác hạnh viên mãn: Nghĩa là giác ngộ hoàn toàn đầy đủ cho mình và cho người. Những bậc Bồ Tát, tuy đã giác ngộ cho mình và cho người, nhưng công hạnh chưa viên mãn, nên chưa gọi được là "Giác Giác Hạnh Viên Mãn". Chỉ có Phật mới có được gọi là Giác Hạnh Viên Mãn.

Chữ Phật là một danh từ chung để gọi những bậc đã tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn, chứ không phải là một danh từ riêng để gọi một người nào nhất định. Ai tu hành được chứng quả như đã nói trên đều được gọi là Phật cả.

4. Ðạo Phật nghĩa là gì?

Theo những định nghĩa về chữ Ðạo và chữ Phật đã nói trên, chúng ta có thể giải thích chữ Ðạo Phật như sau: Ðạo Phật là con đường chơn chánh, hoàn toàn sáng suốt đưa đến bản thể của sự vật, là lý tánh tuyệt đối, lìa tất cả hư vọng phân biệt, mà các đấng giác ngộ hoàn toàn đã phát minh ra. Ðạo Phật gồm tất cả tự lợi và lợi tha, tự giác, giác tha và có công hạnh độ mình, độ người được hoàn toàn thành tựu, rốt ráo viên mãn.(T.T.H)
:) :) :)
Forum:

Nghĩa chữ...!?

Giác ngộ

Viên mãn

Thư giãn

2. Chữ Ðạo nghĩa là gì?
Ðạo là con đường; Ðạo là bổn phận; Ðạo là lý tánh tuyệt đối... Ví dụ người gặp tiệc chay lạc thì đụng chay lạc, gặp lễ cúng đồ mặn thì đụng mặn cũng không từ gọi là đạo...!? :)

3.Chữ Ðạo của nhà Phật chính là đồng nghĩa với bản thể vậy.
Đồng nghĩa với bản thể nghĩa rất là rộng lớn cao xa. Xin đừng bàn.
Bản thể nghĩa là gì ? - Ví dụ: Bọt nước, sóng, mây, băng.... Hoặc ví dụ về kim ngân: Vàng quặn, vàng lá, vàng khối, vàng trang sức...Gọi là gì...!? :)

4. Ðạo Phật nghĩa là gì?

Đối với người chưa tham gia diễn đàn Phật giáo thì ít nhiều cũng không hiểu "Đạo Phật nghĩa là gì" huống hồ là người chưa từng đọc kinh điển.hé
Ở Viêt Nam những người không biết mình là đạo gì! Nếu có ai hỏi hoặc đi làm giấy chứng minh nhân dân. Hỏi: "Bạn đạo gì?"

Tôi à, tôi theo đạo...!? :)


Hình đại diện của người dùng
Thien Nhan
Bài viết: 2574
Ngày: 27/03/10 05:07
Giới tính: Nam

Re: Thư giãn học Phật

Bài viết chưa xem gửi bởi Thien Nhan »

Phật học phổ thông.I.01: Ðạo Phật

B- Chánh Ðề

5. Ðạo Phật có từ lúc nào? có hai nghĩa: Ðứng về phương diện bản thể mà xét thì Ðạo Phật có từ vô thỉ (nghĩa là không có đầu mối, không có giới hạn ở trong thời gian). Vì Ðạo Phật là bản tánh sáng suốt của chúng sanh, nên có chúng sanh là có Ðạo Phật; mà chúng sanh đã có từ vô thỉ thì Ðạo Phật cũng có từ vô thỉ. Ðứng về phương diện lịch sử và hạn cuộc trong thế giới này mà nói, thì Ðạo Phật đã có từ 2501 (1) năm nay (tính đến năm 1957), trước Thiên Chúa Giáo 544 năm.

6.Ai khai sáng ra Ðạo Phật?

Tín đồ Ðạo Phật cần phải biết lịch sử đức Giáo Chủ của mình.

Dưới đây, xin kể sơ lược những điểm chính của đời đức Giáo Chủ, người đã khai sáng ra Ðạo Phật, tức là đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, nguyên là Thái Tử nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) xứ Trung Ấn Ðộ, Phụ hoàng tên Tịnh Phạn Vương Ðầu Ðà Nà (Sudhodana); Mẫu hoàng tên là Ma Da (Maya). Họ Ngài là Kiều Ðáp Ma, xưa dịch là Cù Ðàm, tên Ngài là Tất Ðạt Ða (Shidartha). Còn chữ Thích Ca (Sakya), Tàu dịch là Năng Nhơn: Năng là năng lực, Nhơn là từ bi. Mâu Ni (Muni) nghĩa là Tịch Mặc: Tịch là yên lặng, không bị khổ vui làm động tâm; Mặc là lặng lẽ, không bị phiền não khuấy rối, độ mình độ người, công đức đầy đủ.

Lúc nhỏ Ngài có trí tuệ sáng suốt và tài năng phi thường. Lớn lên nhìn thấy nhân sinh thống khổ, thế cuộc vô thường, nên Ngài cương quyết xuất gia tu hành, tìm đường giải thoát cho mình và cho người, ngõ hầu đưa tất cả chúng sanh lên bờ giác ngộ.

Sau sáu năm tu khổ hạnh trong núi Tuyết (Hymalaya), Ngài thấy tu khổ hạnh ép xác như thế, không thể đạt được chân lý, nên Ngài đi qua núi Koda, ngồi dưới gốc cây Bồ Ðề (Tất Bát La, dịch âm theo tiếng Ấn Ðộ) và thề rằng:

"Nếu ta không thành đạo, thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy khỏi chỗ này".

Với chí hùng dũng cương quyết ấy, sau 49 ngày tư duy, Ngài thấy rõ chân tướng của vũ trụ nhân sanh và chứng đạo Bồ Ðề. Sau khi thành đạo, Ngài chu du khắp xứ, thuyết pháp độ sinh, để chúng sanh chuyển mê thành ngộ, lìa khổ được vui. Suốt thời gian 49 năm, như một vị lương y đại tài, xem bịnh cho thuốc, Ngài đã dắt dẫn chúng sanh lên đường hạnh phúc và vạch cho mọi người con đường giác ngộ giải thoát.

Ðến 80 tuổi, Ngài nhập Niết Bàn ở thành Câu Thi Na, trong rừng Ta La (Song Thọ). Lúc bấy giờ, nhằm ngày Rằm tháng 2 âm lịch.

7.Giáo lý Ðạo Phật như thế nào?

Giáo lý của đạo Phật gồm trong 3 tạng kinh điển là Kinh, Luật, Luận.

1. Kinh: Kinh là những lời của đức Phật Thích Ca đã nói khi còn tại thế, để dạy chúng sanh dứt trừ phiền não và đạt đến quả Niết Bàn.

2. Luật: Luật là những giới luật mà Phật đã chế ra cho các đệ tử, để các đệ tử răn chừa các điều dữ, tu tập các điều lành, trau dồi thân tâm cho thanh tịnh.

3. Luận: Luận là những sách phần nhiều do các đệ tử Phật làm ra để bàn giải rõ ràng nghĩa lý mầu nhiệm trong kinh, luật hoặc quyết đoán tánh, tướng của các Pháp, phân biệt những lẽ phải *Chánh đạo và tà đạo, khiến cho người đời khỏi nhận lầm phải trái, chánh tà.

8.Sự Truyền Bá Của Ðạo Phât:

Sau khi Phật Thích Ca nhập diệt, hai vị đại đệ tử của Phật là Ngài Ca Diếp và Ngài A Nan thay Phật hoằng truyền Phật pháp ở Ấn độ. Ðó là thời kỳ thứ nhứt. Thời kỳ thứ hai do các vị Tổ sư Long Thọ, Mã Minh và Vô Trước lãnh đạo. Thời kỳ thứ ba do các vị Tổ sư Long Trì, Thiện Vô Úy và Liên Hoa Sanh đảm nhiệm.

Từ Ấn Ðộ, Phật Giáo lan truyền vào các nước lân cận, rồi toàn cõi Á Ðông, và cuối cùng toàn cả thế giới. Sự truyền bá này đi theo hai hướng: một hướng về phương Bắc và một hướng về phương Nam. (Xem Lịch sử truyền bá Phật Giáo khóa 5)

Về phương Bắc, thì gọi là Bắc Phương hay là Bắc Tông Phật Giáo, hay Ðại Thừa Phật Giáo, gồm có những nước: Tây Tạng, Trung Hoa, Mông Cổ, Mãn Châu, Cao Ly, Nhật Bản, Việt Nam v.v..

Về phương Nam, thì gọi là Nam Phương hay Nam tông Phật Giáo, hay Nguyên Thủy Phật Giáo, gồm có những nước: Tích Lan, Miến Ðiện, Thái Lan, Ai Lao, Cao Miên, Nam Dương v.v...

9.Sự Lợi ích Của Ðạo Phật:

Mục đích của Ðạo Phật là đem lại những kết quả đẹp đẽ sau này cho chúng sanh:

1. Chơn thường: Chúng sanh trôi lăn, lặn hụp trong biển sanh tử luân hồi; chúng sanh sống trong cảnh vô thường, khi trẻ khi già, khi lành khi ốm, khi sống khi chết...Ðạo Phật đem lại cho người tu hành một quả vị là không bao giờ bị luật vô thường nói trên chi phối.

2. Chơn lạc: Chúng sanh đang sống trong cảnh giới tối tăm, buồn tủi, khổ đau; nếu có vui cũng chỉ vui được trong chốc lát, như người khát, uống nước mặn vào, đỡ khát trong chốc lát, rồi về sau lại càng khát hơn lúc đầu. Ðạo Phật có mục đích đem lại cho kẻ tu hành một sự an vui toàn vẹn và bất tận.

3. Chơn ngã: Chúng sanh bị không biết bao nhiêu nghịch cảnh ở chung quanh chi phối, ràng buộc, như kẻ tù tội bị giam hãm trong ngục thất, không bao giờ được tự do hoạt động theo ý muốn của mình. Ðạo Phật có mục đích làm cho những người tu hành được giải thoát hoàn toàn ra ngoài những trói buộc nói trên, làm cho con người đầy đủ năng lực để thực hiện ý nguyện tốt đẹp của mình, và sống một cuộc đời an nhiên tự tại.

4. Chơn tịnh: Chúng sanh đang sống trong cảnh giới ô trọc, lấm láp trong bùn nhơ của cõi tục, từ trong tâm hồn cho đến ngoài thể chất. Ðạo Phật có mục đích làm cho người tu hành gạn lọc được bao nhiêu ô trọc của cõi đời, được sống một cuộc sống trong trắng, tinh khiết, không vướng chút bận nhơ của trần tục.

Không phải chỉ trong vị lai, Ðạo Phật mới đem lại lợi ích cho đời, ngay trong xã hội hiện tại, Ðạo Phật cũng đem lại nhiều lợi ích quý báu:

- Ðạo Phật, nhờ tinh thần Từ Bi, làm cho xã hội, nhân loại thương yêu nhau hơn.

- Ðạo Phật, nhờ ánh sáng Trí Tuệ, làm cho xã hội, nhân loại bớt si mê lầm lạc, thấy được đâu là giá trị thật, đâu là phỉnh phờ, giả dối.

- Ðạo Phật, nhờ tinh thần Bình Ðẳng tuyệt đối, san bằng được những bất công của xã hội, nhân loại, và làm cho cảnh giới Ta Bà này được sáng sủa, an vui hơn.

Ðó là những lợi ích mà Ðạo Phật đem lại cho cõi đời.
:) :) :)
Forum:

5. Ðạo Phật có từ lúc nào?
Có từ lúc có chúng sanh là có Đạo Phật, vì Đạo Phật là bản tánh sánh suốt của chúng sanh. Đứng về lịch sử thì Đức Phật đã có trước tây lịch 544 năm. Và cũng có sách viết Ngài nhập diệt năm 544 trước tây lịch - thọ 80 tuổi.

5.1 Vậy tính tới ngày nay đã được bao nhiều năm...!?

6.Ai khai sáng ra Ðạo Phật? - Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni.

7.Giáo lý Ðạo Phật như thế nào? - Giáo lý của đạo Phật gồm trong 3 tạng kinh điển là Kinh, Luật, Luận.

8.Sự Truyền Bá Của Ðạo Phât
- Thời kỳ thứ nhứt, Ngài Ca Diếp và Ngài A Nan.
- Thời kỳ thứ hai do các vị Tổ sư Long Thọ, Mã Minh và Vô Trước lãnh đạo.
- Thời kỳ thứ ba do các vị Tổ sư Long Trì, Thiện Vô Úy và Liên Hoa Sanh đảm nhiệm.
Về phương Bắc, thì gọi là Bắc Phương hay là Bắc Tông Phật Giáo.
Về phương Nam, thì gọi là Nam Phương hay Nam tông Phật Giáo.

9.Sự Lợi ích Của Ðạo Phật:
- Chơn thường;
- Chơn lạc;
- Chơn ngã;
- Chơn tịnh.


Hình đại diện của người dùng
Thien Nhan
Bài viết: 2574
Ngày: 27/03/10 05:07
Giới tính: Nam

Re: Thư giãn học Phật

Bài viết chưa xem gửi bởi Thien Nhan »

Phật học phổ thông.I.01: Ðạo Phật

C - Kết Luận

Những lợi ích nói trên quý báu như thế, nhưng sẽ không bao giờ đến với chúng ta, nếu không học và hành theo Phật.
7. Học và hành nên đi đôi!

1. Học Phật: Ðức Phật mặc dù là một đấng xuất phàm, thông minh xuất thế, nhưng khi xuất gia Ngài cũng phải học hỏi đêm ngày, hao tốn sức biết bao nhiêu, mới phát huy ra được cái giáo lý nhiệm mầu để lại cho chúng ta. Vậy chúng ta muốn trở thành một Phật tử chân chính thì trước tiên là phải học hỏi như Phật. Chúng ta không chỉ học trong giáo lý của Ngài mà còn học qua đời sống, đức hạnh, hành vi của đời Ngài nữa.

2. Hành theo Phật: Nhưng học mà không tập, không hành, thì chẳng khác gì cái đãy đựng sách, chữ nghĩa kinh sách chất chứa thật nhiều, mà chẳng có ích lợi gì cả. Vậy nên học phải đi đôi với hành. Chúng ta phải cố gắng thực hành cho được những điều đã học, làm cho được những điều mình thấy là hay là phải. Phật đã làm gì, chúng ta phải tập làm lại; Phật đã có những đức tánh Từ, Bi, Hỷ, Xả, Hoan Hỷ, Tinh Tấn, Thanh Tịnh...chúng ta cũng cố gắng thực hiện cho được những đức tánh ấy.

Có như thế, mới khỏi hổ với hai tiếng Phật tử và mới gọi là đền đáp trong muôn một, ân đức sâu dày của đức Từ Phụ Thích Ca. (Cố HT. Thích Thiện Hoa)

Forum:

7. Học và hành nên đi đôi!
Phần kết luận về bài 01 Đạo Phật đến đây là hết. Trong phần kết luận Cố HT. Thích Thiện Hoa khuyến tấn chúng ta, không những học hỏi kinh điển để mở mang trí huệ mà còn phải thực hành, nôi gương theo Đức Từ Phụ Thích Ca. Có vậy, mới xứng danh là người đệ tử Phật.

Nhưng ngày nay vẩn có một ít người còn mê muội, Qui y Tam bảo mà không giữ ngũ giới.
Hoặc có giữ 1 hoặc 2 trong ngũ giới.
Hoặc là giữ giới ăn chay, niệm Phật. Nhưng không trao dồi học hỏi nơi thầy bạn, nơi kinh điển.

Hoặc có học kinh điển vì muốn tìm hiểu đạo, muốn kiến thức hơn đồng đạo mà không chịu thực hành theo các tông môn giáo pháp. Thì những người như vậy, chẳng có được sự lợi lạc trong đời này. Chỉ là gieo duyên cho muôn kiếp sau trong lục đạo luân hồi.

Nhưng trở lại làm người có còn thuận duyên nửa hay không, xin hỏi...!? :)

Còn lở làm con bò, con trừu, con dê...không có vọng tưởng thì lấy gì dẹp vọng ...!? =)) :)) =))


Hình đại diện của người dùng
Thien Nhan
Bài viết: 2574
Ngày: 27/03/10 05:07
Giới tính: Nam

Re: Thư giãn học Phật

Bài viết chưa xem gửi bởi Thien Nhan »

Phật học phổ thông.I.02: Lược sử Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni

A- MỞ ĐỀ:

Bất luận một tôn giáo nào, vị giáo chủ bao giờ cũng là một tấm gương sáng cho tín đồ soi chung để tiến bước. Nhưng trong các vị giáo chủ của các tôn giáo hiện có trên thế giới này, không có một vị nào đầy đủ ý nghĩa cao đẹp, một đời sống sâu xa bằng đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Mỗi hành động, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói, cho đến mỗi im lặng của Ngài đều là những bài học quý báu cho chúng ta.

8. Ðời Ðức Phật Thích Ca Là Một Tấm Gương Sáng

Nếu chúng ta học giáo lý của Ngài mà không hiểu rõ đời sống của Ngài, thì sự học hỏi của chúng ta còn phiến diện, thiếu sót.

Ðời Ngài chính là những biểu hiện giáo lý của Ngài. Ngài nói và Ngài thực hành ngay những lời Ngài đã nói.

Ðời Ngài là một bằng chứng hiển nhiên để người đời nhận thấy rằng giáo lý của Ngài có thể thực hiện được, chứ không phải là những lời nói suông, những không tưởng, những lâu đài xây dựng trên mây, trên khói.


Vậy cho nên khi chúng ta học hỏi đời Ngài, chúng ta không nên có cái quan niệm học cho biết để thỏa mãn tánh hiếu kỳ, mà chúng ta cần phải tìm hiểu ý nghĩa thâm thúy của đời sống ấy để đem áp dụng cho đời sống của chúng ta.

Làm được như thế mới khỏi phụ ý nguyện lớn lao của đức Phật khi giáng sanh xuống cõi Ta-Bà này và đã cam chịu bao nỗi đau khổ, gian lao trong kiếp sống như mỗi người chúng ta.
27917_134498213366686_949465238_n.jpg
27917_134498213366686_949465238_n.jpg (51.37 KiB) Đã xem 1923 lần
Forum:

Nghĩa chữ...!
Cõi Ta-Bà
Giáng sanh
Tín đồ

8. Ðời Ðức Phật Thích Ca Là Một Tấm Gương Sáng
Bằng vào giáo lý chúng ta thấy và đang học tập. Và có thể thực hành đem ngay lại đời sống hiện hữu. Đức Phật là một tấm gương tốt nhất cho nhân loại.
Vậy mà, lâu lâu chúng ta cũng còn viện cớ, khi lễ bái, trì chú, tụng kinh, hành thiền, thì than mệt này nọ, rồi ngày mai tính sao, thôi ngủ trước cái đã...!? :)
Sửa lần cuối bởi Thien Nhan vào ngày 19/11/12 07:28 với 1 lần sửa.


Hình đại diện của người dùng
Thien Nhan
Bài viết: 2574
Ngày: 27/03/10 05:07
Giới tính: Nam

Re: Thư giãn học Phật

Bài viết chưa xem gửi bởi Thien Nhan »

Phật học phổ thông.I.02: Lược sử Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni


B. Chánh Ðề

9. Ðịnh Nghĩa Hai Chữ Giáng Sanh

Thường trong danh từ nhà Phật, khi nói đến sự hiện diện của đức Phật Thích Ca trong cõi đời này, người ta thường dùng chữ đản sanh (nghĩa là một sự ra đời vui vẻ, làm hân hoan, xán lạn cho cõi đời); hay thị hiện (nghĩa là hiện ra bằng xương bằng thịt, cho con mắt trần của chúng ta thấy được); hay giáng sanh (nghĩa là từ một chỗ cao mà xuống một chỗ thấp để sanh ra).

Ba chữ ấy đều có 3 ý nghĩa khác nhau: Chữ đản sanh dùng để ca tụng một bậc tôn quí ra đời; chữ thị hiện hàm cái ý Phật bao giờ cũng có cả, nhưng vì mắt người không thấy được, phải hiện rõ ràng ra mới thấy; chữ giáng sanh hàm cái ý đức Phật ở một cảnh giới cao hơn, tốt đẹp hơn mà hạ xuống cảnh giới phàm trần này. Ba chữ ấy mặc dù khác nhau, nhưng đều có thể dùng để chỉ sự ra đời của đức Phật.

Trái lại, khi một nguời phàm ra đời thì gọi là "đầu thai". Ðầu thai có nghĩa là bị nghiệp báo hoặc thiện hay ác bắt buộc phải luân hồi để chịu quả báo lành hay dữ. Còn giáng sinh hay thị hiện thì không hàm cái nghĩa bị nghiệp nhân câu thúc, mà do nơi lòng từ bi, muốn lợi ích cho chúng sanh, nên tự nguyện ứng thân xuất hiện ra đời trong một thời gian để cứu độ chúng sanh; xong xuôi thì thâu thần tịch diệt, tự tại vô ngại ra ngoài sống chết.

10. Hoàn Cảnh Và Dòng Dõi Của Ðức Thích Ca
Ðức Phật giáng sinh ở xứ Trung Ấn Ðộ, bây giờ là nước Népal, một nước ở ven sườn dãy núi Hy Mã Lạp Sơn, là một dãy núi cao nhất thế giới. Phong cảnh ở đấy rất đẹp; đến mùa xuân cả nước đơm bông nảy lá như một vườn hoa vĩ đại.

Dân cư ở xứ ấy rất là thuần lương. Vị vua trị vì là Tịnh Phạn, một vị vua thuộc dòng Thích Ca, là một dòng họ lớn đã mấy mươi đời nối nghiệp trị vì đất nước này. Bà Hoàng Hậu Ma Da, cũng là một người thuộc dòng vua chúa đã lâu đời. Cả hai ông bà vua Tịnh Phạn đều là người đã nhiều kiếp tu hành, có đức hạnh lớn, xứng đáng làm cha mẹ muôn dân.

Một hôm, trong thành Ca Tỳ La Vệ, là kinh đô của vua Tịnh Phạn, có lễ vía tinh tú, vua tôi cùng nhau mở hội ăn chơi. Hoàng Hậu Ma Da, sau khi dâng hương hoa cúng kiến trong cung điện rồi, ra ngọ môn bố thí thức ăn, đồ mặc cho dân bần cùng.

Khi trở về cung an giấc, Bà nằm mộng thấy một con voi trắng sáu ngà từ trên hư không xuống, lấy ngà khai hông bên hữu của Bà mà chun vào. Bà đem điềm chiêm bao ấy thuật lại cho vua Tịnh Phạn nghe.

Vua ra lịnh mời các thầy đoán mộng. Các nhà tiên tri đoán rằng: "Hoàng hậu sẽ sanh một quý tử tài đức song toàn". Vua Tịnh Phạn rất mừng rỡ, vì ngôi báu từ đây sẽ có người truyền nối.

Ðến sáng ngày mồng tám tháng tư âm lịch (trước Tây lịch 624 năm), tại vườn Lâm Tỳ Ni, cách thành Ca Tỳ La Vệ 15 cây số, Hoàng hậu Ma Da đang ngoạn cảnh, trông thấy cành hoa Vô Ưu mới nở, thơm ngát, bà đưa tay phải vói hái, thì Thái Tử cũng vừa xuất hiện ngay đấy.

Ngày đản sanh Thái Tử, trong thành Ca Tỳ La Vệ, cảnh vật đều vui vẻ lạ thường, khí hậu mát mẻ, cây cỏ đều đơm hoa trổ trái; sông, ngòi, mương, giếng nước đều trong đầy; trên hư không chim chóc và hào quang chiếu sáng cả mười phương.

'Vua Tịnh Phạn' vui mừng khôn xiết mời các vị tiên tri đến xem tướng Thái Tử. Trong số ấy, có đạo sĩ tên A Tư Ðà tu ở núi Hy Mã Lạp, tiên đoán rằng: Thái Tử vì có 32 tướng tốt xuất hiện, nên sẽ trở thành một vị Thánh. Nhưng vua Tịnh Phạn lại chỉ muốn con mình làm một vị vua để nối dõi tông đường mà thôi. Vì thế, Tịnh Phạn Vương muốn đổi số mệnh con mình, nên đặt tên cho Thái Tử là Tất Ðạt Ða (Siddartha) theo tiếng Phạn, nghĩa là: "Kẻ sẽ giữ chức vị mà mình phải giữ". Chức vị mà Tịnh Phạn Vương muốn ám chỉ đây tức là ngôi Vua. Ngài không ngờ rằng chính thật chức vị của Ngài là chức vị Phật.

'Hoàng hậu Ma Da' sau khi sanh Thái Tử được bảy ngày, vui thú quá vì thấy mình đã làm tròn nhiệm vụ cao quý, và đã rửa sạch nghiệp báo nên Bà trút được xác phàm và sanh về cõi trời Ðao Lợi. Vua Tịnh Phạn giao Thái Tử cho em gái Hoàng hậu là Ma Ha Ba Xà Ba Ðề nuôi dưỡng.

11. Tài Năng Và Ðức Hạnh Của Thái Tử
Thái Tử mỗi năm mỗi lớn, thì diện mạo càng thêm khôi ngôi, tài năng càng phát lộ gấp bội. Ngài có một sức khỏe hơn người, một trí thông minh xuất chúng. Từ nghề văn cho đến nghiệp võ, Thái Tử học với ông nào thì trong ít hôm sau, vị giáo sư ấy phải xin cáo thối, vì không còn đủ sức để dạy nữa. Cho đến ông thầy danh tiếng đệ nhất thời bấy giờ là Sằn Ðề Ðề Bà cũng chịu khuất phục Ngài luôn.

Nhưng, mặc dù tài sức hơn người, thông minh xuất chúng lại ở trong địa vị cao sang quyền quý tột bậc, Thái Tử không bao giờ tỏ vẻ ngạo mạn, khinh người. Ngài có một thái độ rất hòa nhã ôn hòa, vô tư, bình đẳng. Lòng thương người, thương vật của Ngài không ai sánh kịp, hễ có dịp giúp đỡ, thì dù khó khăn bao nhiêu Ngài cũng không từ nan. Bởi thế, Ngài được trên Vua cha yêu quý, dưới thần dân kính trọng, nể vì.

12. Những Ràng Buộc Của Tịnh Phạn Vương Ðể Ngăn Chí Xuất Gia Của Thái Tử
Càng thương yêu, quý trọng con Tịnh Phạn Vương lại càng lo sợ con mình sẽ không ở lại với mình, mà sẽ xuất gia tìm Ðạo để thành một vị Thánh, như lời tiên đoán của đạo sĩ A Tư Ðà.

Nhất là khi nhận thấy càng lớn, Thái Tử lại càng có vẻ suy nghĩ xa xăm, và nét mặt Thái Tử lại không được vui tươi như thời thơ ấu, Vua Tịnh Phạn lại càng lo sợ rằng lời tiên tri xưa sẽ thực hiện. Bởi thế, Vua cùng triều thần ngấm ngầm sắp đặt mọi kế hoạch để ràng buộc Thái Tử ở lại ngôi báo.

Ngài truyền xây dựng ba tòa lâu đài nguy nga tráng lệ để Thái Tử thay đổi nơi ăn chốn ở cho hợp thời tiết quanh năm, và chọn từng trăm cung phi mỹ nữ có tài đàn ca hay, múa giỏi để giải khuây cho Thái Tử. Nhưng chừng ấy cũng chưa đủ Ngài còn làm lễ thành hôn cho Thái Tử với một Công chúa con vua Thiện Giác là Da Du Ða La, một Công chúa tuyệt đẹp và đức hạnh vô cùng.

Thái Tử bị bắt buộc phải lập gia thất và có một con là La Hầu La.

Nhưng, mặc dù sống một cuộc đời quá đầy đủ: nào chức tước danh vọng, nào lâu đài cung điện, nào đàn ca múa hát, nào vợ đẹp con ngoan, Thái Tử vẫn thấy lòng mình nặng trĩu bao nỗi băn khoăn, thắc mắc. Ngài cho cảnh đời Ngài đang sống đây không phải là hạnh phúc chân thật, mà là giả dối, mê muội, chỉ làm cho kiếp sống thêm nặng nề đau khổ. Ngài thấy cần phải tìm một lối thoát, một cuộc sống chân thật, có ý nghĩa và cao đẹp hơn.

13. Nhận Ra Bốn Tướng Khổ Ở Ðời
Một hôm, nhân ngày lễ hạ điền, Thái Tử theo vua cha ra đồng xem dân chúng cày cấy. Cảnh xuân, mới nhìn qua, thật là đẹp mắt, nào hoa lá tốt tươi, muôn chim đua hót; nào bầu trời quang đãng, gió xuân phơi phới. Cảnh tượng có vẻ thái bình, an lạc lắm.

Nhưng tâm hồn Thái Tử không phải là một tâm hồn hời hợt, xét đoán một cách nông nỗi. Trái lại, Ngài nhìn sâu vào trong cảnh vật và đau đớn nhận thấy rằng cõi đời không đẹp đẽ an vui như khi mới nhìn qua.

Ngài thấy người nông phu và trâu bò làm việc một cách cực nhọc dưới ánh nắng thiêu đốt, để đổi lấy bát cơm, nắm cỏ.

Chim chóc tranh nhau ăn tươi nuốt sống côn trùng đang giãy giụa trên những luống đất mới cày. Cũng trong lúc ấy, trong bụi rậm người thợ săn đang nhắm bắn những con chim kia, và trong khu rừng gần đấy, bọn hổ báo đang rình bắt người thợ săn.

Thật là một cảnh tương tàn tương sát, không phút giây nào ngừng! Chỉ vì miếng ăn để sống mà người và vật dùng đủ mọi phương kế để giết hại lẫn nhau không biết gớm. Ngài nhận thức rõ ràng sự sanh sống là khổ.

Một hôm khác, Ngài xin phép Vua cha đi dạo ngoài bốn cửa thành để được tiếp xúc với thần dân. Ra đến cửa Ðông, Ngài gặp một ông già tóc bạc, răng rụng, mắt lờ, tai điếc, lưng còng, nương gậy lần từng bước ngập ngừng như sắp ngã.

Ðến cửa Nam, Thái Tử thấy một người đau nằm trên cỏ, đang khóc than rên siết, đau đớn vô cùng.

Ðến cửa Tây, Ngài trông thấy một cái thây chết nằm giữa đường, ruồi lằng bu bám, và sình lên, trông rất ghê tởm.

Bốn cảnh khổ già, đau, chết, cộng thêm vào cái ấn tượng tương tàn trong cuộc sống mà Thái Tử đã nhận thấy khi đi xem lễ cày ruộng, làm cho Ngài đau buồn, thương xót chúng sanh vô cùng.


Một hôm khác nữa, Ngài ra cửa Bắc, gặp một vị tu sĩ tướng mạo nghiêm trang, điềm tĩnh thản nhiên như người vô sự đi ngang qua đường. Thái tử thấy trong lòng nảy sinh một cảm mến đối với vị tu sĩ. Ngài vội vã đến chào mừng và hỏi về ích lợi của sự tu hành. Vị Sa môn đáp rằng:

"Tôi tu hành là quyết bỏ dứt mọi sự ràng buộc của cõi đời, để cầu cho mình khỏi khổ và thành chánh giác để phổ độ chúng sanh đều được giải thoát như mình".

Lời giải đáp trúng với hoài bão mà Thái Tử đang ấp ủ bấy lâu, nên Ngài khôn xiết vui mừng. Ngài liền trở về cung xin vua cha cho mình xuất gia. Vua Tịnh Phạn không nhận lời. Thái Tử yêu cầu vua cha 4 điều nếu vua giải quyết được thì Ngài hoãn việc đi tu, để trở lại lo chăn dân, trị nước. Bốn điều ấy là:

•1. Làm sao cho con trẻ mãi không già
•2. Làm sao cho con mạnh mãi không đau
•3. Làm sao cho con sống hoài không chết
•4. Làm sao cho mọi người hết khổ
Bốn điều này làm cho vua cha bối rối, không giải quyết được điều nào cả.

14. Sự Xuất Gia Tìm Ðạo
Vua Tịnh Phạn , khi biết được ý định xuất gia của Thái Tử, lại càng lo sợ, lại tìm hết cách để ngăn cản, ràng buộc Ngài trong "Cung Vui". Nhưng một khi Thái Tử đã quyết thì không có sức mạnh gì ngăn trở được ý định của Ngài.

Một đêm khuya thừa dịp quân lính canh gác và cung phi mỹ nữ say ngủ sau một cuộc yến tiệc linh đình, Thái Tử lén trổi dậy, khi nhìn vợ con lần cuối, rồi đánh thức tên giữ ngựa Xa Nặc dậy, thắng yên cương, rồi hai thầy trò trốn ra khỏi thành. Lúc bấy giờ nhằm đêm mồng tám tháng hai, và Ngài được 19 tuổi.

Sau khi dứt bỏ khỏi cuộc đời vương giả, Thái Tử đi vào rừng sâu tìm Ðạo.

Ban đầu Ngài đến ở tu với các vị tu khổ hạnh. Nhưng hạng người này sống một cách kham khổ, nhịn ăn nhịn uống, dãi nắng, dầm sương, hành thân hoại thể một cách ghê rợn. Thấy cách tu hành như thế không có hiệu quả, Ngài khuyên các vị đó nên bỏ phương pháp tu hành ấy, nhưng họ không nghe.

Ngài lấy làm thương cho họ, bèn tìm đi nơi khác để tu hành. Ngài đi hết chỗ này đến chỗ khác, ở đâu nghe có một vị tu hành đắc đạo thì Ngài tìm đến học; nhưng đến đâu thì Ngài thấy đạo của họ vẫn còn hẹp hòi, thấp thỏi, không thể giải thoát cho con người hết khổ được.

Từ đấy Ngài tìm chốn tu tập một mình, đêm ngày nghiền ngẫm đến đạo giải thoát, quên ăn bỏ ngủ thân hình mỗi ngày mỗi tiều tụy. Một hôm Ngài kiệt sức, nằm ngã liệt trên cỏ, và được một người chăn cừu đến đổ sữa cho Ngài tỉnh lại. Từ đó Ngài nhận thấy nếu muốn tìm Đạo có kết quả, cần phải bổ dưỡng thân thể cho được mạnh khỏe, chứ không bỏ quên nó đi được.

Khi thấy mình đủ sức khỏe để chiến đấu trong trận cuối cùng với bóng tối si mê và dục vọng, và đem lại ánh sáng Giác ngộ, Ngài đến ngồi nhập định dưới gốc cây Bồ Ðề và thề rằng: "Nếu ta không thành đạo thì thịt nát sương tan, ta cũng quyết không rời chỗ này."

15. Thành Ðạo
Thái Tử đã ngồi nhập định 49 ngày đêm dưới gốc Bồ Ðề. Trong 49 ngày ấy Ngài đã chiến đấu với bọn giặc phiền não ở nội tâm như tham, sân, si, nghi, mạn...và chiến đấu với giặc Thiên Ma do Ma Vương Ba Tuần chỉ huy.

Sau khi thắng cả giặc ở nội tâm lẫn ngoại cảnh, tâm trí được khai thông, Ngài hốt nhiên đại ngộ.

Trong đêm thứ 49, vào canh hai, Ngài chứng được quả "Túc Mệnh Minh", thấy rõ được tất cả quá khứ của mình trong tam giới. Ðến nữa đêm, Ngài chứng được quả "Thiên Nhãn Minh", thấy được tất cả bản thể của vũ trụ và Ngài nguyên nhân cấu tạo của nó. Ðến canh tư, Ngài chứng được quả "Lậu tận Minh", rõ biết nguồn gốc của đau khổ và phương pháp dứt trừ đau khổ để được giải thoát khỏi sanh tử luân hồi.

Từ ngày ấy, Ngài được Ðạo vô thượng, thành bậc "Chánh Ðẳng Chánh Giác", hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngày thành đạo của Ngài tính theo âm lịch là ngày mồng 8 tháng 12, vào lúc sao mai mọc. Lúc ấy Ngài được 30 tuổi.

16. Ý Nghĩa Cao Cả Trong Sự Xuất Gia Tìm Ðạo Của Ðức PhậtNhững chiến sĩ chiến thắng quân địch ở ngoài chiến trường, thường được ca tụng là anh hùng. Càng chiến thắng được nhiều quân địch càng được hoan hô là anh hùng cái thế. Nhưng những kẻ anh hùng cái thế ấy, như Nã Phá Luân, Thành Cát Tư Hãn, Xê Ða (César), đã có ai chiến thắng được dục vọng của chính mình? Cho nên thắng người đã khó mà thắng mình lại càng khó hơn.

Ðức Phật đã thắng cả ngoại cảnh lẫn nội tâm, đã thắng được cả giặc Ma Vương lẫn giặc Dục Vọng. Ðức Phật thật xứng đáng với danh hiệu Ðại Hùng, Ðại Lực.

Ngài không phải vì quyền lợi riêng mình mà chiến đấu. Ngài chiến đấu vì tình thương. Mà tình thương ở đây cũng không phải chỉ nằm trong phạm vi hẹp hòi của gia đình: thương cha mẹ, vợ con, bạn bè. Tình thương ở đây là tình thương chúng sanh, tất cả cõi đời. Tình thương ấy nó rộng sâu như trời bể, thiết tha như tình mẹ thương con. Ðức Phật thật xứng đáng với danh hiệu Ðại Từ, Ðại Bi.

Lại tình thương ấy, Ngài đã hoan hỷ lìa bỏ ngôi báu cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, đàn hay múa đẹp, mùi ngon vị lạ để sống một cuộc đời kham khổ, đạm bạc, thiếu thốn, giữa rừng thiêng nước độc. Và một khi đã rời bỏ những thứ mà người đời cho là quý báu nói trên, Ngài không một phút giây nào hối tiếc, muốn quay về để hưởng thụ lại. Bằng cớ là Ma Vương đã sai con gái mình giả làm nàng Da Du đến kêu gọi van xin Ngài trở về cung, mà Ngài cũng không chút động tâm thối chuyển. Ngài xứng đáng với danh hiệu là Ðại Hỷ, Ðại Xả.

Cho nên ngày nay, mỗi khi xưng tán danh hiệu Ngài, chúng ta không thể không suy gẫm cái ý nghĩa sâu sắc và đúng đắn mà người đời từ xưa đến nay đã tôn xưng Ngài là Ðại Hùng, Ðại Lực, Ðại Từ, Ðại Bi, Ðại Hỷ, Ðại Xả.
30373_379530572130997_1017517996_n.jpg
30373_379530572130997_1017517996_n.jpg (83.17 KiB) Đã xem 1918 lần
Forum:

9. Ðịnh Nghĩa Hai Chữ: Giáng Sanh, Đản Sanh, Thị Hiện...
Bạn lựa trọn câu nào trùng hợp những chữ như trên: Nghĩa là từ một chỗ cao mà xuống một chỗ thấp; Nghĩa hiện ra bằng xương bằng thịt và Nghĩa sự ra đời vui vẽ.

Các chữ đầu thai, tái sanh, sanh lại là nói đến các hàng...!? :)

10. Hoàn Cảnh Và Dòng Dõi Của Ðức Thích Ca?
- Trước Tây lịch 624 năm. Ðức Phật giáng sinh ở nước Népal. (xứ Trung Ấn Ðộ); Thời thị hiện ở cõi đời xứ Ấn, Ngài là Thái Tử Tất Đạt Đa. Vua cha là Tịnh Phạn; Mẹ là Hoàng hậu Ma Da.

'Hoàng hậu Ma Da' sau khi sanh Thái Tử được bảy ngày, vui thú quá vì thấy mình đã làm tròn nhiệm vụ cao quý, và đã rửa sạch nghiệp báo nên Bà trút được xác phàm và sanh về cõi trời Ðao Lợi. Vua Tịnh Phạn giao Thái Tử cho em gái Hoàng hậu là Ma Ha Ba Xà Ba Ðề nuôi dưỡng.

11. Tài Năng Và Ðức Hạnh Của Thái Tử ? :)
- Nếu như bạn đọc Phật sử về tài năng và đức hạnh của Thái tử thì so lại trí tuệ của ta thật là nhỏ bé quá...:)

12. Những Ràng Buộc Của Tịnh Phạn Vương Ðể Ngăn Chí Xuất Gia Của Thái Tử ?
Là các sự vui thú thế gian, ràng buộc của gia đình như bao người khác. Là Công chúa con vua Thiện Giác là Da Du Ða La, một Công chúa tuyệt đẹp và đức hạnh vô cùng. Thái Tử bị bắt buộc phải lập gia thất và có một con là La Hầu La.

13. Nhận Ra Bốn Tướng Khổ Ở Ðời...!? :)

14. Sự Xuất Gia Tìm Ðạo, Ngài đã cùng ai đi theo đồng hành...!? :)

15. Thành Ðạo của Đức Phật Thích Ca thế nào...!? :)

16. Ý Nghĩa Cao Cả Trong Sự Xuất Gia Tìm Ðạo Của Ðức Phật ?
- Ðức Phật đã thắng cả ngoại cảnh lẫn nội tâm, đã thắng được cả giặc Ma Vương lẫn giặc Dục Vọng.
- Ngài cũng không phải vì quyền lợi riêng mình mà chiến đấu. Ngài chiến đấu vì tình thương cho nhân loại.

Cho nên ngày nay, mỗi khi xưng tán danh hiệu Ngài, chúng ta không thể không suy gẫm cái ý nghĩa sâu sắc và đúng đắn mà người đời từ xưa đến nay đã tôn xưng Ngài là Ðại Hùng, Ðại Lực, Ðại Từ, Ðại Bi, Ðại Hỷ, Ðại Xả.
Sửa lần cuối bởi Thien Nhan vào ngày 19/11/12 07:40 với 1 lần sửa.


Hình đại diện của người dùng
Thien Nhan
Bài viết: 2574
Ngày: 27/03/10 05:07
Giới tính: Nam

Re: Thư giãn học Phật

Bài viết chưa xem gửi bởi Thien Nhan »

Phật học phổ thông.I.02: Lược sử Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni

17. Kết Luận

Chúng Ta Nên Phát Tâm Rộng Lớn Và Mạnh Mẽ

Chúng ta đã được biết qua đời sống của Ðức Phật từ khi sơ sinh cho đến thành đạo. Bài học của đời Ngài dạy cho chúng ta nhiều ý nghĩa, nhiều phương diện quý báu.

Nhưng điều quý báu nhất đối với những kẻ sơ cơ như chúng ta là phải phát tâm Bồ Ðề rộng lớn, nguyện vì đời, vì đồng bào, đồng loại mà tu hành, chứ không phải chỉ vì lợi ích riêng cho mỗi cá nhân chúng ta.

Chúng ta lại phải phát tâm dõng mãnh, tích cực trong sự tu hành; một khi vào đường đạo, thì dù gặp nguy nan, hiểm trở khó khăn cũng nhất quyết không thối lui quay gót. Chúng ta phải tập cho được cái đức kiên chí như Ðức Phật khi ngồi thiền định dưới gốc Bồ Ðề.

Ðược như vậy mới xứng đáng là "chân chánh Phật tử".
6231_369440269813600_2094715906_n.jpg
6231_369440269813600_2094715906_n.jpg (46.58 KiB) Đã xem 1915 lần
Forum:

Bài kết luận PHPT về Lược sử Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni tới đây là hết. Giúp cho ta biết được khái niệm và lòng tin nơi Tam bảo và cuộc đời của Đức Từ Phụ, từ lúc Sơ sinh cho đến Thành Đạo...

Sau đó Cố HT. Khuyến tấn hai điều:

1. Vì chúng sanh, đồng loại mà phát bồ đề tâm rộng lớn.
2. Vì Đạo mà ta không ngại khó khăn dượt qua. Như vậy mới thật xứng đáng là "Chân chánh Phật tử". Nhưng ngày nay, vật chất quá đầy đủ. Nhất là cư sĩ tại gia thì bận rộn đủ thứ việc, không biết là có dượt qua các sự thử thách này hay k...!? :)
Sửa lần cuối bởi Thien Nhan vào ngày 19/11/12 07:49 với 1 lần sửa.


Hình đại diện của người dùng
Thien Nhan
Bài viết: 2574
Ngày: 27/03/10 05:07
Giới tính: Nam

Re: Thư giãn học Phật

Bài viết chưa xem gửi bởi Thien Nhan »

Phật học phổ thông.I.03: Thành đạo đến nhập Niết bàn

A- MỞ ĐỀ:

Trong bài trước chúng ta đã thấy Ðức Phật Thích Ca vì một đại nguyện lớn lao, vì một lòng từ bi vô bờ bến mà xuất gia tìm Ðạo. Ðại nguyện và lòng từ bi lớn lao ấy là: "Cầu thành Phật quả để trên đền đáp bốn ơn sâu, dưới cứu vớt ba đường khổ".

Cho nên sau khi giác ngộ, Ngài không vội nhập Niết bàn, mà nghĩ ngay đến sứ mạng của Ngài là: Thay thế chư phật đời trước, tiếp tục chuyển mê khai ngộ cho tất cả mọi người.

Sứ mạng ấy Ngài biết trước không phải dễ dàng, vì cái Ðạo của Ngài thì cao thâm huyền diệu, mà chúng sanh căn cơ lại không đều, và từ muôn kiếp đã lặn hụp trong si mê lầm lạc, khó có thể nhận hiểu được ngay ý nghĩa cao thâm của Giáo lý Ngài. Chúng sanh từ lâu đời lâu kiếp quen sống trong bóng tối của si mê, ngày nay chắc không khỏi choá mắt, hoảng sợ khi tiếp xúc với ánh sáng bừng chói của trí tuệ. Nhưng Ngài xét biết rằng mặc dù sống trong tăm tối, nhưng mỗi chúng sanh đều có mầm Phật tánh, như hoa sen, mặc dù sống trong bùn tanh hôi, nhưng vẫn tỏa nhụy vàng thơm ngát. Ngài cương quyết thực hiện sứ mạng của mình.

B - Chánh Ðề

18 - Sự Hóa Ðộ Rộng Lớn Và Cùng Khắp Của Ðức Phật

Sứ mạng hóa độ của Ðức Phật, như chúng ta đã biết, thật nặng nề và khó khăn. Nhưng nhờ trí tuệ sáng suốt, lòng từ bi rộng sâu, nhờ tinh thần bình đẳng triệt để và nhờ ý chí dũng mãnh không thối chuyển, mà Ðức Phật đã hoàn thành sứ mạng của mình một cách viên mãn. Trong khi hóa độ, Ngài đã dựa theo ba nguyên tắc sau đây:

1. Hóa độ theo thứ lớp căn cơ.
2. Hóa độ tùy phương tiện.
3. Hóa độ theo tinh thần bình đẳng.
230114_174900645982982_993128251_n.jpg
230114_174900645982982_993128251_n.jpg (64.85 KiB) Đã xem 1915 lần
Forum:

Hoá độ nghĩa là gì?
- Hoá là cảm hoá, độ là làm, giúp đở. Hoá độ là cảm hoá, giúp một chúng sanh đang đi trên con đường sai lạc, lầm lở trở về con đường chánh nghĩa.v.v. Chỉ có Đức Phật Thích Ca là dùng từ Hoá Độ chúng sanh.
Ngày nay, Quí Thầy ít sử dụng từ này để nói với chúng đệ tử hay các người chưa từng hiểu Đạo Phật. Quí Thầy thường sử dụng từ Thuyết Pháp, giảng Pháp, giải nghi.v.v. Nhưng có số người lạm dụng hoặc vô tình dùng từ "Hoá độ"...

1. Hoá độ thường dùng danh từ này trong thời điểm nào của thế hệ đời thường...!? :)

Nhưng ở forum thì không thể dùng từ thuyết pháp, giảng pháp thì có vẽ là hơi cao cao. Bởi bạn chưa phải là danh sư...!? :D Do đó hợp nhất là tham khảo, thảo luận, luận bàn, chia sẽ, lời bàn, giải nghi... Trong đây bạn lựa chọn và điền vào danh từ nào cho hợp với câu 2, 3, và 4.

2...theo thứ lớp căn cơ?

3...tùy phương tiện?

4...theo tinh thần bình đẳng?
Sửa lần cuối bởi Thien Nhan vào ngày 20/11/12 12:38 với 1 lần sửa.


Hình đại diện của người dùng
Thien Nhan
Bài viết: 2574
Ngày: 27/03/10 05:07
Giới tính: Nam

Re: Thư giãn học Phật

Bài viết chưa xem gửi bởi Thien Nhan »

Phật học phổ thông.I.03: Thành đạo đến nhập Niết bàn

19. Hóa độ theo thứ lớp căn cơ.
Khi bắt đầu đi truyền Ðạo, ý nghĩ trước tiên của Ngài là đến vườn Lộc Uyển tìm mấy người bạn đồng tu với Ngài trước kia để thuyết pháp. Mấy người bạn ấy là các ông: Kiều Trần Như, A súc Bệ, Thập Lực, Ma Ha Nam và Bạc Ðề.
Bài thuyết pháp đầu tiên ấy là Tứ diệu đế. Năm vị nầy đều được khai ngộ, và trở thành 5 đệ tử đầu tiên của Phật. Kế đó Phật thuyết luôn ba tháng cho 55 người Bà-la-môn, mà người đứng đầu là ông Da-Xá, 55 người nầy đều xin qui y theo Phật, và hợp với 5 người trong nhóm ông Kiều Trần Như thành 60 đệ tử, 60 đệ tử này sau khi giữ đúng giới luật, được Phật thọ ký cho đi truyền Ðạo khắp nơi.


Ðức Phật rời vườn Lộc-uyển đi về phía Nam đến xứ Ưu lầu tần loa và hàng phục một vị tổ sư rất có uy tín của Ðạo Thờ Lửa là ông Ma Ha Ca Diếp và hai người em của Ông Ca Diếp mang tất cả đồ đệ của mình là 1,250 vị, xin qui y theo Phật.


Nhớ lại lời hẹn xưa với vua Tần-bà-xa-la, Ngài đến xứ Ma kiệt đà vào thành Vương xá để độ cho vua. Vua Tần bà xa la gặp lại Ngài, vui mừng khôn xiết, truyền xây cất tịnh xá Trúc lâm, để thỉnh Phật và chư Tăng ở lại thuyết Pháp độ sanh.


Trong lúc Phật ở tịnh xá Trúc lâm, thì vua Tịnh Phạn nghe tin Ngài đã thành Phật, truyền sứ giả đi thỉnh Ngài về thành Ca tỳ la vệ. Nhưng 9 lần 9 sứ giả đi đều biệt tăm, không trở lại. Thì ra những người này khi đến Trúc lâm tịnh xá nghe Phật thuyết pháp, đã say mê quên sứ mạng của mình và xin thọ giới xuất gia.

Lần thứ 10, Tịnh Phạn vương sai một cận thần thân tín là Ưu Ðà Di, mới thỉnh được Phật về. Trên đường từ thành Vương xá trở về Ca tỳ la vệ, Ðức Phật đã thuyết pháp độ cho không biết bao nhiêu người. Về thành Ca tỳ la vệ, Ngài ở lại 7 ngày. Mặc dù chỉ trong thời gian ngắn ngủi ấy, Ðức Phật đã cảm hóa tất cả dòng họ Thích và tất cả những người trong dòng họ này đều xin qui y và một số lớn xin xuất gia theo Phật, như các ông: Nan Ðà, A Nan Ðà, A Nậu Lâu Ðà, La Hầu La...

Sau khi trở về thăm gia đình và quê hương, Ðức Phật cùng các đệ tử lại tiếp tục đi truyền Ðạo. Ngài đi đến thành Xá-Vệ là kinh đô nước Kiều tát la, thuộc quyền thống trị của vua Ba-tư-Nặc. Ở thành này có một vị đại thần tên là Tu-Ðạt-Ða, giàu lòng bố thí cho những kẻ bần cùng côi cút, nên được gọi danh hiệu là Trưởng giả cấp cô độc. Ông rất ngưỡng mộ Ðức Phật nên đã trút hết tất cả tiền của vàng bạc trong kho ra mua khu vườn rộng lớn của Thái tử Kỳ Ðà để làm tịnh xá cho Phật và đệ tử của Ngài ở, thuyết pháp độ sanh.


Ðược ít lâu nghe tin vua Tịnh-Phạn đau nặng, sắp băng hà, Ðức Phật vội trở về thăm cha lần cuối cùng. Thấy phụ thân buồn rầu trên giường bịnh Phật thuyết về "Lý vô-thường, khổ, không, vô ngã" cho vua nghe. Nghe xong ,vua liền dứt phiền não, gương mặt vui tươi, cất tiếng niệm Phật, rồi băng hà một cách êm ái.


Sau khi Tịnh-Phạn-Vương mất, bà mẹ nuôi của Phật là Ma Ha Ba Xà Ba Ðề và bà Da Du Ðà La cùng nhiều người bên nữ giới họ Thích xin được phép xuất gia. Từ đó trong Ðạo Phật lần đầu tiên có hàng Tỳ Kheo Ni.


Ðức Phật cùng các đệ tử lại tiếp tục đi truyền Ðạo, đi đến đâu Ngài cũng được sùng mộ, tin theo và nhiều người noi theo gương của ông Cấp Cô Ðộc lập Tịnh Xá, cất giảng đường để Ngài thuyết pháp độ sanh.

Như thế chúng ta thấy Ðức Phật đã tuần tự hóa độ và kết nạp đệ tử, từ những hạng người đủ căn trí dễ hiểu thấu giáo lý của Ngài rồi mới rộng ra những người khác; Lập Tỳ Kheo trước rồi Tỳ Kheo Ni sau.

20. Hóa độ tùy phương tiện.
Trong suốt thời gian đi thuyết pháp độ sanh, lắm khi Ðức Phật cũng gặp nhiều cảnh gay go trái ngược do lòng đố kị của ngoại đạo, tà giáo, hay lòng ganh ghét của nội thân quyến thuộc gây ra. Nhưng lúc nào Ngài cũng tuỳ phương tiện để cảm hóa họ, và đưa họ về đường ngay lẽ phải. Chẳng hạn, khi thì Ngài bị cô gái con ngoại đạo độn bụng giả có chửa đến giữa Ðạo tràng để vu oan cho Ngài;

khi thì Ngài bị anh chàng Vô não đuổi theo quyết giết Ngài để lấy ngón tay góp thêm cho đủ số một ngàn ngón mà nó đã giết người để lấy, vì theo thuyết tà đạo, nó tin rằng có làm được như thế mới chứng quả;

khi thì Phật bị Ðề Bà Ðạt Ða, người em họ hung ác, âm mưu hãm hại Phật bằng cách thả voi say cho chạy đến chà đạp Phật, hay lăn đá to từ trên núi xuống đè Phật.


Nhưng tất cả những âm mưu ấy đều vô hiệu quả, vì oai đức uy danh và trí huệ của Phật bao bọc Phật, không một hành động xấu xa nào có thể thắng Phật được. Ngài có đủ phương tiện khôn ngoan khéo léo, xoay chiều đổi hương dễ dàng, hoán cải được tất cả nghịch cảnh trở thành thuận lợi. Và cuối cùng kẻ khinh ghét Ngài trở lại kính mến Ngài; người chống ngài trở lại phục Ngài; kẻ ngoại đạo trở thành phật tử. Bằng chứng là: Ðề Bà Ðạt Ða cũng được Phật thọ ký; anh chàng Vô Não cũng được qui y; bầy voi say cũng được sám hối; Vua A Xà Thế cũng hối cải và quay về đường ngay.


Nói tóm lại, Ðức Phật có đủ muôn ngàn phương tiện thích ứng với mọi người, mọi vật, mọi hoàn cảnh để hóa độ tất cả những ai mà Ngài gặp trên đường truyền Ðạo của Ngài. Không phải chỉ ở ngoài đời, mà trong Giáo hội của Ngài, Ngài cũng tùy theo căn cơ, tâm lý của mỗi đệ tử mà áp dụng phương pháp thích hợp. Chẳng hạn như đối với ông Nan Ðà, mặc dù thân đã xuất gia, mà tâm vẫn muốn ngao du, luyến ái bạn bè, Ngài dùng thần thông để đưa ông lên cõi trời xem những cảnh sống tốt đẹp, vui thú khác thường, rồi đưa ông xuống địa ngục mục kích những hình phạt đau đớn, rùng rợn hãi hùng để ông so sánh hai cảnh đời trái ngưọc nhau mà tự chọn lấy một đường.


Còn đối với ông A-Nan, người học rộng nghe nhiều, nhưng vì nghiệp duyên còn nặng, nên mắc nạn "Ma Ðăng Già", thì Phật lại đem giáo lý thâm sâu là Kinh Lăng-Nghiêm ra giảng dạy để cho ông A-Nan thấy rõ được cái quí giá của chân tâm mà lo tu luyện, chứ không giong ruổi theo giả cảnh nữa.


Xem như thế thì Ðức Phật đã dùng phương tiện để tùy duyên hóa độ, như ông lương y giỏi tùy bịnh cho thuốc, chứ không nhất thiết phải theo một đường lối cố định nào cả. Ðối với kẻ thân, người thù, đối với kẻ thông minh hay người ngu độn, đối với kẻ giàu, người nghèo, Ngài đều có đủ pháp môn cho họ khai ngộ và quy y theo Ngài.

21. Hóa độ theo tinh thần bình đẳng. Tinh thần triệt để bình đẳng là một điểm son quí giá nhất trong giáo lý của Ðức Phật, cũng như trong tâm hồn Ngài. Ngay từ khi còn ấu thơ, tinh thần ấy đã được bộc lộ trong những cử chỉ cứu giúp những kẻ bần cùng, những con vật lâm nạn, như chúng ta đã thấy trong bài trước.


Khi thành Ðạo, tinh thần bình đẳng ấy lại bộc lộ rõ ràng hơn nữa. Ngài đã có những câu nói bất hủ, khiến cho ngày nay, người ta vẫn đem ra làm khuôn vàng thước ngọc, như khi Ngài xin nước của một người thuộc giai cấp hạ tiện nhất Ấn-độ, người nầy sợ làm lây ô-uế cho Ngài, thì Ngài phán bảo:

"không có giai cấp trong giọt máu cùng đỏ, trong nước mắt cùng mặn. Mỗi người sanh ra đều có Phật tánh và có thể thành Phật".


Trong Giáo hội của Ngài, Ngài nhận cả những người thuộc giai cấp hạ tiện. Như ông Ưu Ba Ly, một đệ tử của Ngài có tiếng tăm về giới luật, lại là một người thuộc giới hạ tiện Chiên đà la, làm nghề gánh phân. Sự thâu nhập ấy đã làm cho các vị vua chúa bất mãn. Chính vua Ba Tư Nặc đã bạch Phật:" Ðấng Chí Tôn thâu nhận kẻ hèn hạ vào hàng Tăng Ðồ như vậy, không ngại rằng đá sỏi lẫn lộn với châu ngọc, làm mất giá trị của chúng Tăng sao?"

Phật dạy rằng:

"Người hèn hạ mà biết phát tâm Bồ Ðề, xuất gia tu hành, chứng được quả Thánh, thì quí báu vô cùng, chẳng khác gì hoa sen mọc ở bùn lầy nhơ bẩn mà vẫn tinh khiết thơm tho".

"Một người sanh ra không phải liền thành Bà la môn (giai cấp trên hết) hay Chiên đà la (giai cấp thấp nhất) mà chính vì sở hành của người ấy, tạo thành Chiên đà la hay Bà la môn".

Ngài xâu giùm kim cho người mù, hoan hỷ nhận hòn đất sét mà đứa bé đã nắn để dâng Ngài, thọ lãnh bữa cơm cuối cùng do người thợ đốt than nghèo nàn dâng cúng. Chính vì sự hóa độ bình đẳng như thế, mà kinh Ðại Niết-Bàn đã tán thán:


-"Ðức Như Lai không chỉ thuyết pháp cho hạng người quyền quí như vua Bạc Ðề Ca, mà cũng thuyết pháp cho hạng người bần cùng như ông Ưu Ba Ly;

không riêng thọ lãnh sự cúng dường của những người giàu có như ông Tu Ðạt Ða, mà cũng thọ lãnh sự cúng dường của các hạng nghèo khổ như ông Thuần Ðà;

không riêng cho phép xuất gia các hạn không có tánh tham như Ngài Ca Diếp, mà cũng cho phép xuất gia những người có nhiều tánh tham như ông Nan Ðà;

không những thuyết pháp cho hạng người an tịnh không dự việc đời, mà cũng thuyết pháp cho vua Tần Bà Sa La trong lúc đang bận rộn việc nước;

không những thuyết pháp cho hạng thanh niên trẻ tuổi, mà cũng thuyết pháp cho ông già 80 tuổi;

không những thuyết pháp cho bà hoàng hậu Ma La, mà cũng thuyết pháp cho dâm nữ Liên Hoa".
207602_229152717215249_1040104445_n.jpg
207602_229152717215249_1040104445_n.jpg (27.8 KiB) Đã xem 1908 lần
Forum:

19. Hóa độ theo thứ lớp căn cơ.
Tức tuỳ căn tánh nơi người, tuỳ địa điểm, thời cơ mà Ngài hoá độ (thuyết pháp). Nhóm đầu tiên là: Kiều Trần Như, A súc Bệ, Thập Lực, Ma Ha Nam và Bạc Ðề. Giảng pháp đầu tiên là Tứ Diệu Đế...
Các bạn có biết vị đệ tử cuối cùng của Đức Phật là...!? :)

20. Hóa độ tùy phương tiện.
Là những việc đụng chạm, tiếp xúc với người ngoại đạo, người có những cá tánh tà đạo, những kẻ ác tâm...Như :-?
-khi thì Ngài bị cô gái con ngoại đạo độn bụng giả có chửa đến giữa Ðạo tràng để vu oan cho Ngài;

- khi thì Ngài bị anh chàng Vô não đuổi theo quyết giết...

- khi thì Phật bị Ðề Bà Ðạt Ða, người em họ hung ác, âm mưu hãm hại Phật...

Nói tóm lại, Ðức Phật có đủ muôn ngàn phương tiện thích ứng với mọi người, mọi vật, mọi hoàn cảnh để hóa độ tất cả những ai mà Ngài gặp trên đường truyền Ðạo của Ngài. Không phải chỉ ở ngoài đời, mà trong Giáo hội của Ngài, Ngài cũng tùy theo căn cơ, tâm lý của mỗi đệ tử mà áp dụng phương pháp thích hợp.

Chẳng hạn như đối với ông Nan Ðà, mặc dù thân đã xuất gia, mà tâm vẫn muốn ngao du, luyến ái bạn bè, Ngài dùng thần thông để đưa ông lên cõi trời xem những cảnh sống tốt đẹp, vui thú khác thường, rồi đưa ông xuống địa ngục mục kích những hình phạt đau đớn, rùng rợn hãi hùng để ông so sánh hai cảnh đời trái ngưọc nhau mà tự chọn lấy một đường.

Còn đối với ông A-Nan, người học rộng nghe nhiều, nhưng vì nghiệp duyên còn nặng, nên mắc nạn "Ma Ðăng Già", thì Phật lại đem giáo lý thâm sâu là Kinh Lăng-Nghiêm ra giảng dạy để cho ông A-Nan thấy rõ được cái quí giá của chân tâm mà lo tu luyện, chứ không giong ruổi theo giả cảnh nữa.

Ngày nay, chúng ta tài hèn, trí kém thì trăm vạn lần cũng không so sánh những hành động. Đại Từ, Đại Bi, Đại Trí như Đức Phật. Nhưng bạn có thể giúp đở những người gần nơi bạn bằng gì nhỉ...!? :D

21. Hóa độ theo tinh thần bình đẳng.
- Về giai cấp: Ngài thuyết "không có giai cấp trong giọt máu cùng đỏ, trong nước mắt cùng mặn. Mỗi người sanh ra đều có Phật tánh và có thể thành Phật".

- Hoặc Phật dạy: "Người hèn hạ mà biết phát tâm Bồ Ðề, xuất gia tu hành, chứng được quả Thánh, thì quí báu vô cùng, chẳng khác gì hoa sen mọc ở bùn lầy nhơ bẩn mà vẫn tinh khiết thơm tho".

"Một người sanh ra không phải liền thành Bà la môn (giai cấp trên hết) hay Chiên đà la (giai cấp thấp nhất) mà chính vì sở hành của người ấy, tạo thành Chiên đà la hay Bà la môn".

kinh Ðại Niết-Bàn đã tán thán:

-"Ðức Như Lai không chỉ thuyết pháp cho hạng người quyền quí như vua Bạc Ðề Ca, mà cũng thuyết pháp cho hạng người bần cùng như ông Ưu Ba Ly;

không riêng thọ lãnh sự cúng dường của những người giàu có như ông Tu Ðạt Ða, mà cũng thọ lãnh sự cúng dường của các hạng nghèo khổ như ông Thuần Ðà;

không riêng cho phép xuất gia các hạn không có tánh tham như Ngài Ca Diếp, mà cũng cho phép xuất gia những người có nhiều tánh tham như ông Nan Ðà;

không những thuyết pháp cho hạng người an tịnh không dự việc đời, mà cũng thuyết pháp cho vua Tần Bà Sa La trong lúc đang bận rộn việc nước;

không những thuyết pháp cho hạng thanh niên trẻ tuổi, mà cũng thuyết pháp cho ông già 80 tuổi;

không những thuyết pháp cho bà hoàng hậu Ma La, mà cũng thuyết pháp cho dâm nữ Liên Hoa".

Với bạn hiện nay thì thể hiện "Sự bình đẳng như thế nào...!?" :) (Thiện Nhàn)
Sửa lần cuối bởi Thien Nhan vào ngày 20/11/12 12:44 với 1 lần sửa.


Hình đại diện của người dùng
Thien Nhan
Bài viết: 2574
Ngày: 27/03/10 05:07
Giới tính: Nam

Re: Thư giãn học Phật

Bài viết chưa xem gửi bởi Thien Nhan »

Phật học phổ thông.I.03: Thành đạo đến nhập Niết bàn

22.Năm Thời Kỳ Nói Kinh

Tóm lại, trong một đời của Ðức Phật, tùy theo trình độ của mọi người mà thuyết pháp giáo hóa, mãi đến khi Ngài nhập diệt, cộng là 49 năm. Những Kinh Pháp của Ngài nói ra, về sau các đệ tử kết tập chia ra làm năm thời:

22.1.Thời thứ nhất nói Kinh Hoa-Nghiêm

Khi Phật mới thành Ðạo, ở tại cội Bồ Ðề, nói Kinh Hoa Nghiêm 21 ngày. Vạch rõ chân tánh, chỉ bày chỗ cao sâu mầu nhiệm của Ðạo Phật, chủ đích có hai điều:

•a) Dẫn dắt các bậc Bồ tát lên địa vị Ðẳng giác và Diệu giác.
•b) Nêu bày giáo pháp rốt ráo của Như Lai, chỉ có Phật với Phật mới hiểu rõ mà thôi; Ngoài ra hàng hữu học ngồi nghe nhu đui, như điếc, huống chi ngoại đạo, tà giáo làm sao hiểu nổi! Ðức Phật trình bày giáo pháp siêu việt tuyệt vời ấy.

22.2.Thời thứ hai Phật nói Kinh A-Hàm

Trong hệ Phật Giáo Nam Tông là bộ Kinh tạng Nikàya Pàli
Trong hệ Phật Giáo Bắc Tông là bộ kinh A Hàm (Hán tạng)

Biết rằng: "Muốn đi xa phải do nơi gần, muốn lên cao phải từ nơi thấp", Ðức Thích Ca y theo chư Phật mà nói pháp Tam thừa. Vì vậy thời thứ hai, Ngài nói Kinh A Hàm trọn 12 năm, dùng thí dụ thực tế, chỉ rõ chân lý cho hàng Hữu học dễ nhận, mà lo bề tự tu và tự độ.

22.3.Thời thứ ba Phật nói Kinh Phương Ðẳng.
Ðạo Phật chẳng những dạy pháp giác ngộ phần mình mà Ngài còn chỉ bày phương pháp giác tha nữa, tức là khuyến khích từ cái giác ngộ cho hàng Hữu học, để tiến lên cái giác ngộ tích cực bao la của Phật giáo Phát triển. Ấy là thời nói Kinh Phương Ðẳng trọn 8 năm, dẫn dắc cho hàng tứ chúng đệ tử.

22.4.Thời thứ tư Phật nói Kinh Bát Nhã.
Ðến khi Ðức Phật xem căn cơ của chúng sanh có thể tiến lên một từng cao nữa là hấp thụ được hoàn toàn giáo pháp Ðại thừa, nên Ngài chỉ bày Ðạo lý chân không của Vũ trụ, thuyết minh cái thật tướng, vô tướng của các pháp. Ấy là thời kỳ nói Kinh Bát Nhã trọn 22 năm.

22.5.Thời thứ năm Phật nói Kinh Pháp Hoa và Niết Bàn.
Sự hóa độ một đời của Ðức Phật gần viên mãn, thêm thấy căn cơ của chúng sanh đã thuần thục, có thể gánh vát Chánh pháp của Như Lai, nên Ngài bèn nói rõ bản hoài của Ngài thị hiện ra đời là vì một nguyên nhân lớn: "Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến". Ngài phú chúc, thọ ký cho các hàng đệ tử, tương lai sẽ thành Phật. Ấy là thời nói Kinh Pháp Hoa và Kinh Niết Bàn trọn 8 năm. Ðến đây nhiệm vụ thuyết pháp độ sanh của đời Ngài đã viên mãn.

Tóm lại 5 thời thuyết pháp Cổ nhơn có làm bài kệ như sau:

Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhựt
A-Hàm thập nhị Phương Ðẳng bát
Nhị thập nhị niên Bát Nhã đàm
Pháp Hoa Niết Bàn cộng bát niên.
DỊCH NGHĨA
Trước nói Hoa Nghiêm hăm mốt ngày
A-Hàm mười hai, Phương Ðẳng tám
Hai mươi hai năm nói Bát Nhã
Pháp Hoa Niết Bàn cộng tám năm.
:) :) :)
542646_222860614514493_1918763680_n.jpg
542646_222860614514493_1918763680_n.jpg (18.12 KiB) Đã xem 1908 lần
Forum:

Năm thời thuyết Pháp, của Cổ Đức có ghi chép bên sách Thiền, Nhưng tôi không có nhớ được là vị Thiền Sư nào. Và từ bấy lâu tôi cũng có tham khảo rất nhiều về kinh hệ Pali thi cũng không có nói tới trường hợp năm thời thuyết Pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Nhưng có một điều này để quí vị nhận xét. Cả hai hệ Thượng tọa bộ, và Đại chúng bộ (Phật giáo Đại thừa) điều cùng một Phật Giáo Nguyên Thủy là...
* Phật Giáo Nam Tông là bộ Kinh tạng Nikàya Pàli
* Phật Giáo Bắc Tông là bộ kinh A Hàm (Hán tạng)

Phật thuyết pháp cho chúng đệ tử, đầu tiên là 5 anh em Kiều Trần Như...Pháp Tứ Diệu Đế.

Quí vị nghi vấn:

Thời thứ nhất, Khi Phật mới thành Ðạo, ở tại cội Bồ Ðề, nói Kinh Hoa Nghiêm 21 ngày...!? :)

Tất cả điều có nguyên nhân, về Phật sử thì có ai chứng minh cái sự thật. Mà tìm cái sự thật có giúp ta đắc được nhân tâm thì tìm, còn không được thì đâu có cần thuyết trong việc học đạo...!? :) (Thiện Nhạn)
Sửa lần cuối bởi Thien Nhan vào ngày 20/11/12 12:50 với 1 lần sửa.


Hình đại diện của người dùng
Luuuuuuuuuuuu
Bài viết: 385
Ngày: 01/03/09 20:21
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia

Re: Thư giãn học Phật

Bài viết chưa xem gửi bởi Luuuuuuuuuuuu »

Thien Nhan đã viết: Thời thứ nhất, Khi Phật mới thành Ðạo, ở tại cội Bồ Ðề, nói Kinh Hoa Nghiêm 21 ngày...!? :)

Tất cả điều có nguyên nhân, về Phật sử thì có ai chứng minh cái sự thật. Mà tìm cái sự thật có giúp ta đắc được nhân tâm thì tìm, còn không được thì đâu có cần thuyết trong việc học đạo, hè hè...!? :)
Dù sao, có người thì phải có Phật sử thì mới tin, có người thì coi cái thực tế hiệu quả của kinh thì tin, có người thì phải cả 2 mới tin, có người thì không tin dù có cả 2 vì Phật pháp với khoa học còn điểm chưa đồng nên chưa tin, mỗi người mỗi duyên, nhưng cũng nên an tâm, vì có hay không thì Sự và Lý đều là như vậy, Tâm nhận biết là nhân duyên, mà nhân duyên cũng có lúc dẫn đến có hoặc không tin.

Kính!


Tánh tất cả pháp không có ngã
Dường như tiếng vang trong hang núi
Đều từ các duyên hoà hiệp sanh
Tất cả chúng sanh bổn vô tánh
Không có tác giả không thọ giả


Kinh Pháp Hội Vô Tận Ý Bồ Tát
Trả lời

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.6 khách